MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực chất, nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng. Các kết quả đạt được là rất đáng kể. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đã đi tới nhất trí và đồng thuận, kể cả trên những nét lớn. Cho dù vậy, trên quan điểm mác-xít chúng ta cũng vẫn có cơ sở để khẳng định những lý luận của C.Mác về tư bản và chủ nghĩa tư bản, của Lê-nin về chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở để xác định nguyên nhân sâu xa, mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản phát triển nhất hiện nay. Ngoài ra, xin được nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:

Trước hết, về quy mô của cuộc khủng hoảng

Đây là cuộc khủng hoảng toàn cầu, với sức tàn phá và quy mô tác động mà chỉ có cuộc Đại Suy thoái 1929 – 1933 mới có thể so sánh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này lại có những đặc trưng nổi bật trên nhiều phương diện – cơ chế lan truyền, sức lan tỏa, những đặc điểm cấu trúc, hệ quả và phương thức khắc phục.

Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này không đơn thuần là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như nhiều cuộc khủng hoảng trước. Phải chăng sự khác biệt là ở chỗ cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này là sản phẩm của chính quá trình toàn cầu hóa? Nếu đúng là như vậy thì điều đó có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng lần này có những đặc trưng rất mới. Tức là nó có những nét mới trong tính chất, trong cơ chế vận hành, trong nguyên nhân và hậu quả. Phải có những cách tiếp cận mới đến những vấn đề lý luận mới làm cơ sở cho việc thiết kế hệ giải pháp thoát khỏi khủng hoảng trong những điều kiện thế giới đã có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa. Nói khác đi, không thể chỉ dừng lại ở luận điểm cho rằng về thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này cơ bản cũng giống như những cuộc khủng hoảng trước đây, vẫn chỉ là do những mâu thuẫn có tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nói chung, do mất cân đối tiền – hàng nghiêm trọng, do thị trường tự do “lộng hành” quá mức hay do nhà nước quá chủ quan, buông lỏng quản lý v.v.., để rồi chỉ cần dựa vào những lý thuyết đã có để có các giải pháp “giải cứu”, “kích cầu” như hiện nay nhiều nước đang áp dụng là đủ.

Continue reading

MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU

GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực chất, nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng. Các kết quả đạt được là rất đáng kể. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đã đi tới nhất trí và đồng thuận, kể cả trên những nét lớn. Cho dù vậy, trên quan điểm mác-xít chúng ta cũng vẫn có cơ sở để khẳng định những lý luận của C.Mác về tư bản và chủ nghĩa tư bản, của Lê-nin về chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở để xác định nguyên nhân sâu xa, mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản phát triển nhất hiện nay. Ngoài ra, xin được nhấn mạnh thêm một số điểm sau đây:

Trước hết, về quy mô của cuộc khủng hoảng

Đây là cuộc khủng hoảng toàn cầu, với sức tàn phá và quy mô tác động mà chỉ có cuộc Đại Suy thoái 1929 – 1933 mới có thể so sánh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này lại có những đặc trưng nổi bật trên nhiều phương diện – cơ chế lan truyền, sức lan tỏa, những đặc điểm cấu trúc, hệ quả và phương thức khắc phục.

Thực tế cho thấy, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này không đơn thuần là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như nhiều cuộc khủng hoảng trước. Phải chăng sự khác biệt là ở chỗ cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này là sản phẩm của chính quá trình toàn cầu hóa? Nếu đúng là như vậy thì điều đó có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng lần này có những đặc trưng rất mới. Tức là nó có những nét mới trong tính chất, trong cơ chế vận hành, trong nguyên nhân và hậu quả. Phải có những cách tiếp cận mới đến những vấn đề lý luận mới làm cơ sở cho việc thiết kế hệ giải pháp thoát khỏi khủng hoảng trong những điều kiện thế giới đã có những thay đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa. Nói khác đi, không thể chỉ dừng lại ở luận điểm cho rằng về thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế lần này cơ bản cũng giống như những cuộc khủng hoảng trước đây, vẫn chỉ là do những mâu thuẫn có tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nói chung, do mất cân đối tiền – hàng nghiêm trọng, do thị trường tự do “lộng hành” quá mức hay do nhà nước quá chủ quan, buông lỏng quản lý v.v.., để rồi chỉ cần dựa vào những lý thuyết đã có để có các giải pháp “giải cứu”, “kích cầu” như hiện nay nhiều nước đang áp dụng là đủ.

