NGHỊ ĐỊNH SỐ 87/2009/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2009 VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Căn cứ Luật Đường sắt ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Hợp tác xã ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Hải quan ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về hoạt động vận tải đa phương thức bao gồm vận tải đa phương thức quốc tế và vận tải đa phương thức nội địa.

2. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức đăng ký kinh doanh vận tải đa phương thức bao gồm: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật về hợp tác xã của Việt Nam; các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải đa phương thức.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

QUY CHẾ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH trong giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

(Ban hành kèm theo Quyết định số 112/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2009 của UBND thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

Quy chế này quy định về hồ sơ, trình tự, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan có liên quan trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

2. Đối tượng áp dụng

Quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu khi thành lập doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn đến thay đổi mã số doanh nghiệp; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế, Công an Thành phố và các cơ quan liên quan.

Điều 2. Nguyên tắc giải quyết thủ tục hành chính

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế theo quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý Thuế.

Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ và có nội dung được kê khai đầy đủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

QUY CHẾ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH TRONG GIẢI QUYẾT ĐĂNG KÝ KINH DOANH, ĐĂNG KÝ THUẾ VÀ ĐĂNG KÝ CON DẤU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THÀNH LẬP, HOẠT ĐỘNG THEO LUẬT DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 112/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2009 của UBND thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

Quy chế này quy định về hồ sơ, trình tự, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan có liên quan trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

2. Đối tượng áp dụng

Quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu khi thành lập doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn đến thay đổi mã số doanh nghiệp; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế, Công an Thành phố và các cơ quan liên quan.

Điều 2. Nguyên tắc giải quyết thủ tục hành chính

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế theo quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý Thuế.

Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ và có nội dung được kê khai đầy đủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÓ Ý KIẾN BÌNH LUẬN CỦA CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI

Dự thảo Luật này đã được một số chuyên gia Pháp và Liên Hợp quốc đóng góp ý kiến trong khuôn khổ các cuộc hội thảo do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức ngày 4-5/06/2009 và 24-25/09/2009. Đó là các chuyên gia sau đây:

1. Bà Laurence Kiffer, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

2. Ông Eric Teynier, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

3. Bà Corinne Montineri, Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

4. Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa thương mại, Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp.

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Về tiêu đề của Luật:

Chuyên gia Pháp đề xuất bỏ từ “thương mại” để mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài.

Chuyên gia Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) cho rằng nếu giữ lại từ “thương mại” thì phải xét xem liệu khái niệm “thương mại” trong luật Việt Nam có được hiểu theo nghĩa rộng không. Về vấn đề này, Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL nêu rõ “thuật ngữ thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng, nhằm bao hàm những vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ thương mại, hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng”.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Quốc hội ban hành Luật Trọng tài thương mại.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ẤM ỨC VIỆC TÒA TỪ CHỐI GIÁM ĐỊNH CHỨNG CỨ

HOÀNG LAM

Cho rằng giấy biên nhận nợ là giấy khống, bị đơn đề nghị tòa trưng cầu giám định nhưng tòa lại từ chối.

Nộp đơn khởi kiện đòi nợ, ông T. cho biết: Tháng 8-2007, bà P. vay của ông 300 triệu đồng với lãi suất thỏa thuận. Giấy biên nhận nợ có chữ ký của hai bên ghi rõ khi nào ông T. muốn lấy lại tiền, ông chỉ cần báo cho bà P. biết trước một tháng. Đến tháng 4-2008, ông T. yêu cầu bà P. trả tiền nhưng bà không trả.

Phủ nhận giấy biên nhận nợ

Bà P. khẳng định giấy biên nhận nợ do ông T. cung cấp là chứng cứ giả mạo. Bà cho biết vào năm 2007, bà có mua 300 m2 đất và nhờ ông T. làm giúp thủ tục tách thửa. Khi đang thực hiện thủ tục này, chủ đất tiếp tục bán cho bà 200 m2 đất còn lại. Vì vậy, bà đã nhờ ông T. rút hồ sơ tách thửa để làm hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ thửa đất.

