QUI CHẾ BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: ĐAU ĐẦU CHUYỆN HÀNG XÓM TRỔ CỬA

CẨM TÚ

“Nhà tôi và nhà kế cận cách nhau một con hẻm chung rộng chưa đầy một thước. Từ lúc họ trổ cửa sổ, tôi có cảm giác lúc nào nhà mình cũng bị người khác nhìn chòng chọc vào, không còn giữ được sự riêng tư”.

Ông N.M.L (phường Bình An, quận 2) bày tỏ nỗi khổ mà gia đình ông đang phải gánh chịu như trên.  Tại TP.HCM, nhà xin giấy phép trước tháng 7-2009 được trổ cửa thoải mái, còn nhà xin phép sau lại không được giải quyết.

Trổ cửa chỗ nào cũng được?

Căn nhà của ông L. được thiết kế cửa sổ rộng, tường rào xây thấp nhằm tạo thông thoáng. Tuy nhiên, từ khi nhà hàng xóm trổ cửa, gia đình ông đành phải đóng kín các cửa sổ để bảo vệ sự riêng tư. Ông L. muốn chữa cháy bằng cách xây thêm bức tường có bố trí cửa sổ so le với nhà hàng xóm nhưng quận lại không đồng ý.

“Phòng Quản lý đô thị quận 2 nói rằng khoảng cách hai nhà không đủ 2 m nên không cho trổ cửa sổ nhưng tại sao họ lại cấp phép cho nhà kia?” – ông L. thắc mắc.

Chủ một căn nhà rất đẹp ở khu Miếu Nổi (quận Phú Nhuận) cũng hết sức đau khổ bởi căn nhà đã bị mất giá trầm trọng từ lúc nhà đối diện đưa lưng vào nhà mình, kèm theo gần chục cục nóng của máy lạnh. “Không thể khiếu nại được bởi họ xây dựng trong đất có chủ quyền mà quận cho biết không có quy định nào bắt buộc chủ nhà khi xây mới phải xoay cửa về hướng nào” – kiến trúc sư thiết kế căn nhà này ấm ức.

Trong cuộc họp giao ban giữa Sở Xây dựng TP.HCM với phòng QLĐT 24 quận, huyện hồi tháng 9, nhiều quận nội thành cho biết đã tiếp nhận rất nhiều đơn khiếu nại về vấn đề này. “Nhà có hai mặt tiền, chủ nhà xin mở cửa hết hai bên, quận cấp phép, thế là bị các hộ trong hẻm khiếu nại” – đại diện Phòng QLĐT quận 10 báo cáo.

Còn Trưởng phòng QLĐT quận 11 Võ Xuân Quang ngán ngẩm: “Cho một căn nhà mở cửa ra hẻm là kéo theo nhiều chuyện, vì điều này có thể ảnh hưởng đến lối đi, chỗ để xe của các hộ dân đang sử dụng hẻm nên họ sẽ khiếu nại”.

Continue reading

THEO TÂM HAY THEO PHÁP?

CAO TỰ THÀNH

Nhiều năm nay, không ít các vị cán bộ, có khi còn là cán bộ cấp cao nữa, khi trả lời báo chí thường nói một câu đại ý là người cán bộ cần nhất là có cái tâm, và vài năm gần đây lại thêm một cái nữa, cái tầm. Dường như trong lúc say sưa với đạo đức và trình độ như vậy, họ đã quên mất họ là công chức trong một Nhà nước phấn đấu cho xã hội pháp quyền, trách nhiệm hàng đầu của họ là phải tuân thủ và bảo vệ pháp luật chứ không phải là có đạo đức hay trình độ cá nhân để làm gương cho thiên hạ, mặc dù những cái ấy cũng rất hay ho nếu người ta thật sự có được chúng.

Ngoại trừ một số trường hợp hết sức đặc biệt thì cái tâm hay cái tầm của một người nói chung không có liên quan gì tới việc tuân thủ và bảo vệ pháp luật của y cả, bởi nếu phải dùng cái tâm và cái tầm để thực thi pháp luật thì mỗi người sẽ giải thích các điều khoản pháp luật theo cái tâm và cái tầm của riêng mình, và lúc bấy giờ thì pháp luật sẽ không còn là pháp luật hiểu theo cái nghĩa là hệ thống chế định chung cho tất cả mọi người nữa. Tóm lại, ở đây phải nói tới pháp chứ không được viện dẫn tâm.