Continue reading

BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI: TÙY THUỘC VÀO ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA MỖI NƯỚC

CẨM VÂN

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và xã hội dân sự ở nước ta hiện nay, Việt Nam cũng đang xúc tiến xây dựng cơ chế phán quyết vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Vậy, đâu sẽ là mô hình mà Việt Nam có thể áp dụng? Điều này khó có thể khẳng định bởi căn cứ vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể mà mỗi nhà nước lại xác định cho mình một mô hình hay cơ chế bảo vệ hiến pháp phù hợp.

Mô hình bảo hiến phi tập trung

Hay còn gọi là mô hình bảo hiến kiểu Mỹ, là mô hình Tòa án Tối cao và tòa án các cấp đều có chức năng và thẩm quyền giám sát tính hợp hiến, được xây dựng trên cơ sở học thuyết phân chia và kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo quan điểm của học thuyết này, hệ thống các cơ quan tòa án không những có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật của các công dân mà còn có chức năng kiểm soát, hạn chế quyền lực của các cơ quan lập pháp và hành pháp. Xây dựng bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực một cách rõ ràng, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới trao cho các tòa án quyền phán quyết về tính hợp hiến của các văn bản luật và văn bản dưới luật. Có thể nói, quyền giám sát Hiến pháp của Tòa án Tối cao Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một trong những nét đặc sắc của nền chính trị Hoa Kỳ.

Việc toà án phán quyết tính hợp hiến của các văn bản luật và văn bản dưới luật được xác định năm 1803 sau vụ án nổi tiếng của nước Mỹ – vụ án John Marbury chống Madison. Giải quyết vụ án Marbury và Madison, Chánh án Tòa án Tối cáo Marshall đã đưa ra các tuyên bố sau: Hiến pháp là luật tối cao của đất nước; những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp; Thẩm phán, người đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố huỷ bỏ những luật lệ quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp. Ba tuyên bố trên đây đã xác lập chức năng bảo hiến của toà án và quyền tài phán của toà án về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp. Dần dần mô hình này đã xuất hiện ở nhiều nước khác như Canada, Mexico, Argentina, Australia, Hy Lạp, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: THẮNG KIỆN ĐÒI BẢO HIỂM NHÂN THỌ CỦA CHỒNG QUÁ CỐ

THANH TÙNG

Tòa xác định lỗi ban đầu thuộc về nhân viên của công ty bảo hiểm nên công ty phải chi trả theo hợp đồng.

TAND quận 1 (TP.HCM) vừa xử sơ thẩm, tuyên buộc Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam (gọi tắt là Prudential) phải thanh toán cho bà V., ngụ quận Gò Vấp hơn 170 triệu đồng tiền bảo hiểm mà chồng bà được hưởng sau khi qua đời theo hợp đồng. Sau phiên xử, Prudential đã kháng cáo, cho rằng đúng ra tòa phải hủy hợp đồng vì lúc mua bảo hiểm, bà V. và chồng (ông T.) chưa phải là vợ chồng hợp pháp…

Cái chết bất ngờ

Theo đơn kiện của bà V., ngày 5-10-2006, bà làm hợp đồng mua bảo hiểm nhân thọ của Prudential cho ông T. với tổng số tiền hơn sáu triệu đồng, đóng làm hai đợt. Khi mua bảo hiểm, bà và ông T. chưa phải là vợ chồng hợp pháp nhưng 20 ngày sau họ đã đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương.

Hơn hai tháng sau, ngày 14-12-2006, ông T. về quê và bất ngờ qua đời tại Trung tâm Y tế huyện Tây Sơn (Bình Định) do bị ung thư gan. Sau cái chết của chồng, bà V. nộp giấy tờ yêu cầu và Prudential đã lập hồ sơ để giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng đã ký kết.

Tuy nhiên, đã hơn hai năm trôi qua, bà nhiều lần hối thúc nhưng Prudential vẫn khất lần với lý do: “Đang thu thập thêm thông tin từ các cơ quan chức năng”. Vì thế, bà V. đã khởi kiện yêu cầu Prudential phải chi trả cho bà 150 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm đã ký và tiền lãi của số tiền này từ khi bà cung cấp hồ sơ cho Prudential đến thời điểm hiện tại.

Continue reading

CHỦ QUYỀN VIỆT NAM VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

LÊ VĨNH TRƯƠNG – Quỹ Nghiên cứu biển Đông

Là nước nhỏ và nghèo, Việt Nam cần tạo tiếng nói ở những diễn đàn phù hợp, dựa vào những điều luật quốc tế chính danh hiện có để giữ chủ quyền. Nhưng như vậy đã đủ chưa?

Luật quốc tế

Kể từ hiệp ước Westphalia (1648), Utrecht (1713) đến hiệp ước Paris 1814 chấm dứt chiến tranh Napoleon rồi Hòa ước Versailles (1919)[2], nhân loại đương đại đã chứng kiến sự ra đời của hai văn kiện lớn có tính chất hiến pháp cho thế giới đó là Hiến chương Liên Hiệp Quốc (1945) và Công ước về Trao quyền độc lập cho các nước thuộc địa và nhân dân các nước thuộc địa (1960)[3].

Khi viết nên những văn kiện vừa nêu, các nước ký kết vừa bước ra khỏi những cuộc chiến đầy thương tích, mang trong lòng những ưu tư và cả niềm tin về một thế giới hòa bình và thịnh vượng. Các hiệp ước trên thể hiện khát vọng ngàn đời của con người là hướng thiện và mưu cầu hạnh phúc cho mình và mọi người. Khuynh hướng giải quyết quan hệ quốc tế trong các ký kết trên định hình quan điểm chủ đạo của trường phái tự do (liberalism).

Song song với cách tiếp cận nhân quần trên là quan điểm cho rằng từng quốc gia cụ thể phải được đặt ở vị trí trung tâm hành động (statism). Chính nhà nước của quốc gia đó, chứ không ai khác, phải đảm bảo mục đích sống còn cho đất nước (survival) bằng khả năng tự chuyển xoay tình thế (self-help) của mình. Cách nhìn này tạo nên quan điểm chủ đạo của trường phái thực tế (realism) trong quan hệ quốc tế.

Các tác giả Barry Buzan, Hans Morgenthau còn đi xa hơn: nghi ngờ khả năng bảo vệ công bình thế giới bằng luật quốc tế và nhấn mạnh thực tế chua chát của chính trị thực dụng (realpolitik), chính trị cường quyền (power politics). Khi đó, các quốc gia phải tìm cho mình một lợi thế so sánh nào đó trên phương diện chính sách để mưu cầu sống còn.

Continue reading

HẠ TẦNG TƯ DUY

TS. GIÁP VĂN DƯƠNG

1. Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước

Muốn phát triển đất nước, phải xây dựng được một hạ tầng tư duy vững chắc, phong phú và thông thoáng. Tư duy cần được, và phải được, giải phóng một cách triệt để. Chúng ta đã nghe nói nhiều đến tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng kinh tế, nhưng chưa nghe nói đến tầm quan trọng của hạ tầng tư duy. Vì thế, bài này đưa ra một khái niệm mới: hạ tầng tư duy, và bước đầu thảo luận vai trò của nó với công cuộc phát triển đất nước.

Hạ tầng tư duy là gì?

Hạ tầng tư duy là toàn bộ những gì góp phần khai mở, hỗ trợ, giải phóng và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng. Cấu trúc của hạ tầng tư duy gồm sáu yếu tố chính: Thành tựu tư tưởng của nhân loại (TTNL); Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời (HTT-QĐ); Cơ chế pháp lý hỗ trợ (CCPL); Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân (TQ-KN); Văn hóa, môi trường làm việc (VH-MT); Liên thông, trao đổi tư tưởng (LT-TĐ).

Cấu trúc của hạ tầng tư duy

Mỗi yếu tố có vai trò khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc hình thành hạ tầng tư duy của đất nước. Cái này hoặc làm nền, hoặc là sản phẩm gián tiếp của cái kia, hoặc thúc đẩy hỗ trợ cho cái kia hình thành và phát triển. Cụ thể:

Thành tựu tư tưởng nhân loại tạo nền tảng và khung tư duy chung cho mọi cá nhân tiếp cận và sử dụng nó, không phân biệt địa lý, sắc tộc. Một đất nước tiếp thu được càng nhiều thành tựu tư tưởng của nhân loại thì hạ tầng tư duy của đất nước đó càng phong phú, vững chắc.

Continue reading