Khi đó, ông T. kêu bà ký tên sẵn vào góc dưới một tờ giấy tập màu trắng để ông làm đơn xin rút hồ sơ. Sau đó, ông T. dùng tờ giấy khác để viết đơn xin rút hồ sơ và ký giả tên bà. Với tờ giấy tập có chữ ký của bà P., ông T. tự viết vài chữ thể hiện việc cho vay tiền.

Để chứng minh mình không vay tiền của ông T., bà P. cho biết vào tháng 8-2008, em ông T. có hỏi vay của bà 200 triệu đồng dưới sự bảo lãnh của ông. Bà bảo nếu bà nợ 300 triệu đồng thì anh em ông T. phải đòi nợ bà chứ sao lại phải đi vay tiền của bà.

Bà P. từng nộp đơn tố cáo ông T. vu khống mình vay 300 triệu đồng tại cơ quan công an. Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy, giấy biên nhận vay tiền do chính ông T. viết, còn bà P. cũng đã ký tên vào giấy. Cơ quan này chưa đủ cơ sở kết luận về nội dung tố giác của bà P.

Xét xử không cần giám định

Xử sơ thẩm giữa tháng 8-2009, TAND quận Bình Thủy nhận định: “Việc em ông T. vay 200 triệu đồng của bà P. không có nghĩa là ông T. không thể cho bà P. vay tiền”… Continue reading

PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

ĐOÀN HIỀN

Mấy năm gần đây, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gia tăng nghiêm trọng. Điều đáng nói là, ngay cả trong các trường hợp bọn buôn người sử dụng những chiêu bài cũ rích, thì các nạn nhân vẫn bị lừa gạt một cách dễ dàng. Vì vậy, nâng cao nhận thức cho phụ nữ và trẻ em, đặc biệt các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa đang là một trong những việc làm cấp bách hiện nay.

Nhức nhối tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em

Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em đang là một hiện tượng nhức nhối ở nước ta hiện nay, là hoạt động tội phạm xâm hại những quyền cơ bản nhất của con người, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư. Và đối tượng bị tổn thương nhất là phụ nữ và trẻ em. Tệ nạn này làm ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe, phẩm hạnh và cơ hội phát triển của họ.

Điều đáng lo ngại là, số vụ việc và số phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ngày càng tăng theo thời gian. Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an), giai đoạn 1998 – 2006, có 5.746 phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài và 665 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán trong nước, chưa kể đến con số 7.940 phụ nữ và trẻ em nghi ngờ bị buôn bán. Từ năm 2005 đến tháng 6-2008, toàn quốc đã xảy ra 1.100 vụ với 2.800 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, diễn ra mạnh nhất tại các tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc với hơn 65% tổng số vụ. Tuyến Việt Nam – Cam-pu-chia cũng chiếm đến 15% tổng số vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em, tuyến Việt Nam – Lào chiếm khoảng 6,5% số vụ. Toàn quốc hiện nay có 54 tuyến trọng điểm về buôn bán phụ nữ và trẻ em, trong đó có năm tuyến quốc tế và 18 tuyến liên tỉnh.

Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 130/CP (Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em), chỉ trong sáu tháng đầu năm 2009, cả nước đã xảy ra 191 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em, với 362 đối tượng, lừa bán 417 nạn nhân. Đáng chú ý, tình trạng chiếm đoạt, bắt cóc trẻ em, mua bán trẻ sơ sinh đưa ra nước ngoài bán liên tục xảy ra ở một số địa phương phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Nam…

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2009/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT ĐẤU THẦU VÀ LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY DỰNG THEO LUẬT XÂY DỰNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi) và hướng dẫn thi hành việc lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội.

2. Việc lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật Đấu thầu. Thủ tục trình, thẩm định và phê duyệt các nội dung trong quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của Nghị định này.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading