KHÔNG NÊN ĐẶT GIÁ TRẦN

 GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Đặt giá trần để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) là một mục tiêu tốt. Nhưng biện pháp này vừa không thích hợp để đạt mục tiêu, vừa gây nhiều hậu quả tiêu cực, không thể thực hiện được một cách nghiêm túc, vừa là một biện pháp kém hiệu quả nhất.

Doanh thu, lợi nhuận của các công ty sản xuất kinh doanh sữa (cty sữa) không ngừng tăng chứng tỏ NTD có khả năng và sẵn sàng trả giá cao để mua sữa. Bảo vệ quyền lợi NTD ở đây, do đó, không phải là hạ giá sữa để ai cũng có thể mua sữa, mà là sao cho họ mua được sữa có chất lượng tương xứng với đồng tiền bỏ ra. Bản thân việc giá sữa cao không phải là vấn đề , giá cao qúa đáng so với chất lượng sữa mới là vấn nạn cần giải quyết.

Đặt giá trần, trong khi không có cơ chế khuyến khích, biện pháp kiểm soát tương quan chất lượng-giá cả như hiện nay, khiến các cty sữa giảm chất lượng mặt hàng đang có chất lượng cao hơn để bảo đảm mức lợi nhuận. Sữa thực sự có chất lượng tốt sẽ dần biến mất trên thị trường, NTD chỉ còn được lựa chọn giữa các loại sữa chất lượng tầm tầm. Sữa có giá thấp phục vụ NTD có thu nhập thấp, sẽ ăn theo, nâng giá cho sát với giá trần. Sự khác biệt giá cho một loại sữa của một cty nhằm đáp ứng sự khác biệt theo vùng, phù hợp sức mua của từng phân nhóm người mua không còn nữa. Hậu quả là nhóm NTD tại phân khúc thị trường đang được hưởng giá thấp cho cùng một loại sữa sẽ phải trả tiền nhiều hơn. NTD có thu nhập cao, có nhu cầu và khả năng trả tiền nhiều hơn để sử dụng sữa có chất lượng đặc biệt hơn bình thường sẽ không tìm thấy loại sữa đó. Không ai dại dột cạnh tranh bằng chất lượng khi giá bán bị khống chế. Rốt cuộc, dù NTD có thể mua sữa với giá thấp hơn, nhưng với chất lượng thấp hơn và khả năng lựa chọn sữa chất lượng tốt giảm, họ vẫn phải trả giá cao hơn cho nhu cầu sử dụng sữa.

Continue reading

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ – NHỮNG NỘI DUNG DOANH NGHIỆP CẦN QUAN TÂM

MINH ĐỨC

Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ… Sau đây là nội dung Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, một trong những loại Hợp đồng thương mại quốc tế thường gặp có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài). Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước.

– Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình:tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau (Điều 1 của Công ước).

Nếu các bên giao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ. Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Continue reading

“NHẦM LẪN” THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: XUẤT HIỆN KHÔNG ÍT BẤT CẬP

HOÀNG THƯ

Chế định “nhầm lẫn” chính thức xuất hiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ Pháp lệnh hợp đồng dân sự (hết hiệu lực năm 1996), tiếp đến là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 (hết hiệu lực năm 2006) và hiện nay là BLDS năm 2005. So với Pháp lệnh hợp đồng dân sự và BLDS 1995 về nhẫm lẫn, BLDS 2005 đã có sự sửa đổi. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng chế định này lại gây nên một số bất cập về khái niệm nhầm lẫn, nguyên nhân gây nhầm lẫn… rất cần phải sửa đổi trong thời gian tới.

Không có định nghĩa “nhầm lẫn”

BLDS 2005 cho phép, hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn nhưng lại không đưa ra định nghĩa “nhầm lẫn”. Vì vậy, trong thực tiễn, có nhiều hợp đồng giao dịch đã được Toà án xác định là có nhầm lẫn mà không lý giải tại sao đó là nhầm lẫn. Theo TS. Đỗ Văn Đại (Đại học Luật TP. HCM), nếu phân tích kỹ thì không hiếm trường hợp kết luận của Toà án về sự tồn tại của “nhầm lẫn” có thể hoàn toàn khác.

