GIỚI HẠN SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI NGÂN HÀNG CHƯA NIÊM YẾT

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, ngoài việc phải tuân theo quy định của pháp luật chung, còn phải thực hiện quy định của pháp luật về ngân hàng. Hiện nay, quy định của pháp luật về ngân hàng còn có những bất cập, hạn chế, nên giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại chưa niêm yết đang có những ý kiến khác nhau về cả lý luận và thực tiễn.

1/. Khó kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi IPO của ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa

Cho đến nay, có 02 trên tổng số 05 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước đã chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank). Việc cổ phần hoá 03 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước còn lại (Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – MHB, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank) thực hiện theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thực hiện quy định của pháp luật về cổ phần hoá, trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), Vietcombank và Vietinbank đã công bố giá trị doanh nghiệp và số cổ phần được bán lần đầu ra công chúng. Tổ chức được ủy quyền bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng của Vietcombank và Vietinbank là Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE). Quy chế bán đấu giá cổ phần lần đầu của Vietcombank và Vietinbank do HoSE ban hành đều quy định tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua tối đa bằng 30% tổng số cổ phần được bán ra. Tuy nhiên, giới hạn sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietcombank hoặc Vietinbank theo quy định trên đây là rất khó kiểm soát vì các lý do sau đây:

Continue reading

CÔNG ƯỚC TOÀN CẦU VỀ BẢN QUYỀN

(Được sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971)

Xuất phát từ nguyện vọng bảo đảm các quyền về bản quyền tại tất cả các nước trên thế giới đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật.

Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền thích hợp với mọi quốc gia trên thế giới được thể hiện qua một Công ước Toàn cầu mang tính chất bổ sung và không gây tổn hại đến các hệ thống bản quyền quốc tế hiện sẽ có sự bảo đảm tôn trọng quyền của các cá nhân và khuyến khích sự phát triển của văn học, khoa học và nghệ thuật.

Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền toàn cầu như vậy sẽ thúc đẩy phổ cập rộng rãi hơn các tác phẩm trí tuệ và tăng cường sự hiểu biết quốc tế.

Các nước tham gia Công ước quyết định sửa đổi Công ước Toàn cầu về bản quyền tại Geneva ngày 6 tháng 9 năm 1952 và tiếp theo đó đã thoả thuận như sau:

Điều 1. Mỗi nước tham gia Công ước cam kết bảo đảm việc bảo hộ các quyền của các tác giả và những người sở hữu bản quyền khác của các tác giả và những người sở hữu bản quyền khác về văn học, khoa học và nghệ thuật bao gồm các tác phẩm viết, các tác phẩm âm nhạc, kịch, điện ảnh, các tranh vẽ, khắc và điêu khắc.

Điều 2.

1. Ngoài sự bảo hộ bản quyền đặc biệt do Công ước này mang lại các tác phẩm được công bố của công dân của bất kì nước nào tham gia Công ước và các tác phẩm được công bố lần đầu ở nước đó còn được hưởng tại các nước tham gia Công ước khác sự bảo hộ bản quyền mà các nước này áp dụng đối với các tác phẩm của các công dân của mình lần đầu tiên được công bố trong lãnh thổ của mình.

2. Ngoài sự bảo hộ bản quyền đặc biệt do Công ước này mang lại, các tác phẩm còn chưa được công bố của công dân mỗi nước tham gia Công ước còn được hưởng tại các nước tham gia Công ước khác sự bảo hộ bản quyền mà các nước này áp dụng đối với các tác phẩm còn chưa được công bố của các công dân của mình.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3879/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THANH TOÁN TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Trả lời các công văn số 1874/DKVN-TCNS ngày 24/6/2009 và số 2149/DKVN-TCNS ngày 16/7/2009 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc chấm dứt hợp đồng lao động và thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Đối với trường hợp giải thể công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên để thành lập công ty cổ phần và chuyển toàn bộ số lao động từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần thì khi tiến hành giải thể, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động theo điểm đ, khoản 1, Điều 38 của Bộ luật Lao động và điểm a, khoản 2, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định.

2. Đối với Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt – Xô (VSP) chấm dứt hoạt động vào ngày 31/12/2010 để thành lập Công ty TNHH 2 thành viên Vietsovpetro và tất cả các hợp đồng lao động cũng có thời gian chấm dứt theo thỏa thuận vào ngày 31/12/2010 thì khi chấm dứt hoạt động, VSP thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động khoản 1, Điều 36 hoặc điểm đ, khoản 1, Điều 38 của Bộ luật Lao động, điểm a, khoản 2, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên và thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định (kể cả đối với người lao động chuyển sang làm việc Công ty TNHH 2 thành viên Vietsovpetro).