Có một câu chuyện khá thú vị trong lịch sử Pháp gia Trung Quốc thời Tiên Tần. Lúc Thương Ưởng làm tướng nước Tần, ban hành pháp lệnh buộc các nhà giàu có tài sản từ một vạn lượng vàng trở lên ở kinh đô Lạc Dương phải ra biên giới khai hoang. Lúc ấy người chống lệnh rất nhiều, người phỉ báng chê bai pháp lệnh càng lắm, tất cả đều bị chém đầu chặt chân tịch thu gia sản vân vân, số còn lại hoảng sợ nín khe kéo nhau ra biên giới làm ruộng. Vì họ đều là nhà giàu, đủ nhân lực tài lực vật lực nên việc khai hoang tiến hành thuận lợi chứ không đánh trống bỏ dùi như nhiều khu kinh tế mới ở ta sau 1975. Vài năm sau, ruộng đất ở biên giới được mở rộng, nông sản nườm nượp chở về Lạc Dương, nhiều người trong đó có cả những kẻ chống lệnh trước kia đều khen là pháp lệnh hay. Thương Ưởng nghe được, lại sai cắt lưỡi những người ấy, với lý do người dưới thì chỉ có phận sự tuân thủ pháp lệnh chứ không được có ý kiến gì cả bất kể là chê hay khen. Dĩ nhiên đó là quan điểm pháp trị của Pháp gia Trung Quốc ngày xưa, không giống cung cách dân chủ lấy ý kiến nhân dân đóng góp cho dự thảo pháp lệnh đông vui rậm đám như ta ngày nay, tuy nhiên chính việc thực thi pháp lệnh răm rắp từ quan tới dân như thế đã góp phần đưa nước Tần vươn lên thành nước mạnh nhất thời Chiến quốc rồi tiến tới thống nhất Trung Quốc về sau. Cho nên nhìn từ góc độ của pháp luật hiện đại thì điểm khả thủ duy nhất trong quan điểm pháp trị lạc hậu và cực đoan ấy có lẽ là ở chỗ này: mọi người phải tuân thủ pháp luật không phải vì có đạo đức mà vì lợi ích và sự an toàn của chính mình. Ai có tâm có tầm thì cứ việc tình nguyện tuân thủ pháp luật, ai không có tâm không có tầm cũng phải biết sợ mà tuân thủ pháp luật, như thế mới có được một xã hội có trật tự và kỷ cương.

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH: BỐN NĂM . . . VẪN QUÁ MỚI!

THANH VÂN

Sau một năm có hiệu lực, chỉ có 30% doanh nghiệp biết là có Luật Cạnh tranh, 70% doanh nghiệp không hề biết gì về Luật này .

Luật Cạnh tranh đã có hiệu lực được 4 năm nhưng sự hiểu biết của doanh nghiệp về luật này còn hạn chế. Để giúp doanh nghiệp hiểu biết về Luật Cạnh tranh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vừa phối hợp với Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên tổ chức Chiến dịch truyền thông về các hành vi phản cạnh tranh qua 5 cuộc hội thảo tổ chức tại 5 thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội.

4 năm xử lý… 20 vụ

Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 3/12/2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Với 6 chương, 123 điều. Luật Cạnh tranh là một trong những văn bản luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho nền kinh tế thị trường đang hình thành và ngày càng phát triển ở nước ta. Tuy nhiên, qua hơn 4 năm áp dụng, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chẳng biết gì về Luật Cạnh tranh.

Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam cho biết, 1 năm sau khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực, Cục Quản lý Cạnh tranh có làm một cuộc điều tra và kết quả cho thấy, chỉ có 30% doanh nghiệp biết là có Luật Cạnh tranh, 70% doanh nghiệp không hề biết gì về luật này. Hiện nay, con số này đã đảo ngược, tuy nhiên, doanh nghiệp được xếp vào loại có biết về Luật Cạnh tranh thì cũng chưa thực sự hiểu luật nên chưa biết dùng luật để bảo vệ mình.

Theo Luật Cạnh tranh, các hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: gây rối; thực hiện các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi cạnh tranh không lành mạnh; các hoạt động làm hàng giả, hàng nhái; thỏa thuận ấn định giá hàng hóa; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ…

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG: BIA, NƯỚC NGỌT MỞ NẮP RỒI, BIẾT KÊU AI?

VĂN NAM – HOÀNG DŨNG

Bốn chai bia mở ra hoảng hồn vì thấy màu trắng đục, chua như giấm, một chai nước cam mở ra uống gần hết giật mình thấy thuỷ tinh dưới đáy chai, nhưng sản phẩm đã mở rồi chẳng biết kêu ai?

