BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG: LÀM HƯ NHÀ HÀNG XÓM PHẢI BỒI THƯỜNG 61 TRIỆU ĐỒNG

HOÀNG YẾN

Nguyên đơn đòi cả trăm triệu đồng, bị đơn chỉ chấp nhận bồi thường 1 rồi 3 triệu đồng.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do xây dựng khá căng thẳng giữa hai nhà hàng xóm.

Lún nền, nứt tường, nứt mái…

Theo đơn kiện của bà A., ngụ quận 1 (TP.HCM) nộp cho TAND TP tháng 5-2008, năm 2007 chị em bà T. xây nhà mới nhưng không che chắn, không đảm bảo các quy tắc xây dựng làm nhà bà bị lún nền, nứt tường, nứt mái gây dột và ngấm nước vào nhà. Khi xảy ra hư hỏng, bà đã yêu cầu phía bà T. sửa chữa nhưng không khắc phục được. Nay bà yêu cầu bà T. bồi thường cho bà 300 triệu đồng để khắc phục hậu quả.

Ngược lại, phía bà T. trình bày trong lúc xây nhà, bà A. có sang yêu cầu sửa chữa lại tường nứt, mái tôn hư hỏng nhưng sau đó lại không cho sửa chữa tiếp. Phía bà T. không chấp nhận việc bà A. đòi bồi thường 300 triệu đồng bởi nhà bà A. xây dựng đã lâu, đã xuống cấp và hư hỏng nặng từ trước khi họ xây nhà. Phía bà T. chỉ đồng ý bồi thường một triệu đồng cho bà A. mà thôi.

TAND TP đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng cả hai bên vẫn không tìm được tiếng nói chung. Tháng 3, tòa phải quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân gây hư hỏng nhà và biện pháp khắc phục, kinh phí sửa chữa để có cơ sở xét xử.

Sau đó, Công ty Kiểm định Sài Gòn xác định nguyên nhân gây hư hỏng nhà bà A. chủ yếu là do tác động từ quá trình xây dựng nhà bà T. Việc này gây ra các hiện tượng rung động, gây nứt. Khi đào đất làm móng, bên bà T. đã gây sạt lở dưới nền móng nhà bà A., làm tăng độ lún của căn nhà.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3818/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 8 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Kính gửi: Công ty TNHH Yamaha Motor Việt Nam

Trả lời công văn số 05/2009/CV-HC ngày 30/9/2009 của Công ty TNHH Yamaha Motor Việt Nam về việc giao kết hợp đồng lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 1, 2, 3, Điều 4 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ và điểm a, khoản 2, mục I Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì:

– Hợp đồng lao động không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng;

– Hợp đồng lao động xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng;

– Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.

Người sử dụng lao động và người lao động căn cứ vào thời hạn của công việc để áp dụng một trong các loại hợp đồng lao động nêu trên.

Đối với Công ty TNHH Yamaha Motor Việt Nam, do yêu cầu tăng sản lượng ngoài kế hoạch sản xuất đề ra, đòi hỏi phải tuyển thêm lao động để hoàn thành khối lượng công việc tăng thêm này trong thời hạn dưới 12 tháng thì Công ty có thể tuyển dụng và thỏa thuận với người lao động để giao kết theo loại hợp đồng lao động mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Continue reading

CHỈ THỊ SỐ 1565/CT-TTg NGÀY 6 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Đây là một đạo luật mới, quan trọng, là cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ. Luật quy định một cách toàn diện, cụ thể về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; trách nhiệm giải quyết bồi thường của các cơ quan nhà nước ở các ngành, các cấp; cơ chế giải quyết bồi thường theo yêu cầu của người bị thiệt hại và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại. Việc thi hành Luật sẽ tác động nhiều mặt đến hoạt động của các cơ quan nhà nước ở các cấp, các ngành, đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Để bảo đảm thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu quả đòi hỏi các cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương phải nhận thức đầy đủ, thống nhất về ý nghĩa, nội dung của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; cán bộ, công chức phải nhận thức rõ được trách nhiệm công vụ của mình, cũng như các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp cần có nhận thức đầy đủ về quyền yêu cầu bồi thường nhà nước và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường để thực hiện quyền được bồi thường của mình.

