CƠ QUAN BẢO HIẾN Ở CÁC NƯỚC

NGUYỄN ĐỨC LAM

Hiến pháp như đạo luật cơ bản, đạo luật tối cao của mỗi quốc gia đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt về mặt pháp lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ hiến pháp, ngăn ngừa sự vi phạm hiến pháp của công dân và tổ chức cũng như của các cơ quan quyền lực nhà nước. Trên nguyên tắc, bảo vệ hiến pháp là nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các cơ quan quyền lực nhà nước và các quan chức có liên quan, được thực hiện thông qua việc áp dụng những phương tiện pháp lý khác nhau trong khuôn khổ thẩm quyền của mình.

Nhưng ở đại đa số các nước trên thế giới, vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ hiến pháp, giám sát bảo hiến thuộc về các cơ quan bảo hiến khác nhau tuỳ theo từng nước: ở một số nước đó là các toà thẩm quyền chung với đỉnh là toà án tối cao, ở những nước khác – toà án hiến pháp, ở một số nước thứ ba – hội đồng bảo hiến…Vậy những cơ quan đó có lịch sử ra đời, phát triển ra sao? Có vai trò như thế nào? Được tổ chức theo các mô hình nào? Trong bài viết này, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin tham khảo xung quanh những nội dung trên đây.

I- Khái niệm, nguồn gốc, sơ lược lịch sử phát triển

Cơ quan bảo hiến trong cơ chế  bảo vệ hiến pháp

Giữa các nhà nghiên cứu có những cách nhìn nhận khác nhau về các yếu tố cấu thành nên cơ chế bảo vệ hiến pháp. Ví dụ như K. Hesse, nhà nghiên cứu người Đức khi nói về các phương tiện pháp lý bảo vệ Đạo luật cơ bản của CHLB Đức đã đưa ra những khái niệm “bảo đảm phòng ngừa” và “bảo đảm trấn áp” ( tước bỏ những quyền chính trị cơ bản khi cần thiết, khả năng cấm đoán các chính đảng, ban bố tình trạng khẩn cấp).[1] Osepian J.P. coi giám sát bảo hiến do nghị viện thực hiện, trưng cầu ý dân về hiến pháp, quyền phủ quyết luật của nguyên thủ quốc gia là những phương tiện pháp lý trong cơ chế bảo vệ hiến pháp bên cạnh những phương tiện khác như giám sát bảo hiến của các toà án và trách nhiệm hiến pháp[2]…Nhưng dù cho các tác giả khác nhau có tiếp cận vấn đề dưới góc độ nào thì họ đều đánh giá các cơ quan bảo hiến như yếu tố chủ chốt, quyết định trong cơ chế bảo vệ hiến pháp.

Continue reading

LÝ THUYẾT “CẦU HIỆU QUẢ” CỦA JOHN MAYNARD KEYNES VỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN XUÂN THẮNG – Phó Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu xảy ra từ tháng 8-2007 sau đó đã lan khắp các thị trường tài chính lớn trên thế giới. Chỉ trong vòng 12 tháng của 2008 đã làm bốc hơi trên 30 ngàn tỉ USD trong tổng số 62 ngàn tỉ USD vốn hóa toàn cầu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, thế giới bước vào một cuộc suy thoái kinh tế được ví là nghiêm trọng nhất trong vòng gần 100 năm qua. Chính phủ các nước không thể khoanh tay đứng nhìn. Hàng loạt các gói giải cứu lên đến cả ngàn tỉ USD ở hầu khắp các nước trên thế giới đổ ra khiến cho người ta nhớ đến một nhà kinh tế vĩ đại của những năm 30 của thế kỷ trước: Giôn May-na Kên (John Maynard Keynes).

Mặc dù thời đại ngày nay rất khác với thời đại của ông, nền kinh tế thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập sâu sắc, tuy nhiên, các nguyên tắc tạo “cầu hiệu quả” – “cầu có khả năng thanh toán” bằng các gói cứu trợ, kích thích kinh tế bằng tăng chi ngân sách, mở rộng thị trường nhà nước và thực hành tín dụng rẻ để kích thích đầu tư và tiêu dùng… mà Kên đề xuất hồi ấy thì vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều nhà kinh tế và hoạch định chính sách trên thế giới, trong khi chưa tìm ra các lý thuyết mới làm căn cứ để đưa nền kinh tế của mình ra khỏi suy thoái, đã rất kỳ vọng vào việc vận dụng và phát triển các nguyên tắc của Kên trong điều kiện hiện nay. Vậy lý thuyết của Kên có những nội dung chủ yếu gì? Nguyên lý nào vẫn còn giá trị và những cảnh báo thực tế khi vận dụng Kên sẽ gợi mở cho chúng ta bài học gì khi vận dụng trong bối cảnh mới?