Anh Ngô Văn Định ở Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội ngày13/9/2009 có mua một chai nước cam ép nhãn hiệu Splash của Công ty TNHH Nước giải khát Coca-cola Việt Nam tại cửa hàng bán lẻ gần nhà về cho trẻ nhỏ uống, khi uống gần hết thì phát hiện đáy có một mảnh thuỷ tinh. Anh Định đã liên hệ với VietNamNet để phản ánh đến nhà sản xuất.

Ngày 16/9/2009 đã có buổi làm việc 3 bên gồm khách hàng, đại diện Coca-cola Việt Nam và phóng viên VietNamNet. Biên bản làm việc ghi nhận sản phẩm là một chai nhãn hiệu Splash loại 240ml đã được mở nắp có mảnh thuỷ tinh bên trong (có 1 mảnh to kích thước lọt qua miệng chai và một số mảnh nhỏ). Trong chai còn có ít nước và tép cam. Sau khi ghi nhận, đại diện nhà sản xuất hứa sẽ có câu trả lời sau 4 ngày.

Ngày 24/9/2009, anh Khúc Đình Dũng (Hà Nội) mời đồng nghiệp đến một nhà hàng trên đường Trần Duy Hưng dự tiệc sinh nhật. Khi mở sang két bia thứ hai, các thực khách phát hiện 2 chai bia rót ra có "màu trắng đục, mùi chua như giấm".

Anh Dũng mở thêm 2 chai; cả 2 chai này đều có hiện tượng tương tự. Nhà hàng khi biết sự việc đã đề nghị anh Dũng đổi một két mới nhưng anh từ chối, yêu cầu làm rõ sự việc này với nhà sản xuất.

Anh Dũng đã liên hệ với một số cơ quan báo chí và Tổng công ty Bia-Rượu-Nứơc giải khát Hà Nội (Habeco) đề nghị đến xem xét và giải quyết sự việc. Sau đó Habeco đã cử hai nhân viên  xuống nhà hàng gặp trực tiếp khách hàng và xem sản phẩm. Hai nhân viên này ghi nhận sản phẩm bằng văn bản, hẹn với anh Dũng sẽ có câu trả lời,  4 chai bia lỗi được để lại trên bàn nhà hàng.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CUỘC CHIẾN GIÀNH TRẺ THƠ

HOÀNG YẾN

Một bên là mẹ ruột, một bên là “người dưng” nhưng lại chăm sóc, nuôi nấng, yêu thương cháu bé từ lúc còn thơ ấu…

Tháng 11-2006, chị M. nộp đơn xin ly hôn đến TAND quận 6 (TP.HCM). Theo đơn khởi kiện, chị sống chung với anh C. không đăng ký kết hôn từ tháng 12-2002. Chỉ hai tháng sau, chị nhận thấy giữa hai người có nhiều điều không hợp nên không tiếp tục chung sống nữa. Giữa họ không có con chung cũng như tài sản chung gì. Chị chỉ có một đứa con riêng tên B., sinh tháng 9-2002, hiện gia đình anh C. đang nuôi giữ. Nay chị xin được ly hôn và xin được nhận lại con.

Giao quyền nuôi con cho mẹ ruột

Ngược lại, anh C. kể rằng anh và chị M. sống chung từ năm 2000, có một con chung là cháu B. Đến tháng 12-2002, chị M. bỏ nhà đi nơi khác nên anh và gia đình đã chăm sóc bé B. cho đến nay.

Thụ lý vụ án, TAND quận 6 đã quyết định trưng cầu giám định để xác định ADN của cháu B. Theo kết quả giám định, anh C. không phải là cha ruột của cháu. Sau đó, anh C. đồng ý ly hôn với chị M., trả lại cháu B. cho chị nhưng yêu cầu chị phải trả 180 triệu đồng chi phí mà cha mẹ anh đã bỏ ra nuôi cháu từ lúc cháu mới bốn tháng tuổi. Riêng cha mẹ của anh C. thì không đồng ý giao trả cháu vì cho rằng chị M. đã bỏ rơi con.

Xử sơ thẩm hồi tháng 8-2008, TAND quận 6 đã quyết định không công nhận chị M. và anh C. là vợ chồng. Cháu B. không phải là con của anh C. nên gia đình anh C. phải giao trả cháu cho mẹ ruột. Về phía chị M. cũng phải thanh toán cho gia đình anh C. hơn 45 triệu đồng chi phí nuôi cháu bé.