Để việc triển khai thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:

a. Tổ chức triển khai việc tuyên truyền, phổ biến Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đến mọi tổ chức, cá nhân trong phạm vi Bộ, ngành, địa phương mình. Đối với đối tượng là cán bộ, công chức, cần kết hợp việc quán triệt tinh thần và nội dung các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với việc nâng cao tinh thần, trách nhiệm công vụ, đặc biệt là cần thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về chức trách của công chức, cần nhận thức đầy đủ về những hành vi, quyết định hành chính được quy định trực tiếp trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà việc thực hiện các hành vi hay quyết định này có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM: NHÌN TỪ BÊN MUA VÀ BÊN BÁN

THS. NGUYỄN MAI PHƯƠNG – Chi nhánh Công ty Luật Mayer Brown JSM tại Hà Nội

Mua bán (acquisition) và sáp nhập (merger) doanh nghiệp (M&A) là một phần tất yếu của bất cứ nền kinh tế lành mạnh nào và là một công cụ hiệu quả để tái cơ cấu doanh nghiệp. Quan trọng hơn, đó là cách thức chủ yếu để các doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của mình và đem lại thu nhập cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư. Nguyên tắc M &A là tạo ra giá trị cho cổ đông bao trùm và lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai doanh nghiệp khi hai doanh nghiệp tồn tại riêng rẽ.

1. Khái niệm về M &A theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hoạt động M &A ở Việt Nam được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và hiện chưa có một khung pháp luật hoàn chỉnh và thống nhất điều chỉnh lĩnh vực này. Các giao dịch M &A, tùy từng trường hợp cụ thể, có thể liên quan và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp, về chứng khoán, về cạnh tranh, về đầu tư và luật hợp đồng.

Thuật ngữ “mua bán” và “sáp nhập” là hai khái niệm luôn đi kèm với nhau nhưng lại thường bị nhầm lẫn hoặc được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù hai thuật ngữ này có sự khác biệt cơ bản về bản chất. Hai hoạt động này khác nhau và hệ quả pháp lý của chúng cũng khác nhau.

Trong những năm gần đây, hoạt động M &A trở nên sôi động hơn tại Việt Nam. Tuy nhiên, các giao dịch này chủ yếu là các giao dịch mua lại. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại hội thảo về vấn đề này diễn ra ngày 11/6 vừa qua tại Hà Nội, năm 2005 chỉ có 18 vụ M &A với tổng giá trị là 61 triệu đôla Mỹ, năm 2006 có 32 vụ với tổng giá trị các thương vụ là 245 triệu đôla Mỹ. Năm 2007, Việt Nam có hơn 90 vụ M &A với giá trị giao dịch là hơn 1, 7 tỷ đôla Mỹ và năm 2008, đã có gần 40 vụ sáp nhập và mua lại với tổng giá trị gần 30 triệu đôla Mỹ. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong 5 đến 10 năm tới, sẽ có từ 30% đến 50% doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ sáp nhập hoặc bị sáp nhập với các đối tác khác. Hoạt động M &A tiếp tục diễn ra sôi động do đây là một hình thức đầu tư ngày càng phổ biến và tiện lợi; do sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua; do nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao những cơ hội đầu tư tại Việt Nam cũng như do những cam kết của Chính phủ Việt Nam trong lộ trình thực hiện khi gia nhập WTO; và do những ảnh hưởng quốc tế với sự góp mặt của hàng loạt quỹ đầu tư trong và ngoài nước.

Continue reading

NHỮNG LƯU Ý ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

TRẦN MINH SƠN

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động và có vốn hiểu biết pháp luật vững vàng nhằm có được ưu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thương trường qua đó đạt hiệu quả cao trong kinh doanh không chỉ đối với thị trường trong nước mà còn phải đứng vững trên thị trường thế giới. Tranh chấp trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, nhất là đối với cơ chế mở và một nền kinh tế thị trường đang theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay. Tuy nhiên, do sự chủ quan và không được trang bị kiến thức pháp luật đầy đủ, các doanh nghiệp thường gặp phải những tổn thất không đáng có dẫn tới sự thua thiệt, tổn thất rất lớn trong kinh doanh và thậm chí là phá sản.

