THÔNG TƯ SỐ 14/2009/TT-BTNMT NGÀY 01 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THU HỒI ĐẤT, GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT

Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất tại các Nghị định sau:

1. Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP);

2. Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (sau đây gọi là Nghị định số 17/2006/NĐ-CP);

Continue reading

VẤN ĐỀ GIÁ TRỊ QUAN CHÂU Á: NGHIÊN CỨU SO SÁNH CHÂU Á VÀ PHƯƠNG TÂY

HỒ SĨ QUÍ

Dẫn những tác giả điển hình bàn về giá trị Châu Á, bài viết nêu ra những điểm giông nhau mà hầu hết những người có quan tâm đến vấn đề giá trị Châu Á, có thể ngẫu nhiên, nhưng đã cùng đi tới một lập luận chung.

Bài viết khẳng định, với các nền văn hoá, các giá trị làm người phần nhiều là giống nhau hoặc tương đương nhau. Rất hiếm có giá trị nào chỉ là "của riêng" của một cộng đồng, điều gì Châu Á tôn vinh thì về đại thể ở nơi khác người ta cũng tôn vinh. Tuy vậy, vấn đề là ở chỗ, vẫn có những điểm khác nhau giữa các bảng giá trị, mà điểm khác biệt rất có ý nghĩa là khác nhau về vị trí của từng giá trị. Người Châu Á coi “cần cù, yêu lao động” là giá trị hàng đầu của sự làm người. Nhưng người Mỹ lại coi "tự lực cánh sinh"’ mới là giá trị đáng quý nhất, cần cù cũng được coi trọng nhưng chỉ đứng thứ ba sau “tự lực cánh sinh và thành đạt cá nhân”. Nói rằng người Châu Á cần cù, người Do Thái khôn ngoan, hay người Đức ưa chính xác… nếu đúng, cũng chỉ có nghĩa là các giá trị đó được tôn trọng hơn, được xếp vào vị trí ưu tiên hơn so với các giá tri khác. Tuyệt nhiên không có nghĩa là chỉ có người Đông Á mới cần cù, còn người nơi khác lười biếng, chỉ có người Do Thái là khôn ngoan còn lại là ngốc nghếch hay kém thông minh…

Sự khác nhau đó là khác nhau về giá trị quan. Trong bài, tác giả đã đưa ra định nghĩa của mình về khái niệm "Giá trị quan".

I. Châu Á và phương Tây trong quan niệm của Mahathir Wlohamad

Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng Malaysia, người được các chính khách và đông đảo các nhà nghiên cứu chú ý vì những bài viết và ý tưởng độc đáo của ông về giá trị Châu Á. Tư tưởng của ông được trình bày trong nhiều ấn phẩm và tại nhiều Hội nghị, hội thảo quốc tế Năm 2000, Nhà xuất bản Pelanduk, Malaysia đã tập hợp và in thành hai chuyên khảo gồm 21 tham luận đã được trình bày tại các Hội thảo khoa học (xem: 4 & 5). Nội dung của tất cả các tham luận này đều trục tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề giá trị Châu Á. Có thể điểm lại những tư tưởng chính của ông như sau:

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM

TS. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG – Viện Nghiên cứu xã hội

Cho đến nay, chưa có một văn bản nào của Đảng và Nhà nước đưa ra khái niệm xã hội dân sự, song trên thực tế theo các quan niệm phổ biến quốc tế, xã hội dân sự thực chất không phải là một thực tế xã hội xa lạ đối với Việt Nam. Ngay từ xa xưa tính cộng đồng, làng xã, tình làng nghĩa xóm, yêu thương đùm bọc lẫn nhau đã mang đặc trưng rõ nét của truyền thống giá trị văn hóa, niềm tin, tính cộng đồng, chia sẻ trách nhiệm vì các công việc chung. Đó là những giá trị cơ bản của xã hội dân sự đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta.