Ông Đại dẫn chứng, hai đương sự ký kết hợp đồng thuê nhà, sau đó có tranh chấp và lôi nhau ra Toà. Toà nhận định, người cho thuê không phải là chủ sở hữu mà chỉ là đồng thừa kế ngôi nhà nên việc ký hợp đồng cho thuê nhà là giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn… Còn người cho thuê khẳng định, đã cung cấp đầy đủ giấy tờ nhà, giao chìa khoá nhà và đã nói với người thuê những thông tin trên. Nếu đúng như vậy thì không có nhầm lẫn vì người thuê đã biết sự việc. Ông Đại lý giải, có lẽ Toà án đã “tuỳ tiện” xác định có nhầm lẫn là do BLDS 2005 không định nghĩa khái niệm này.

Thiếu nguyên nhân gây nhầm lẫn

BLDS 2005 dự liệu 2 nguyên nhân gây nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của một bên làm cho hợp đồng vô hiệu. Song thực tế lại xảy ra trường hợp một bên nhầm lẫn mà bên kia hoàn toàn “không có lỗi” và không thể suy luận được ai trong hai bên có lỗi. Ví dụ, bên bán và bên mua cùng nghĩ tài sản là đồ cổ của thế kỷ thứ 15. Một thời gian sau, cả 2 bên lại biết được đây là đồ cổ của thế kỷ thứ 12. Rõ ràng, 2 bên đều nhầm lẫn và nhẫm lẫn của bên bán, không hề có lỗi của bên mua.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT HIỆN NAY CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

TS. NGUYỄN NGỌC BẢO – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Lãi suất là giá cả của vốn tiền tệ, là  một chỉ số kinh tế tổng hợp, chịu tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô, tài chính- tiền tệ ở trong nước và ngoài nước. Các ngân hàng thương mại (NHTM) ấn định lãi suất kinh doanh (huy động và cho vay vốn) dựa trên cơ sở cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương (NHTW), xu hướng cung – cầu vốn thị trường, lạm phát, mức độ rủi ro và lãi suất thị trường quốc tế. Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của NHTW các nước thay đổi theo hướng tự do hoá.

Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ ở mỗi nước, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

– Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.

Continue reading

BẰNG CẤP VÀ NĂNG LỰC

DIỆP VĂN SƠN

"Cán bộ yếu thì cho đi học, bắt cán bộ giỏi làm thay; đến khi bổ nhiệm thì nhờ có bằng cấp nên cán bộ yếu được đề bạt…"- Chủ tịch nước từng kể lại.

Ðể xem xét việc đòi hỏi công chức lãnh đạo có bằng cấp tiến sĩ có hợp lý hay không, nên tìm hiểu thêm về phương thức quản lý công chức trên thế giới và cũng đang được tiến tới áp dụng ở nước ta. Đó là, hệ thống chức nghiệp và hệ thống theo việc làm hay còn gọi là theo vị trí.

Hai hệ thống quản lý công chức

Theo Hệ thống chức nghiệp thì công chức được tổ chức theo các ngạch và theo ngành chuyên môn. Mỗi ngạch có tiêu chuẩn riêng, muốn được bổ nhiệm chính thức vào ngạch thì phải thi tuyển, muốn được nâng ngạch thì phải tham gia các kỳ thi nâng ngạch. Mỗi ngạch có một bảng tiền lương thích ứng. Theo hệ thống này thì việc đào tạo gắn liền với việc tuyển dụng công chức. Tiền lương của công chức được khuyến khích theo thâm niên và theo các kỳ thi nâng ngạch.

Nước Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh, một số nước khác ở châu Âu và nhiều nước châu Á theo hệ thống này. Tuy vậy, hệ thống này có một số hạn chế nhất là nếu công tác theo dõi, đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ hàng năm không tốt sẽ không khuyến khích công chức phát huy hết năng lực trong công tác.Hiện nay đang chủ trương áp dụng hệ thống này đối với công chức thừa hành .

Hệ thống theo việc làm hay còn gọi là theo vị trí công việc là phải thiết kế, xác định yêu cầu, tiêu chuẩn cho từng vị trí cụ thể của công chức. Việc thi tuyển vị trí công chức bố trí vào các vị trí công việc không chỉ căn cứ vào bằng cấp.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ: KHÁI NIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ

BÙI QUANG DŨNG

Xã hội dân sự hiện đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà họach định chính sách quan tâm. Khái niệm "xã hội dân sự” xuất hiện khá sớm ở Châu Âu. Các đinh nghĩa phổ biến về "xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình. Theo đó, xã hội dân sự được tạo lập bởi các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại và những tổ chức truyền thông, giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức. Ở Việt Nam, ngoài các tổ chức xã hội truyền thông, nhiều tổ chức xã hội mới đã và đang ra đời. Các tổ chức đó đang tích cực tham gia và đóng góp vào nhiều họat động xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong điều kiện mới.

Hiện nay, không một tư duy về hoạch định chính sách phát triển nào có thể tránh bàn luận tới vấn đề "xã hội dân sự". Xã hội dân sự trở thành một điểm then chất trong các cuộc thảo luận của cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà họach định chính sách, đặc biệt tại tác nước đang ở trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Bài viết này trình bày những nội dung chủ yếu liên quan tới vấn đề xã hội dân sự, cụ thể là một số vấn đề chung và những thảo luận sơ bộ về tình hình "khu vực dân sự" ở Việt Nam trong quá trình đổi mới.

Khái niệm "xã hội dân sự”

"Xã hội dân sự" là khái niệm xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là những con người sống trong cộng đồng. Sau đó, khái niệm này có hai nghĩa. Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII), xã hội dân sự có nghĩa là xã hội văn minh với một Nhà nước không độc đoán. Đến thế kỷ XIX, ở nước Đức, trong các trước tác chính trị của Hêgen, thuật ngữ xã hội dân sự phân biệt với Nhà nước. Hêgen mô tả xã hội dân sự như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố gia đình, xã hội dân sự và Nhà nước, khái niệm hàm nghĩa lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận. Nhà triết học này nhấn mạnh rằng, một xã hội dân sự tự tổ chức cần phải do Nhà nước cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã hội đó sẽ trở thành tư lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung.

Continue reading

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÃ KHỞI KIỆN ĐÒI CÔNG TY CŨ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 165 TRIỆU ĐỒNG

PHƯƠNG THƯ

Ngày 28-9 – 2009, TAND TP.HCM đã xử vụ ông MTH kiện đòi Tổng Công ty Phát triển phát thanh truyền hình thông tin (EMICO) bồi thường 165 triệu đồng vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Vụ kiện khá lạ bởi nguyên nhân ông H. bị sa thải là do… xin đi du học nước ngoài.

Đơn phương đuổi việc

Tháng 3-2005, ông H. được Chi nhánh tại TP.HCM của Công ty Ứng dụng phát triển phát thanh truyền hình (BDC) ký hợp đồng lao động với thời hạn sáu tháng. Hợp đồng hết hạn, hai bên không ký hợp đồng lao động mới nhưng ông H. vẫn tiếp tục làm việc. Tháng 5-2006, ông H. gửi đơn xin đi du học nước ngoài với nội dung là yêu cầu công ty hỗ trợ về tài chính, thủ tục. Tuy nhiên, khoảng hai tháng sau, giám đốc chi nhánh đã ra quyết định cho ông H. nghỉ việc.

Lý giải, giám đốc chi nhánh cho biết BDC không có chính sách đưa nhân viên đi du học nước ngoài. Ông đã giải thích miệng với ông H. về việc này. Mặt khác, ông nghĩ lá đơn của ông H. có ý nghĩa như thông báo sắp nghỉ việc nên ông đã ra quyết định trên để ông H. có thời gian thực hiện kế hoạch du học của mình.

Về phần mình, ông H. lại nói trước đây chính giám đốc BDC đã gợi ý ông làm hồ sơ xin du học để công ty hỗ trợ. Nghe vậy, ông rất phấn khởi, thông báo với gia đình, bạn bè và nhận được không ít lời chúc tụng. Đến khi có quyết định cho nghỉ việc, không chỉ bản thân ông bị sốc mà mẹ ông (gần 80 tuổi) cũng buồn phiền, lâm bệnh nặng…

Để kiện quyết định trên, ông H. gặp không ít khó khăn. Lúc ông vào làm việc thì chi nhánh thuộc BDC. Chỉ một tháng sau khi ông nghỉ, BDC sát nhập vào EMICO và chi nhánh ông từng làm việc trở nên bơ vơ vì không có tên trong danh sách sát nhập. Thời gian này ông H. bối rối, không xác định được ai là bị đơn. Nếu kiện chi nhánh thì tòa sẽ từ chối nhận đơn vì chi nhánh không có tư cách pháp nhân, muốn kiện BDC thì BDC đã không còn, cả EMICO lúc đó cũng không liên quan.

Continue reading