Theo thống kê mới nhất hiện nay thì các vướng mắc, tranh chấp đã và đang diễn ra tập trung phần lớn trong quá trình đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng. Vì vậy, trong phạm vi bài viết mang tính chất nghiên cứu này, tác giả có đề cập đến hợp đồng thương mại và những lưu ý đối với doanh nghiệp trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện loại hợp đồng này:

Trong hoạt động thương mại thì hợp đồng thương mại còn đóng vai trò là một phương tiện rất quan trọng để bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng, giúp các bên kiểm soát và dự báo được lợi nhuận cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Hình thức của hợp đồng thương mại là đa dạng, từ những bản hợp đồng rất đơn giản với những thỏa thuận cũng rất đơn giản và ngắn ngọn đến những bản hợp đồng phức tạp, đồ sộ được soạn thảo công phu bởi những luật sự giỏi, dày dặn kinh nghiệm trên thế giới và có hiệu lực áp dụng vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia.

Những vẫn đề cần lưu ý khi soạn thảo, đàm phán hợp đồng thương mại:

1. Lưu ý chung:

Continue reading

KỸ THUẬT PHÁP LÝ HAY THẨM QUYỀN CỦA BỘ TRƯỞNG?

NGUYỄN THẾ DUY

Ngày 3.12.2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 178/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ (gọi chung là Bộ), thay thế Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 5.11.2002. Đối với Chính phủ và các bộ, Nghị định số 178 có ý nghĩa rất quan trọng, đây là văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tổ chức Chính phủ, làm cơ sở cho việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cụ thể của các Bộ, qua đó thể hiện sự phân công rành mạch giữa Chính phủ và các Bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, thực tế áp dụng Nghị định 178 cho thấy, có một số quy định chưa rõ ràng và chưa phù hợp với quy định của một số đạo luật hiện hành.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 178 thì trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, Bộ trưởng có nhiệm vụ “Trình Chính phủ chủ trương, biện pháp mở rộng quan hệ với nước ngoài; đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập và biện pháp bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.” Về quy định này, có hai cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng, Bộ trưởng chỉ có trách nhiệm trình Chính phủ việc “Đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập và biện pháp bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”, trong trường hợp này thì thẩm quyền quyết định là của Chính phủ. Cách hiểu thứ hai cho rằng, theo phân công của Chính phủ thì Bộ trưởng có quyền nhân danh mình để “Đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập và biện pháp bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”. Hai cách hiểu này dẫn đến hai hệ quả pháp lý khác nhau.

Theo chúng tôi, cách hiểu thứ nhất là phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật hiện hành về thẩm quyền của Chính phủ và của Bộ trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, nhưng do kỹ thuật thể hiện tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 178 chưa chuẩn xác, thiếu chữ “việc” trước dấu chấm phẩy (;) ngắt giữa hai đoạn nên dẫn đến cách hiểu thứ hai.

Continue reading

LÚNG TÚNG KHI THỰC HIỆN CHUYỂN GIAO QUYỀN CHỨNG THỰC

PHẠM VĂN CHUNG

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính… Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh Kon Tum ban hành chỉ thị về việc triển khai thực hiện và tập trung tổ chức tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác chứng thực trên địa bàn. Quá trình thực hiện đã đạt kết quả bước đầu, tuy nhiên vẫn còn những vướng mắc, lúng túng …