1 – Các quan điểm điều chỉnh kinh tế chủ yếu của Kên

Quan điểm bao trùm nhất của lý thuyết Kên là quan điểm cho rằng những mất cân đối kinh tế vĩ mô có nguồn gốc chính ở sự giảm sút “cầu có hiệu quả”(1) tức là cầu có khả năng thanh toán. “Cầu có hiệu quả”, theo Kên, bao gồm cả cầu về tiêu dùng cá nhân và cầu đầu tư. Như vậy “cầu có hiệu quả” là khái niệm có mối tương quan với thu nhập quốc dân. Nếu khuynh hướng tiêu thụ và đầu tư với tư cách là 2 bộ phận trong thu nhập quốc dân không có sự kết hợp để tạo ra một lượng cầu có hiệu quả đầy đủ, nạn thất nghiệp sẽ xuất hiện. Bởi vì “cầu có hiệu quả” kết hợp với tình trạng việc làm đầy đủ chỉ trong một trường hợp đặc biệt khi khuynh hướng tiêu thụ và kích thích đầu tư có mối liên hệ đặc biệt với nhau. Những liên hệ này chỉ có thể có được nếu do tình cờ hay cố ý, mức đầu tư hiện ra một số cầu vừa bằng số thặng dư của số cung tổng hợp của sản xuất trong tình trạng việc làm đầy đủ so với mức tiêu dùng theo ý nguyện của quần chúng ở tình trạng việc làm đầy đủ đó(2)… Giải thích cụ thể hơn cơ chế của sự kết hợp này, Kên viết tiếp: “Khuynh hướng tiêu thụ và mức đầu tư mới kết hợp với nhau để quy định việc làm và khối lượng việc làm liên hệ mật thiết với mức tiền công thực tế, chứ không phải ngược lại. Nếu khối lượng tiêu thụ về mức đầu tư mới đưa đến một số cầu thực tế không đầy đủ, thì mức việc làm thực tế sẽ thấp hơn số cung lao động sẵn có, tức gây thất nghiệp”(3).

Continue reading

BẠN CÓ THỰC SỰ BIẾT NHÂN VIÊN NGHĨ GÌ?

JOHN BALDONY (Nguyễn Tuyến dịch)

Nếu bạn muốn biết những gì người khác đang nghĩ, đừng dựa vào những bản báo cáo do người khác làm.

Các chiến dịch chính trị thường đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực này khi kiểm tra các thông điệp của thị trường và tiến hành trưng cầu dân ý. Bằng việc đánh giá ảnh hưởng và nhận thức, họ có thể định hình và tái định hình thông điệp của mình để có được ảnh hưởng tốt hơn. (Một số người có thể cho rằng điều này là việc chạy theo thị hiếu, những người khác có thể coi đó là hành động phản ứng nhanh).

Các nhà lãnh đạo doanh ngiệp không cần thiết phải thuê người thăm dò ý kiến nhưng họ cần phải nhận thức rõ hơn ảnh hưởng của thông điệp của họ. Hầu hết các nhà quản lý rất giỏi trong việc đưa ra những thông điệp; thường thường theo sau đó là một thách thức, nhưng một thách thức lớn hơn thường đánh giá hiệu quả của thông điệp.
Chúng ta có thể nhận thấy điều này rõ nhất thông qua những nỗ lực chuyển đổi cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Rất nhiều năng lượng và sự nhiệt tâm được sử dụng vào việc đưa ra những lời lẽ nhận xét về “cơ hội lớn” nhưng tương đối ít vào việc lắng nghe và đánh giá ảnh hưởng của nó.

Để giải quyết được vấn đề này, hãy cân nhắc những gợi ý dưới đây khi soạn thảo kế hoạch truyền thông tiếp theo của bạn.

image Đi dọc hành lang. Hãy làm cho bản thân bạn trở thành hiện hữu với nhóm làm việc của bạn bằng cách sử dụng thời gian xuất hiện trong khu vực làm việc của họ. Hãy làm cho bản thân bạn dễ tiếp cận để mọi người có thể để bạn tham gia vào cuộc đối thoại. Hãy chuẩn bị để bắt đầu những cuộc nói chuyện về việc tiến hành tung ra thị trường một sản phẩm mới, việc nâng cao chất lượng dịch vụ hay là các đề xuất nâng cao hiệu quả. Hỏi mọi người xem những điều đó có ích gì với họ.

Lắng nghe ý kiến phản hồi. Hãy cho mọi người thời gian để trả lời. Hỏi những câu hỏi có liên quan đến kinh nghiệm của họ vì vậy bạn có thể có được những câu trả lời hiệu quả nhất. Khi bạn nghe những câu trả lời như vậy, mọi người có thể không dám trả lời một cách trung thực. Hãy đàm thoại trực tiếp để khuyến khích mọi người chia sẻ nhiều thông tin hơn.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ TUỔI TRẺ EM TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH: XUNG ĐỘT CẦN HÓA GIẢI?