Ngay sau đó, anh C. kháng cáo yêu cầu TAND TP xử lại. Còn chị M. cũng kháng cáo về số tiền tòa sơ thẩm buộc chị phải trả cho gia đình anh C. bởi theo chị, gia đình anh C. giữ con chị trái ý muốn, chị đã đòi nhiều lần nhưng không trả.

Continue reading

MỘT SỐ THÀNH TỰU CẢI CÁCH CHÍNH PHỦ THEO YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

THS. NGUYỄN PHƯỚC THỌ – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tăng cường tính pháp quyền mà trọng tâm là cải cách Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước được chính thức đề ra tại Nghị quyết Đại hội VII của Đảng (năm 1991). Đến nay, sau gần 20 năm, công cuộc cải cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều mặt. Trong đó, có một số thành tựu cần được phân tích, đánh giá khách quan, đầy đủ, để có thể kế thừa và phát huy trong việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính đồng bộ với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cũng như đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị nói chung.

1. Những quy định mới của Hiến pháp năm 1992 bảo đảm vị trí độc lập tương đối của Chính phủ

Thành tựu quan trọng nhất về mặt thể chế là những quy định mới của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa, bổ sung đổi năm 2001) về vị trí, vai trò của Chính phủ, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy cải cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Bước vào thực hiện cơ chế thị trường, yêu cầu về nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước đối với mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trở nên ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Chính phủ. Cơ quan hành pháp phải có đủ quyền lực và có khả năng sử dụng quyền lực một cách linh hoạt, nhanh nhạy để đối phó có hiệu quả với diễn biến của tình hình thực tế. Chính vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1). Quy định rất quan trọng này của Hiến pháp năm 1992, một mặt tuân thủ yêu cầu của nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất và nguyên tắc phân công, phối hợp quyền lực, mối quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp, mặt khác, bảo đảm tính độc lập tương đối của quyền hành pháp trong quan hệ với quyền lập pháp, quyền tư pháp, qua đó đề cao vai trò của hành pháp, tạo cơ sở cho Chính phủ quyền độc lập và chủ động, linh hoạt, nhanh nhạy trong quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: MỘT ÔNG BỐN BÀ

THANH TÙNG

Cưới vợ đầu có đăng ký nhưng không ly hôn; vợ hai không đăng ký nhưng lại được ly hôn. Tiếp tục cưới vợ ba, vợ tư một cách vô tư.

Chánh án TAND huyện Bến Lức (Long An) Trương Ngọc Thành vừa cho biết sẽ phải ngưng giải quyết vụ ông N. xin ly hôn với bà vợ ba để xử lý cho xong hôn nhân giữa ông N. với bà vợ đầu. Đây là trường hợp hy hữu khiến các cơ quan chức năng phải dở khóc dở cười.

10 năm cưới ba vợ

Năm 1994, ông N. cưới bà vợ đầu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Bửu (Bến Lức). Hôn nhân giữa họ tồn tại rất ngắn ngủi rồi đường ai nấy đi.

Năm 1996, khi chưa ly hôn, ông N. đã làm đám cưới rồi sống chung không hôn thú với bà vợ hai. Một năm sau, họ sinh được một con chung. Rồi do mâu thuẫn, họ xin ly hôn. Lẽ ra phải xác định đây là hôn nhân trái pháp luật thì năm 1999, TAND huyện Bến Lức lại cho ông N. ly hôn bà vợ hai và giải quyết các yêu cầu về tài sản chung, quyền nuôi con, cấp dưỡng.

Năm 2000, ông N. lại tổ chức đám cưới và sống chung với bà vợ ba, có một con chung, đến năm 2004 thì được chính… xã Tân Bửu cho đăng ký kết hôn. Tháng 7-2008, lấy lý do bà vợ ba bỏ đi theo người khác, ông N. làm đơn xin ly hôn bà này.

Thụ lý, TAND huyện Bến Lức té ngửa vì thấy sự việc quá phức tạp, bèn yêu cầu UBND xã Tân Bửu xác minh, cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của ông N. Tháng 7-2009, UBND xã Tân Bửu trả lời rằng khi ông N. đến xã đăng ký kết hôn với bà vợ ba thì ông khai chỉ có một vợ, đã được tòa cho ly hôn vào năm 1999 (bà vợ hai) và đưa ra bản án của tòa. Dựa vào đó, cán bộ tư pháp xã mới cho ông đăng ký kết hôn.

Continue reading