Ở cấp huyện, UBND đã chỉ đạo Phòng Tư pháp và UBND các xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện Chỉ thị của UBND về công tác công chứng, chứng thực… Phòng Tư pháp xây dựng kế hoạch, tổ chức tuyên truyền rộng rãi về thẩm quyền chứng thực, những thủ tục cần thiết khi có nhu cầu chứng thực để người dân nắm được. UBND cấp xã cũng được hướng dẫn làm thủ tục khắc mẫu dấu chứng thực; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND và cán bộ phụ trách công tác chứng thực được tập huấn và hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực theo thẩm quyền. Công tác chứng thực khi được chuyển giao về cấp xã, lãnh đạo UBND đã chủ động bố trí thêm mỗi xã, thị trấn 1 cán bộ tư pháp – hộ tịch làm công tác này. Hầu hết các huyện, thành phố và một số xã, phường, thị trấn đã tổ chức làm việc ngày thứ Bảy, tạo thuận lợi cho nhân dân và giải quyết rốt ráo công việc chung trên địa bàn. Trong hơn 2 năm thực hiện Nghị định 79, cấp huyện đã chứng thực được 18 hợp đồng giao dịch, 4.701 bản sao với tổng lệ phí thu được là 12.409.000đồng; cấp xã đã chứng thực được 88.003 hợp đồng giao dịch, 429.634 bản sao, 16.842 chữ ký, tổng lệ phí thu được 1.409.888.450đồng.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, sau 2 năm thực hiện việc chuyển giao chứng thực về cho cấp xã đã nảy sinh một số vướng mắc cần sớm khắc phục. Cụ thể, hiện có nhiều văn bản pháp luật quy định về hoạt động chứng thực, nhất là hoạt động cấp bản sao từ sổ gốc. Do vậy, khi thực hiện, cơ quan chức năng không phân biệt được giữa công tác hộ tịch và công tác chứng thực. Theo Nghị định 79, “Bản chính là bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp lần đầu tiên có giá trị pháp lý để sử dụng, là cơ sở để đối chiếu và chứng thực bản sao”, trong khi đó pháp luật hiện hành lại có quy định: bản chính cấp lại hoặc bản chính được đăng ký lại, tức là bản chính được cấp từ lần thứ 2 trở lên, nên khi thực hiện chứng thực sao từ bản chính, nhiều địa phương thực hiện không thống nhất. Mặt khác, Nghị định 79 không quy định việc phải hợp pháp hóa lãnh sự trước khi thực hiện chứng thực bản dịch, do vậy khi thực hiện còn lúng túng và cần phải có hướng dẫn chính thức từ cơ quan có thẩm quyền.

Continue reading

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN MỘT SỐ NƯỚC

TS. NGUYỄN KIM THOA – Vụ pháp luật hình sự – hành chính, Bộ Tư pháp

Tự do thông tin là một quyền cơ bản đối với mỗi con người. Quyền này cho phép và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một sự bảo vệ quan trọng chống lại các hình thức lạm dụng, các việc làm sai trái và tham nhũng. Quyền này cũng có thể đem lại lợi ích cho các Chính phủ thông qua việc đem lại sự minh bạch và cởi mở trong các quá trình ra quyết định và qua đó cải thiện lòng tin của công chúng đối với các hoạt động của Chính phủ (1).

1. Lợi ích của việc ban hành luật tiếp cận thông tin

Đến năm 2009, đã có 86 nước trên thế giới ban hành Luật về Tiếp cận thông tin. Quốc gia đầu tiên ban hành luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin là Thụy Điển (năm 1766), sau đó một số nước khác cũng có đạo luật riêng như Mỹ ban hành Luật Tự do thông tin (năm 1966), Canada (1983), Hungary (1992), Anh (năm 2000), Nam Phi (năm 2000)… Ở châu á, một số nước đã ban hành luật này như Thái Lan (12/1997), Hàn Quốc (1/1998), Nhật Bản (4/2001), Ấn Độ (năm 2005), Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… Một số quốc gia khác cũng đang trong quá trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành nghị định riêng để điều chỉnh về vấn đề này.

Theo Báo cáo về tiếp cận thông tin trên thế giới thì việc ban hành luật về tiếp cận thông tin mang lại một số lợi ích cơ bản sau đây:

1.1. Thu hút sự tham gia của công chúng và thực hiện dân chủ

Tự do thông tin là yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự tham gia của công chúng vào các công việc xã hội. Đồng thời, công chúng chỉ thực sự có khả năng tham gia vào các quá trình dân chủ khi họ có đầy đủ các thông tin về các chính sách và hoạt động của Chính phủ. Dân chủ là dựa trên sự đồng thuận của các công dân và sau đó Chính phủ thông báo cho các công dân về các hoạt động của mình và thừa nhận quyền của các công dân được tham gia vào các công việc của Chính phủ.

Continue reading

SUY NGẪM 40

loveflowers_main Khuyến khích “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là chủ trương chậm nhưng vẫn chưa muộn. Thực thi chủ trương này không chỉ đơn giản hô hào khẩu hiệu, vận động hình thức mà  cần có những giải pháp chiến lược:

1. Nhà nước và  quan chức phải xác định mình là người tiêu dùng Việt Nam. Khi xe chở đoàn đại biểu quốc hội trong các kỳ họp sản xuất tại Nhật Bản, Hàn Quốc… hay đồ dùng cá nhân của thành viên Chính phủ, Chủ tịch, phó chủ tịch các tỉnh là hàng hiệu nước ngoài … thì tư tưởng sính ngoại có còn tồn tại trong dân!?

 2. Phải tạo môi trường pháp lý ưu tiên lựa chọn, sử dụng sản phẩm an toàn và đem lại lợi ích tốt nhất cho chính người tiêu dùng. Thực tế, người tiêu dùng Việt Nam luôn có cảm giác bị “bỏ rơi” do pháp luật về bảo vệ quyền của họ rất yếu và thiếu. Các cơ quan chuyên trách hầu như chỉ xử lý hậu quả mà chưa có giải pháp ngăn ngừa hữu hiệu thiệt hại cho người tiêu dùng.

3. Doanh nghiệp phải có chiến lược sản xuất hàng hóa dành riêng cho người Việt khiến họ tự hào khi dùng nó và là tiêu chí mua sắm của người nước ngoài khi đến với Việt Nam – Điều này hãy học Nhật Bản, Hàn Quốc. Đừng hạ thấp hoặc coi người tiêu dùng Việt Nam như người tiêu dùng ở  thị trường phi nội địa và cũng đừng hạ thấp chính mình với khẩu hiệu “chất lượng ngoại, giá nội”.

4. Cần cân bằng giữa chính sách nội địa với chính sách xuất khẩu. Hàng năm, Bộ Công thương trao giải thưởng dành cho các doanh nghiệp có thành tích xuất khẩu mà hà cớ gì không có giải thưởng dành cho doanh nghiệp phát triển thị trường nội địa.

5. Vai trò của cá nhân, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, truyền thông rất quan trọng. Thói quen tiêu dùng của họ có thể ảnh hưởng trực diện hoặc gián tiếp đến một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng. Phải có chính sách xây dựng hình ảnh của họ như là biểu tượng đại diện văn hóa tiêu dùng hàng Việt Nam.

6. Việc xây dựng văn hóa tiêu dùng không thể dựa theo khuôn mẫu trình độ văn hóa 10/10 hoặc 12/12 – Vốn có rất nhiều điều phải bàn. Nó phải là sự giao thoa của nền giáo dục tốt, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm với đất nước, quyền được hưởng dụng những gì tốt nhất và được bảo vệ tốt nhất những lợi ích của mình.

CIVILLAWINFOR

Các số khác >>>

GIỚI THIỆU NHỮNG QUI ĐỊNH MỚI VỀ TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA – Cục Thi hành án, Bộ Tư pháp (Civillawinfor Tổng hợp)

Nhằm tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, từng bước nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự. Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng, trong đó đặc biệt là những quy định mới về bộ máy hệ thống tổ chức và công chức làm công tác thi hành án dân sự.

Để triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Thi hành án dân sự về công tác tổ chức cán bộ, ngay sau khi Luật có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2009), Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định số 74/2009/NĐ-CP). Nghị định này gồm 4 chương, 55 Điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2009.

Mặc dù đã được hướng dẫn khá chi tiết, tuy nhiên vẫn còn một số điều, khoản của Nghị định 74/2009/NĐ-CP sẽ còn tiếp tục được hướng dẫn cụ thể hơn tại các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ, ngành có liên quan hoặc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, v.v… như: Hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án; Tiêu chuẩn ngạch Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên Trung cấp, Chấp hành viên cao cấp; Điều kiện, việc sơ tuyển, hồ sơ thi tuyển đối với người không phải là cán bộ, công chức tham gia thi tuyển Chấp hành viên và trường hợp công chức từ các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh này tham gia thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự tỉnh khác; Nội dung và hình thức thi nâng ngạch Thẩm tra viên thi hành án; Điều động, luân chuyển, biệt phái Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án trong quân đội; Mẫu thẻ, việc cấp phát, thay đổi và thu hồi thẻ Chấp hành viên, Thẩm tra viên thi hành án; Danh sách các cơ quan thi hành án dân sự được tuyển chọn và bổ nhiệm Chấp hành viên trong trường hợp không qua thi tuyển; Quy chế hoạt động của Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự địa phương trong trường hợp bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển; v.v…

Continue reading