XUÂN HOA

Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, có rất nhiều đạo luật đề cập tới trẻ em nhằm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như sự ưu đãi nhất định cho các em trong một số lĩnh vực. Tuy nhiên, cũng chính trong các đạo luật này, độ tuổi của trẻ em lại đang có sự vênh nhau khá nhiều. Thậm chí cùng một tuổi nhưng ở luật này là trẻ em, ở luật khác đã thành người lớn…

14 và 16 – biết chọn “lối” nào?

Nói về vấn đề này, hơn ai hết bà Trịnh Minh Hiền – Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Giao thông vận tải là người rất thấm thía. Bởi, khi xây dựng Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Ban soạn thảo luật đã không ít lần phải ngồi lại với nhau để cân nhắc giữa hai con số 14 và 16. Luật Giao thông đường bộ chứa đựng nhiều quy định liên quan tới trẻ em, trong đó có hai quy định rất được quan tâm vì phạm vi điều chỉnh quan trọng của nó. Đó là vấn đề trẻ em đội mũ bảo hiểm và trẻ em được đèo sau xe máy.

Nếu chiếu theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em được hiểu là người có độ tuổi dưới 16. Còn, nếu chiếu theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính với quy định không xử phạt trẻ em dưới 14 tuổi thì độ tuổi của một người để được coi là trẻ em đã khác – 14 thay vì 16. Mở rộng thêm một vài luật khác nữa như Bộ luật Lao động, Luật Hình sự…, Ban soạn thảo Luật GTĐB đã thực sự…không biết đâu mà lần. Tuy nhiên, mọi việc cuối cùng cũng được giải quyết ổn thỏa, nhưng điều còn đọng lại với các nhà làm luật là khái niệm thế nào là trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam quá…đa dạng (!), không biết phải áp dụng theo luật nào cho phải.

Trẻ em với quốc tế, người lớn với Việt Nam

Chuyện của Ban soạn thảo Luật GTĐB không phải là trường hợp duy nhất trong hoạt động xây dựng luật. Mới đây, tại hội thảo về xây dựng Luật Phòng, chống buôn bán người, các nhà làm luật lại một lần nữa mang vấn đề tuổi trẻ em ra để tranh luận.

Continue reading

TRANH CHẤP NGHĨA VỤ CÓ BẢO ĐẢM: GÁNH NỢ THAY NGƯỜI CHẾT

TRÙNG KHÁNH

Ngân hàng tự ý giao chiếc ghe nhận thế chấp cho người khác sử dụng để rồi ghe bị chìm.

Hơn chục năm nay, vợ chồng bà N. (TP Mỹ Tho, Tiền Giang) ăn ngủ không yên do giấy chủ quyền nhà của họ còn mắc kẹt trong ngân hàng. Trước đây, họ đứng ra bảo lãnh cho bà Đ. vay tiền nên giờ phải đối mặt với món nợ hơn 100 triệu đồng.

Mang nhà ra bảo lãnh

Tháng 7-1994, bà Đ. làm thủ tục vay 50 triệu đồng của một ngân hàng để đóng chiếc ghe câu mực mới. Bà Đ. đã thế chấp chiếc ghe câu mực đang có của gia đình. Nhưng vì ghe này trị giá thấp nên bà Đ. đã nhờ vợ chồng bà N. đứng ra bảo lãnh nợ vay. Vợ chồng bà N. đã giao cho ngân hàng giấy chủ quyền nhà của mình.

Thời hạn vay của bà Đ. là hơn một năm. Nhưng đến hạn bà Đ. vẫn chưa trả được nợ nên ngân hàng đã gia hạn thêm. Tính đến năm 1996, bà Đ. mới trả gần phân nửa tiền số tiền vay, còn nợ hơn 26 triệu đồng. Sau đó, ngân hàng lại giãn nợ cho bà Đ. tới tháng 3-2001. Vợ chồng bà N. không biết việc này.

Sau đó, bà N. đến hỏi thì ngân hàng cho hay sẽ phát mại chiếc ghe của bà Đ. và có khả năng giá trị ghe đủ để trả nợ. Tưởng vậy là xong nhưng đến năm 2003, chờ mãi mà bà N. vẫn không được ngân hàng thông báo về khoản vay của bà Đ. và phía bà Đ. vẫn tiếp tục sử dụng ghe cũ để câu mực. Sợ để lâu chiếc ghe càng xuống cấp, bà N. yêu cầu ngân hàng giải quyết sớm vụ việc.

Đã kê biên nhưng chưa trừ nợ

Mãi đến sáu năm sau (vào tháng 3-2009), ngân hàng mới gửi thông báo tình hình nợ của bà Đ. Cụ thể, dù chưa trả hết nợ nhưng bà Đ. lại giao ghe cho người khác trông giữ. Người này đã đề nghị ngân hàng cho mình mua lại chiếc ghe. Tháng 5-2002, sau khi kê biên, định giá chiếc ghe, ngân hàng đã giao chiếc ghe cho người đang trông giữ tiếp tục quản lý đúng hiện trạng.

Continue reading