BÀN VỀ NÔNG THÔN TỪ GÓC NHÌN SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT

PGS. TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

"Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân. Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công." – TS. Phạm Duy Nghĩa

Dù nhìn gần hay xa, bao giờ nông thôn cũng là tương lai của một xứ nông nghiệp. Ai giữ được nông dân, người ấy thường kiểm soát được nhiệt độ của chảo lửa chính trị quốc gia. Sự ổn định của nước ta phụ thuộc vào cách mà các nhà chính trị đối xử với nông dân.

Hiện nay có ba nguy cơ rất rõ ràng đối mặt với những người dân quê, đó là: (i) nông dân mất ruộng, (ii) nông dân chán ruộng, (iii) nông dân chán chốn thôn quê. Ly nông, ly hương, ly tán bất đắc dĩ, những vấn đề xã hội của nông dân có thể trở thành những quả bom nổ chậm.

Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân.

 Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Có vẻ như một hạt thóc mang lại nhiều lời hơn cho người giữ độc quyền buôn bán giống, phân bón hay kênh xuất nhập khẩu gạo hơn là chút lợi rơi sót lại cho người nông dân.

Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công. Một khi điện, đường, trường, trạm, y tế, cây xanh, điện thoại cho tới truyền hình cáp ở đô thị đều sẵn, tốt và rẻ hơn ở nông thôn, thật chẳng ngạc nhiên khi phố chật chội với lao động nhập cư, trong khi thôn quê dần trở nên heo hút với người già và con trẻ.

Continue reading

Tập đoàn, tổng công ty nhà nước và ĐẦU TƯ NGOÀI NHIỆM VỤ CHÍNH

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa X, XI

Tháng 3.2008, khi khủng hoảng kinh tế thế giới còn chưa bộc phát, trong một bài báo (1), tôi đã lưu ý một mảng chưa sáng của nền kinh tế cần hết sức quan tâm. Đó là chi tiêu và đầu tư của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

Chưa sáng vì hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế quan trọng này, trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …), trong nhiều năm liền, thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng rất nhiều ưu đãi (từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, từ đất đai…). Xem Bảng (2). Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm 2006 và 2007 là không nhỏ.

Cử tri băn khoăn một cách rất chính đáng về hiệu quả hoạt động, vì trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, hiệu quả thế nào, đã tận dụng cơ hội từ việc Việt Nam gia nhập WTO ra sao, thì nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động ngoài nhiệm vụ chính một cách ồ ạt, đặc biệt trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán và kinh doanh bất động sản.

Lo âu của cử tri là với hoạt động như vậy thì làm thế nào các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước gánh vác được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia và đặc biệt khi các “bong bóng” vỡ hàng loạt thì ai sẽ gánh chịu hậu quả?

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cuối tháng 7.2009 về kết quả kiểm toán năm 2008 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2007 xác nhận những băn khoăn và âu lo trên là có cơ sở.

Continue reading

TẠP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NGOÀI NHIỆM VỤ CHÍNH

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa X, XI

Tháng 3.2008, khi khủng hoảng kinh tế thế giới còn chưa bộc phát, trong một bài báo (1), tôi đã lưu ý một mảng chưa sáng của nền kinh tế cần hết sức quan tâm. Đó là chi tiêu và đầu tư của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

Chưa sáng vì hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế quan trọng này, trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …), trong nhiều năm liền, thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng rất nhiều ưu đãi (từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, từ đất đai…). Xem Bảng (2). Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm 2006 và 2007 là không nhỏ.

Cử tri băn khoăn một cách rất chính đáng về hiệu quả hoạt động, vì trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, hiệu quả thế nào, đã tận dụng cơ hội từ việc Việt Nam gia nhập WTO ra sao, thì nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động ngoài nhiệm vụ chính một cách ồ ạt, đặc biệt trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán và kinh doanh bất động sản.

Lo âu của cử tri là với hoạt động như vậy thì làm thế nào các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước gánh vác được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia và đặc biệt khi các “bong bóng” vỡ hàng loạt thì ai sẽ gánh chịu hậu quả?

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cuối tháng 7.2009 về kết quả kiểm toán năm 2008 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2007 xác nhận những băn khoăn và âu lo trên là có cơ sở.

Continue reading

VĂN HÓA VÀ TRẬT TỰ TẠI TÒA ÁN: THẨM PHÁN NGÁN CẢNH “NÁO TỤNG ĐÌNH”

HỒ KHẢI HÀ

Bài mà các đương sự thường diễn nhất là dọa nạt, thóa mạ, xúc phạm, lớn tiếng với thẩm phán, với các đương sự khác.

1. Cách đây chưa lâu, TAND quận 1 (TP.HCM) thụ lý giải quyết một vụ đòi bồi thường uy tín, danh dự bị xâm phạm. Quá trình hòa giải, vị thẩm phán phụ trách nhiều phen hết hồn vì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở phía nguyên đơn quậy tưng.

Có lần tòa đang chăm chú cho hai bên hòa giải thì người này đã bất thần quay sang định bạt tai phía bị đơn. Cũng đang tập trung nghe thẩm phán hòa giải, phía bị đơn giật nảy mình, tái người vì giận kiểu xử sự thiếu văn hóa. Cũng may cho các bên là luật sư của nguyên đơn đi theo đã kịp can ngăn để người này hạ hỏa.

Ngoài chuyện này thì chuyện đập bàn, nói lớn tiếng gần như lúc nào cũng xảy ra khi các bên ngồi lại với nhau. Vị thẩm phán ngán ngẩm lắc đầu, giải quyết vụ này mà lòng cứ hồi hộp, lo lắng không yên. Ngại nhất là những lúc đương sự bất thần giở trò, thẩm phán không biết xoay xở sao cho kịp.

Chuyện thẩm phán của tòa quận 1 vướng phải thực ra không phải là cá biệt. Trước đây, một thẩm phán ở TAND quận Phú Nhuận (TP.HCM) cũng muốn lên “tăng xông” vì đương sự quậy quá cỡ trong một vụ đòi nợ. Nguyên do là hai bên bất đồng quan điểm rất căng nên khi hòa giải thì họ lại cãi nhau um trời.

Một lần tòa kêu gọi hai bên bình tĩnh và đưa ra một hướng giải quyết để cả hai cùng có lợi thì ngay lập tức, một bên lớn tiếng trách tòa đã thiên vị bên kia. Quá đà hơn, đương sự còn đứng dậy, vung tay, đập bàn đập ghế la hét làm náo loạn cả phòng hòa giải. Thấy đương sự hung hăng quá, thẩm phán thụ lý giải quyết phải cầu cứu đến công an. Tuy nhiên, khi lực lượng này xuất hiện thì đương sự này lại ngoan ngoãn như đất khiến tòa cũng không xử lý gì thêm được.

Continue reading

XEM XÉT DỰ ÁN LUẬT TẠI ỦY BAN THUỘC QUỐC HỘI: GIAI ĐOẠN ĐỘC LẬP VÀ QUAN TRỌNG TRONG QUI TRÌNH LẬP PHÁP

TRƯỜNG KHANH

Để hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nghị quyết số 48-NQ/TƯ năm 2005 của Bộ Chính trị đã đề ra nhiệm vụ rất quan trọng là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Và, một trong những “con đường” giúp nhiệm vụ này sớm đi đến đích chính là hoạt động thẩm tra các VBQPPL của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thuộc Quốc hội nước ta sao cho các đặc tính như tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất… của pháp luật luôn được đảm bảo. Hiện nay, tại nhiều nước trên thế giới, hoạt động này có nhiều điểm rất đáng để nghiên cứu và vận dụng, nhất là khi Quốc hội Việt Nam đang nỗ lực đổi mới tổ chức và các mặt hoạt động.

“Giai đoạn Ủy ban” – quyết định sự sống còn của một dự án luật

Cũng tương tự như ở Việt Nam, tại nhiều nước trên thế giới, một dự án luật dù muốn hay không cũng không thể nào bỏ qua quy trình thẩm tra tại các Ủy ban thuộc Quốc hội hoặc Nghị viện (tên gọi tùy theo thể chế nhà nước và chế độ chính trị của mỗi nước). Giai đoạn xem xét dự án luật tại các Ủy ban này thường được gọi tắt là “giai đoạn Ủy ban” và ở nhiều quốc gia đây chính là giai đoạn quyết định sự sống còn của một dự án luật.

Vậy, vì sao “giai đoạn Ủy ban” lại quan trọng và có quyền lực cao đến vậy? Bởi, Ủy ban chính là diễn đàn của các nghị sĩ có kiến thức chuyên sâu về ngành, lĩnh vực với đại diện các nhóm lợi ích và các nhóm cử tri để phân tích, thảo luận cả về nội dung chính sách và kỹ thuật lập pháp được thể hiện trong dự án luật. Hay nói cách khác, Ủy ban chính là nơi cung cấp cho Nghị viện những kiến thức chuyên sâu nhất về chính sách được thể hiện trong dự luật và cũng chính là nơi giải quyết những vấn đề kỹ thuật pháp lý của dự luật. Chính vì thế, kinh nghiệm tại nhiều quốc gia đều gặp nhau ở một nhận định: khi xem xét một dự án luật Ủy ban đã tạo ra những khoảng không gian và thời gian cần thiết để phân tích và thảo luận về dự luật một cách hiệu quả hơn so với phiên họp toàn thể của Nghị viện. Và, việc duy trì một hệ thống Ủy ban hoạt động có hiệu quả sẽ tác động rất lớn đến hiệu quả, chất lượng của hoạt động lập pháp.

Continue reading

NHÀ CAO TẦNG – KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN

TẠP CHÍ KIẾN TRÚC –  Lên đến 183.784 căn hộ vào đỉnh điểm trong năm 2000, việc cung cấp các căn hộ tại Nhật Bản hiện đang tiếp tục suy giảm dần dần tại các đô thị lớn và vùng ngoại ô. Việc cung cấp căn hộ tập trung tại những khu vực giao thông thuận tiện và dịch vụ công cộng tốt đang gia tăng, đồng thời giảm mạnh tại những khu vực không thích hợp xây dựng chung cư như: vùng ngoại ô của các đô thị cực lớn.

Nhà ở cao tầng tại Nhật Bản, định hướng và những thành công đạt được

Người Nhật đặt tiêu chuẩn nào để đánh giá chất lượng ở của chung cư?

Chung cư Nhật muốn được xem là cao cấp, ngoài thiết kế, trang thiết bị sang trọng, giá cả và vị trí tương xứng, còn phải đáp ứng nhu cầu tiện lợi giao thông, cảnh quan đẹp, không gian công cộng và không gian trống công cộng cao cấp. Ngay cả khi quy mô khu đất đủ lớn để xây dựng chung cư cao cấp, giá cả, vị trí, thiết kế và trang thiết bị hợp lý, người ta cũng không thể gọi những chung cư này là hoàn hảo, trừ khi chúng đáp ứng được yêu cầu về giao thông.

Lên đến 183.784 căn hộ vào đỉnh điểm trong năm 2000, việc cung cấp các căn hộ tại Nhật Bản hiện đang tiếp tục suy giảm dần dần tại các đô thị lớn và vùng ngoại ô. Việc cung cấp căn hộ tập trung tại những khu vực giao thông thuận tiện và dịch vụ công cộng tốt đang gia tăng, đồng thời giảm mạnh tại những khu vực không thích hợp xây dựng chung cư như: vùng ngoại ô của các đô thị cực lớn. Tai đây, việc xây dựng chung cư giảm mạnh đã chuyển thành nơi xây dựng các nhà ở biệt lập trong khi việc xây dựng chung cư tập trung mạnh tại trung tâm của Tokyo.

Thực ra chung cư là một hình thức nhà ở cho phép cư dân được sống gần những khu thương mại dịch vụ. Sống trong chung cư đồng nghĩa với việc có được lợi thế về nhiều tiện nghi của đô thị hiện đại trong cuộc sống hàng ngày, được hưởng dụng tiện nghi và trang bị của các đô thị cũng như truyền thống lịch sử, hưởng dụng mặt nước và cảnh quan mảng xanh.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG – NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN

LS. LÊ TRUNG SƠN – Giám đốc Công ty Luật Niềm Tin Việt

Nền kinh tế hội nhập ngày càng phát triển đòi hỏi phải có đội ngũ lao động lành nghề, làm chủ được công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, như vậy mới tạo ra được năng suất lao động cao, tạo ra được sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao tính cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác. Để thực hiện được điều này, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư cho người lao động trong doanh nghiệp mình được học tập nâng cao tay nghề, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong thực tế có một số doanh nghiệp đã và đang gặp phải vấn đề đó là, sau khi được đào tạo, được tiếp thu kiến thức về kinh doanh, về khoa học kỹ thuật thì người lao động lại bỏ doanh nghiệp đã đài thọ cho mình đi học để tìm đến những doanh nghiệp khác với nhiều lý do khác nhau. Điều này làm cho doanh nghiệp “vừa mất người vừa mất của”.

Người đã muốn ra đi thì khó mà giữ lại được đã đành, vậy còn số tiền đã bỏ ra để cho người lao động ăn học có lấy lại được không? người lao động có buộc phải trả không? Có phải bồi thường không? Đó là những câu hỏi mà nhiều doanh nghiệp đang đặt ra.

Để giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin nêu ra một tình huống như sau:

Ông Nguyễn Văn A tốt nghiệp Đại học Bách khoa chuyên ngành tự động hoá, là chuyên viên kỹ thuật của Công ty X – một công ty chuyên lắp ráp thiết bị điện tử. Ông A làm việc cho công ty X trên cơ sở Hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Quá trình làm việc tại doanh nghiệp, ông A thể hiện là một kỹ sư có năng lực, chính vì vậy, công ty có kế hoạch gửi ông A sang Nhật Bản để học tập nâng cao trình độ với mong muốn sau khi trở về sẽ bổ nhiệm làm giám đốc kỹ thuật phục vụ lâu dài cho công ty. Kế hoạch này công ty đã trao đổi với ông A và ông A hoàn toàn đồng ý. Để ràng buộc trách nhiệm giữa hai bên, trước khi đi học, công ty X và ông A cùng ký một văn bản thoả thuận với nội dung: Công ty sẽ đài thọ cho ông Nguyễn Văn A đi học tập nâng cao trình độ về thiết bị điện tử và tự động hoá tại Nhật Bản với toàn bộ kinh phí là 40.000 USD trong thời gian 1 năm. Sau khi học xong, ông Nguyễn Văn A cam kết sẽ làm việc cho công ty X trong thời gian ít nhất là 7 năm. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn A không làm việc cho công ty khi chưa hết thời hạn 7 năm theo cam kết thì ông A sẽ phải bồi thường cho công ty toàn bộ số tiền mà công ty đã bỏ ra để đài thọ cho ông A đi học.

Continue reading