3. Cách tính trả trợ cấp thôi việc cụ thể thực hiện theo quy định và hướng dẫn tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên và Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TẦU BAY

(Ký tại Geneva ngày 19.6.1948)

Xét rằng Hội nghị hàng không dân dụng quốc tế được tổ chức tại Chicago trong tháng 11 và tháng 12 năm 1944 đã khuyến nghị về việc sớm thông qua một Công ước giải quyết vấn đề chuyển nhượng quyền sở hữu tầu bay;

Xét rằng đây là sự mong muốn cao độ trong việc công nhận quốc tế các quyền đối với tầu bay vì lợi ích của sự phát triển ngành hàng không dân dụng trong tương lai;

Nhân danh Chính phủ của mình và được uỷ quyền hợp lệ, những người ký kết dưới đây đã thống nhất như sau:

Điều 1.

1. Các Quốc gia kết ước cam kết công nhận:

a. Quyền sở hữu đối với tầu bay;

b. Quyền thụ đắc tầu bay thông qua việc mua sắm gắn liền với quyền chiếm hữu tầu bay;

c. Quyền chiếm hữu tầu bay trên cơ sở hợp đồng thuê có thời hạn từ sáu tháng trở lên;

d. Thế chấp, cầm cố và các quyền tương tự đối với tầu bay được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận như là một sự bảo đảm cho việc thanh toán một khoản nợ;

với điều kiện là các quyền nói trên

(i) Được thiết lập phù hợp với luật của quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch tại thời điểm thiết lập các quyền đó, và

(ii) Được đăng ký hợp lệ trong một sổ đăng ký công khai ở Quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch.

Continue reading

GIỚI HẠN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TRONG KÍCH CẦU Ở VIỆT NAM

TS. TÔ KIM NGỌC

Áp lực từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đang đặt ra bài toán phức tạp cho các nhà làm chính sách Việt Nam khi phải lựa chọn và xây dựng một giải pháp policy mix tối ưu thích ứng với sức chịu đựng của nền kinh tế trong ngắn hạn mà không phá huỷ nền tảng phát triển dài hạn. Trong thực tế, Chính phủ Việt Nam đã điều hành các chính sách vĩ mô thời gian qua khá linh hoạt trong những thời điểm nhạy cảm, góp phần giữ vững hệ thống doanh nghiệp và duy trì một môi trường vĩ mô phù hợp.

Sau giai đoạn thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát từ nửa cuối 2007 đến nửa đầu 2008, các chính sách vĩ mô có sự điều chỉnh mạnh nhằm hạn chế sự suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Cho tới thời điểm này, những tác động tiềm năng của các gói kích cầu đã có thể dự đoán. Điều này cho phép thẩm định lại về mặt lý thuyết những tác động của nền kinh tế Việt Nam tới khả năng sử dụng công cụ chính sách tiền tệ và tài khóa cho mục tiêu kích cầu, chỉ ra những giới hạn của chính sách làm căn cứ đưa ra một số gợi ý và cảnh báo các hiệu ứng phụ. Bài viết trước hết điểm qua quy mô và tác động của các gói kích cầu của Chính phủ Việt Nam từ đu 2009 đến nay kèm theo các đánh giá trên nền tảng nguyên tắc phối hợp chính sách tiền tệ và tài khoá qua mô hình IS-LM truyền thống. Các giới hạn chính sách liên quan đến “bẫy thanh khoản” (liquidity trap), hiệu ứng thoái lui đầu tư (crowding out effect), nguy cơ thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ được xem xét để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến hiệu qủa phối hợp chính sách.

1. Chính sách kích cầu của Việt Nam

Cả chính sách tiền tệ và tài khoá đã được tận dụng tối đa cho mục tiêu kích cầu xét cả ở những tác động trực tiếp và gián tiếp.

Chính sách tài khoá

Các nguồn vốn hỗ trợ từ kênh chính sách tài khoá có tác dụng bù đắp sự giảm sút nguồn thu do suy thoái kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế, hạn chế tốc độ sụt giảm nhu cầu tiêu dùng của cả tư nhân và doanh nghiệp, bằng cách đó cho phép các chủ thể này tồn tại qua giai đoạn khó khăn và khôi phục năng lực tiêu dùng khi nền kinh tế qua khỏi giai đoạn suy giảm. Các hình thức hỗ trợ trực tiếp lên tới 78.000 tỷ đồng trong khi các hình thức kích cầu gián tiếp (thông qua hỗ trợ lãi suất, miễn giảm thuế, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ…) khoảng hơn 60.000 tỷ đồng. Sự hỗ trợ của gói kích cầu đã đảm bảo mức tăng trưởng khoảng 3,9% so với cùng kỳ, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng 5,1%, tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng khá 18,3%, tỷ lệ biến động chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ dưới 10% (Hình 2).

Continue reading

CÔNG ƯỚC VIÊN VỀ LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

(Ngày 23 tháng 5 năm 1969  – Có hiệu lực ngày 27 tháng 1 năm 1980)

Các quốc gia tham gia Công ước này,

Tính đến vai trò cơ bản của các điều ước trong lịch sử quan hệ quốc tế,

Công nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của các điều ước là nguồn của pháp luật quốc tế và là phương tiện để phát triển sự hợp tác hòa bình giữa các nước, không tính đến các chế độ Hiến pháp và xã hội khác nhau của các quốc gia.

Ghi nhận rằng các nguyên tắc tự nguyện và thiện chí và quy phạm pacta sunt servanda đã được toàn thế giới công nhận.

Khẳng định rằng những tranh chấp về các điều ước, cũng như những tranh chấp quốc tế khác, phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình và phù hợp với những nguyên tắc công lý và những nguyên tắc của pháp luật quốc tế.

Nhắc lại quyết tâm của các dân tộc trong Liên hiệp quốc là tạo những điều kiện cần thiết cho việc duy trì việc tôn trọng những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước.

Ý thức về những nguyên tắc của pháp luật quốc tế ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc, như nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và độc lập của tất cả các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực và sử dụng vũ lực, nguyên tắc tôn trọng một cách phổ biến và tuân thủ quyền con người và những quyền tự do cơ bản của con người.

Tin rằng việc pháp điển hóa và phát triển Luật điều ước đạt được trong Công ước này sẽ thúc đẩy những mục tiêu của Liên hiệp quốc, phát triển quan hệ hữu nghị và thực hiện sự hợp tác giữa các dân tộc.

Khẳng định rằng những quy phạm của luật tập quán quốc tế sẽ tiếp tục điều chỉnh những vấn đề không đạt được điều chỉnh trong Công ước này.

Đã thỏa thuận như sau:

Phần I.

PHẦN MỞ ĐẦU

Điều 1. Phạm vi của Công ước này

Công ước này áp dụng cho các điều ước giữa các quốc gia.

Continue reading

GẮN CHẶT CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ ĐÃI NGỘ HỢP LÝ NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG CƠ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

NGUYỄN TRỊNH KIỂM

Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có một nền khoa học công nghệ phát triển, trong đó vai trò nhân lực khoa học công nghệ chiếm vị trí hết sức quan trọng. Tuy nhiên, để có một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đông đảo, ổn định và đáp ứng được yêu cầu thì trước tiên cần gắn kết kế hoạch đào tạo, quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ một cách hợp lý.

Thời gian vừa qua, ở Việt Nam, công tác đào tạo, quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ khoa học công nghệ đã có nhiều tiến bộ song vẫn còn tồn tại không ít bất cập. Những tồn tại chủ yếu tập trung ở việc sử dụng gắn kết giữa các khâu đào tạo, quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ chưa được nhịp nhàng, hợp lý.

Trong thời đại ngày nay, xu thế xã hội hoá công tác đào tạo là hoàn toàn phù hợp, song đào tạo không đi đôi với quản lý, sử dụng đãi ngộ thì gây nên lãng phí lao động, tiền của của xã hội ngày càng lớn là điều khó tránh khỏi.

Nhìn lại thực tế hiện nay ở nước ta cho thấy có sự mất cân đối khá lớn giữa khâu đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học công nghệ. Cứ đến kỳ tuyển sinh, trường nào cũng ra chỉ tiêu thi tuyển với số lượng lớn. Nhưng sau khi hoàn thành khoá học, đội ngũ sinh viên ra trường thiếu việc làm đã rơi vào tình cảnh “học một đằng, làm một nẻo” hoặc từ ngành này chuyển sang học thêm ngành khác để có việc làm. Tuy nhiên, không phải cứ chuyển sang học ngành khác là có thể tìm được việc làm ngay mà có rất nhiều sinh viên, học sinh chuyên nghiệp mất hàng chục năm lăn lộn, học tập từ ngành nọ sang ngành kia vẫn chưa tìm được việc làm. Hiện trạng này đang ngày càng phổ biến ở nước ta và nó diễn ra khá phổ biến ở không chỉ các tỉnh, thành phố lớn mà ở các tỉnh nhỏ cũng đã và đang xuất hiện tình trạng này như làm một quy luật khó tránh khỏi.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3917/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ HƯỚNG DẪN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Công ty Luật TNHH Luật Thương mại NT
(Phòng 1707, tầng 17, GEMADEPT TOWER, số 6 Lê Thánh Tôn, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh)

Trả lời công văn ngày 05/8/2009 của Công ty Luật TNHH Luật Thương mại NT về việc thanh toán ngày nghỉ hàng năm cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Căn cứ các Điều 74, 75 và Điều 76 của Bộ Luật Lao động được sửa đổi, bổ sung năm 2006, Nghị định 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ và Thông tư số 07-LĐTBXH/TT ngày 11/4/1995 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi thì về nguyên tắc, ngày nghỉ hàng năm của năm nào, người sử dụng lao động phải bố trí cho người lao động nghỉ trong năm đó, không để sang năm tiếp theo. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng năm thành nhiều lần. Trường hợp người lao động làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ của hai năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp ba năm một lần thì phải thỏa thuận với người sử dụng lao động và được người sử dụng lao động đồng ý.

2. Người lao động chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán tiền lương cho những ngày này trong các trường hợp sau đây:

– Tạm hoãn hợp đồng lao động để làm nghĩa vụ quân sự;

– Hết hạn hợp đồng lao động; đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; bị mất việc làm do thay đổi cơ cấu công nghệ; bị sa thải; nghỉ hưu; chết.

3. Hàng năm người sử dụng lao động phải xây dựng kế hoạch nghỉ hàng năm và thông báo cho người lao động biết để thực hiện.

Continue reading