Lịch sử cận đại của Việt Nam đầu thế kỷ 20, mang nhiều dấu ấn của các phong trào quần chúng, và các tổ chức xã hội dân sự tham gia giải phóng dân tộc. Chẳng hạn cuối tháng 4 năm 1904, Hội Duy Tân được thành lập với mục đích “Cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả”. Nhiệm vụ trước mắt của Hội được đề ra trong ngày thành lập là phát triển thế lực của Hội về người và về tài chính; chuẩn bị bạo động và phương án hỗ trợ sinh viên xuất dương sang Nhật học tập và cầu vận. Cùng thời kỳ này, các Hội khuyến học cũng ra đời nhằm giúp hội viên học hỏi, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện. Phong trào này là cơ sở để đưa tư tuy cải cách văn hóa giáo dục và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc cho Việt Nam.

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng là sự kế thừa các phong trào xã hội dân sự. Trong phong trào cải cách và giải phóng dân tộc, Cụ Hồ Chí Minh trong Yêu sách gửi hội nghị Hòa bình Versailles ngày 19/06/1919, Người đã chỉ rõ những giá trị bình đẳng bác ái, không phân biệt người bản xứ và người chính quốc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, xây dựng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đó là những giá trị nền tảng của xã hội dân sự.

Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý và giá trị của xã hội dân sự trong công cuộc giải phóng đất nước. Thời kỳ 1936 – 1939, Đảng rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quần chúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ, hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt sao tập hợp được đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng. Đảng quyết định lấy tên Thanh niên phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay cho Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ. Các tổ chức hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thường hằng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phường đi săn, hội hát kịch…

Continue reading

MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ, CÔNG TY CON – MỘT GIẢI PHÁP LỚN ĐỂ TĂNG TÍNH MINH BẠCH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ GÓP PHẦN QUAN TRỌNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA NỀN KINH TẾ NƯỚC TA

PGS.TS. NGUYỄN HUY OÁNH & LÊ VĂN BẰNG – Học viện chính trị, hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Nghị quyết Hội nghị TƯ 3 (Khóa IX) đã viết: “DNNNgiữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Do đó, việc tăng tính hiệu quả của DNNN không chỉ nhằm mục đích làm cho kinh tế nhà nước nói riêng và kinh tế nước ta nói chung vững mạnh mà còn góp phần tăng tính định hướng XHCN của nền kinh tế. Vì thế việc sắp xếp đổi mới DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động của nó là vấn đề rất bức xúc hiện nay. Nhưng muốn sự sắp xếp có hiệu quả phải áp dụng nhiều biện pháp, theo chúng tôi, biện pháp quan trọng nhất là phải tìm được mô hình tổ chức doanh nghiệp mà với mô hình này chúng ta sẽ tác động trực tiếp vào vấn đề sở hữu, và do đó sẽ làm tăng tính minh bạch của DNNN. Mô hình công ty mẹ, công ty con là mô hình đáp ứng được yêu cầu này.

1.  Chúng ta biết rằng, với mô hình DNNN kiểu cũ, chủ sở hữu là Nhà nước với 100% vốn của Nhà nước. Chúng ta đã từng rất coi trọng mô hình DNNN kiểu này. Tuy nhiên, một nhược điểm lớn của mô hình này là tính minh bạch về mặt kinh tế: nguồn vốn của DNNN được giao cho hội đồng quản trị và giám đốc điều hành (nếu là tổng công ty) hoặc giám đốc doanh nghiệp (nếu là công ty), làm đại diện của Nhà nước quản lý. Để phần nào kiểm soát hoạt động của các đại diện này nhằm bảo toàn vốn cho Nhà nước:

– Về mặt vĩ mô, Nhà nước có hàng loạt luật pháp, chính sách về tài chính quản lý vốn, quản lý vật tư…;

– Về mặt vi mô, có hội đồng quản trị (nếu là tổng công ty), có giám đốc và kế toán trưởng thay mặt Nhà nước và được giao trách nhiệm quản lý vốn cho Nhà nước.

Ngoài ra, còn một loạt cơ chế, tổ chức như tổ chức Đảng, hội nghị công nhân viên chức, các tổ chức đoàn thể như công đoàn, phụ nữ, thanh niên… Mô hình tổ chức trên tưởng rằng chặt chẽ nhưng lại bộc lộ nhiều nhược điểm: với những giám đốc có tâm huyết, muốn có những biện pháp mạnh mẽ nhằm bứt phá đưa doanh nghiệp đi lên thì lại gặp vật cản khi nhận thức đó chưa được tập thể chấp nhận, khi đó giám đốc bất lực; với những giám đốc không trong sáng, lại lợi dụng những bùng nhùng đó để có những thu nhập bất chính mà tập thể phức tạp nêu trên chỉ là bình phong. Những hạn chế đó suy đến cùng thuộc về vấn đề xác định chủ sở hữu của DNNN trên các mặt trách nhiệm và lợi ích kinh tế, một vấn đề rất khó khăn nếu như 100% vốn là của Nhà nước như phần lớn các DNNN hiện nay. Vì vậy dẫn đến sự không hiệu quả của DNNN. Hơn nữa, mô hình DNNN theo kiểu cũ với sự khó minh bạch còn đi liền với nạn tham nhũng, hối lộ, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đó là lý do cấp bách phải đổi mới mô hình DNNN.

Continue reading

VIỆT NAM THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRƯƠNG THỊ MAI – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Báo cáo phát triển con người năm 2007 – 2008 của Liên hợp quốc cho thấy, Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) là 0,733, xếp ở vị trí 105 trong tổng số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 4 bậc so với năm 2006/2007). Với chỉ số phát triển giới (GDI) là 0,732 – bằng 99,9% giá trị của HDI, thì rõ ràng việc thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất quan tâm và đạt nhiều thành tích rất đáng chú ý.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực phát triển kinh tế và thực hiện mục tiêu tiến bộ xã hội, trong đó phải kể đến việc thực hiện bình đẳng giới và phát triển con người. Kết quả của những nỗ lực này được cộng đồng quốc tế nhìn nhận Việt Nam như một “điểm sáng” về việc thực hiện bình đẳng giới, nâng cao quyền con người, xóa đói, giảm nghèo. Đây là một thành tựu rất quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề bình đẳng giới thông qua việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước cũng như việc tham gia, phê chuẩn các công ước quốc tế có liên quan, như Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em… Trên cơ sở nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp và pháp luật về bình đẳng giới, Chính phủ đã xây dựng một số mục tiêu cụ thể vì sự tiến bộ của phụ nữ, trẻ em gái trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Các mục tiêu xác định rõ ràng về nội dung và thời gian, Chính phủ đã tiến hành sơ kết, tổng kết đánh giá việc tổ chức thực hiện các mục tiêu này theo định kỳ; kiểm tra những tác động, xu hướng trong suốt quá trình thực hiện các mục tiêu phân bổ nguồn tài chính và nhân lực để thực thi các chính sách, pháp luật hiện hành về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

Continue reading

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI NHIỆM VỤ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ HỖ TRỢ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ SAU KHỦNG HOẢNG

TS. NGUYỄN THỊ KIM THANH – Viện trưởng Viện CLPTNH, NHNN VN

Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy rằng, các giải pháp kiềm chế lạm phát chống suy giảm kinh tế của chính phủ đưa ra vào những tháng đầu và cuối năm 2008, được thể hiện tại các văn bản số 75/TTg-KTTH ngày 15/1/08 và văn bản số 319/TTg-KTTH ngày 3/3/08 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008; Nghị Quyết số 30 Ngày 11 tháng 12 năm 2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 9 tháng 1 năm 2009 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN năm 2009; Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23 tháng 1 năm 2009 về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh và yêu cầu các Bộ, Ngành quán triệt và tập trung nô lực để chủ động ngăn chặt suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuát khẩu, kích cầu đầu tư, tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2009 ở mức 6,5%( nay mục tiêu này điều chỉnh xuống còn 5%, do tình hình kinh tế quí 1 đã đạt mức thấp chỉ bằng 60% mức tăng trưởng của quí 1/2008).

Sau một thời gian triển khai thực hiện, các giải pháp này đã có những tác động tích cực đến ổn định kinh tế vĩ mô: Sự mất cân đối vĩ mô của nền kinh tế biểu hiện qua các chỉ số vĩ mô trong QI/2008: Tốc độ tăng trưởng quý I chỉ tăng 7,4%, thấp hơn mức tăng 7,8% của cùng kỳ năm 2007; Nhập khẩu tăng 62,5%, gần gấp đôi mức tăng của cùng kỳ năm 2007 nguyên nhân xuất phát cả về giá và lượng. Trong khi xuất khẩu chỉ tăng 22,7% – tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ 2007 nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng của nhập khẩu dẫn đến nhập siêu tăng gấp 3,5 lần so với mức nhập siêu của quí I/2007 và bằng 56,5% giá trị xuất khẩu hàng hóa; CPI tháng 3/08 tăng 2,99% so với tháng trước, cao hơn nhiều so với mức tăng của tháng cùng kỳ các năm trước (T3/04: 0,8%; T3/05: 0,1%; T3/06: -0,5%; T3/2007: -0,22%), so với đầu năm tăng 9,19%, so với cùgn kỳ tăng 19,39% ; thị trường tiền tệ có những biểu hiện thiếu ổn định, như thiếu thanh khoản, cạnh tranh lãi suất gia tăng; thị trường chứng khoán tụt dốc mạnh mẽ, chỉ số chứng khoán đang từ mức trên 1000 điểm của cuối năm 2007, chỉ còn 516 điểm vào cuối tháng 3/2008….;

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU VÀ BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: BỨC XÚC VÌ … 3 CM TRÊN KHÔNG

KỲ QUAN

Một gia đình nghèo dành dụm mấy chục năm cất được căn nhà 27m2, một lầu. Khi thợ đổ sàn tầng lầu, đã vô ý lấn khoảng không 3cm sang phần đất công cộng. Tính tổng diện tích lấn trên không (tầng trệt không lấn) là khoảng 0,3m2.

Hộ liền kề đòi bồi thường… 25 triệu đồng bởi việc lấn đất công. Điều lạ là chính quyền địa phương lại ủng hộ chuyện đòi bồi thường đó.

Chuyện 3cm

Thị trấn Cần Giuộc (huyện Cần Giuộc) có con đường Lãnh Binh Thái chạy song song và cách sông Cần Giuộc hơn 10m. Giữa con đường và dòng sông có con hẻm rộng gần 1,5m để người dân đi lại. Sau này có nước máy, con hẻm không còn sử dụng, người dân hai bên lấn chiếm con hẻm.

Ông Trương Phú Long (nhà số 198, Lãnh Binh Thái) làm gác gỗ chồm ra hẻm 0,3m. Hộ bà Trương Thị Kim Liên đối diện bên kia hẻm thì lấn hơn 1m còn lại. Năm 2007, bà Liên xây nhà lầu trên cả phần đất con hẻm nói trên. Ông Long khiếu nại việc xây dựng lấn đất công của bà Liên, nhưng không thấy ai giải quyết.

Đến đầu năm 2009, ông Long cất lại nhà trên phần đất của mình. Tầng trệt xây xong, thợ tiếp tục đổ sàn, rồi xây tầng lầu. Khi các bức tường tầng lầu sắp xây xong, thợ chuẩn bị lợp mái, thì bà Liên khiếu nại ông Long xây nhà lấn đất… trên không của bà. Các cơ quan chức năng của huyện vào đo đạc và xác định tầng trệt ông Long xây đúng kích thước theo bản vẽ, còn tầng lầu dôi ra 3cm, tính tổng diện tích lấn khoảng không là khoảng 0,3m2.

Continue reading