TÌM HIỂU CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÀI HÒA HÓA VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

LÊ DUY

Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm chi tiết hơn các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.

Cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.

Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Continue reading

PHÂN TÍCH CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở ẤN ĐỘ

QUYẾT THẮNG (Tổng hợp)

Ở Ấn Độ, Luật bảo vệ người tiêu dùng được thực thi vào năm 1986 nhằm hệ thống hóa các thủ tục pháp lý và luật pháp liên quan đến người tiêu dùng và được xem như là một trong những thành tựu nổi bật trong quá trình hệ thống hóa của Ấn Độ. Mục tiêu của Luật này là bảo vệ tốt hơn các quyền lợi của người tiêu dùng – bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gây thiệt hại như hàng hóa và dịch vụ khuyết tật, các hành vi thương mại không lành mạnh cũng như các dịch vụ lừa dối hoặc không chính đáng.

Luật này cũng tạo cơ sở pháp lý cho các Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng (những cơ quan có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng và đem lại 6 quyền lợi cho người tiêu dùng: quyền được an toàn, quyền được thông báo, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được bồi thường, và quyền được giáo dục về tiêu dùng.

Luật này cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp 3 cấp. Người tiêu dùng có thể gửi khiếu nại lên các “Tòa án Người tiêu dùng có cơ chế đặc biệt (còn gọi là Tòa án người tiêu dùng). Cơ chế của Tòa án này như sau: Tòa án quận, các hội đồng bang, hội đồng quốc gia giải quyết tranh chấp người tiêu dùng. Những cơ quan này có thẩm quyền tương tự như các tòa án dân sự theo Luật tố tụng dân sự, 1908. Tùy thuộc vào bản chất từng vụ việc, khiếu nại có thể được gửi đến bất kỳ cơ quan nào trong ba cơ quan trên. Các thủ tục trong những vụ kiện này đơn giản hơn rất nhiều so với các thủ tục tòa án thông thường. Tuy nhiên, bên khiếu nại có thể tự mình đưa vụ việc này ra tòa mà không cần phải có luật sư. Luật này cũng cho phép khiếu nại tập thể.

Sau khi phán quyết được đưa ra, nếu có bất kỳ bên nào không thỏa mãn thì sẽ mở phiên phúc thẩm. Phán quyết của Tòa án Quận sẽ do Hội đồng bang xét xử phúc thẩm, còn phán quyết của Hội đồng Bang sẽ do Hội đồng Quốc gia xét xử phúc thẩm.

Continue reading

LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN với vấn đề đánh thuế trùng và bỏ lọt thuế

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Luật Thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) được Quốc hội thông qua ngày 21/12/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 là một trong những đạo luật có phạm vi tác động rộng lớn tới đại bộ phận dân cư trong xã hội. Nếu như trước đây, TTNCN chỉ áp dụng đối với những người có thu nhập cao theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (1), thì nay, hầu hết các khoản thu nhập của cá nhân đều phải chịu thuế trên cơ sở có tính đến giảm trừ gia cảnh, trừ một số thu nhập đặc biệt được quy định tại Điều 4 của Luật TTNCN, như thu nhập từ thừa kế giữa cha mẹ và con, vợ chồng hoặc anh chị em ruột với nhau, thu nhập từ lương hưu hoặc từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng… thì được miễn TTNCN.

Các khoản thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật TTNCN được chia thành 10 lĩnh vực, bao gồm thu nhập từ: (i) kinh doanh; (ii) tiền lương, tiền công; (iii) đầu tư vốn; (iv) chuyển nhượng vốn; (v) chuyển nhượng bất động sản; (vi) trúng thưởng; (vii) bản quyền; (viii) nhượng quyền thương mại; (ix) nhận thừa kế trong một số trường hợp; và (x) nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. Bài viết này chỉ đi sâu phân tích các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh từ hoạt động đầu tư vốn vào các doanh nghiệp để xác định khi nào thì những thu nhập này trở thành thu nhập chịu thuế và chủ sở hữu doanh nghiệp trở thành đối tượng nộp TTNCN.

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định 4 loại hình doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên), công ty cổ phần và công ty hợp danh. Trong hoạt động kinh doanh, bản thân doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) nếu có phát sinh thu nhập chịu thuế. Câu hỏi đặt ra là, trường hợp nào thì chủ sở hữu doanh nghiệp phải nộp TTNCN? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần ghi nhớ nguyên tắc xác định đối tượng nộp thuế. Thuế thu nhập là thuế trực thu, đánh trực tiếp trên thu nhập của các tổ chức và cá nhân nên chủ thể nào có thu nhập thì chủ thể ấy là đối tượng chịu thuế và đồng thời là đối tượng nộp thuế.

Continue reading

LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỚI VẤN ĐỀ ĐÁNH THUẾ TRÙNG VÀ BỎ LỌT THUẾ

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Luật Thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) được Quốc hội thông qua ngày 21/12/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 là một trong những đạo luật có phạm vi tác động rộng lớn tới đại bộ phận dân cư trong xã hội. Nếu như trước đây, TTNCN chỉ áp dụng đối với những người có thu nhập cao theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (1), thì nay, hầu hết các khoản thu nhập của cá nhân đều phải chịu thuế trên cơ sở có tính đến giảm trừ gia cảnh, trừ một số thu nhập đặc biệt được quy định tại Điều 4 của Luật TTNCN, như thu nhập từ thừa kế giữa cha mẹ và con, vợ chồng hoặc anh chị em ruột với nhau, thu nhập từ lương hưu hoặc từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng… thì được miễn TTNCN.

Các khoản thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật TTNCN được chia thành 10 lĩnh vực, bao gồm thu nhập từ: (i) kinh doanh; (ii) tiền lương, tiền công; (iii) đầu tư vốn; (iv) chuyển nhượng vốn; (v) chuyển nhượng bất động sản; (vi) trúng thưởng; (vii) bản quyền; (viii) nhượng quyền thương mại; (ix) nhận thừa kế trong một số trường hợp; và (x) nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. Bài viết này chỉ đi sâu phân tích các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh từ hoạt động đầu tư vốn vào các doanh nghiệp để xác định khi nào thì những thu nhập này trở thành thu nhập chịu thuế và chủ sở hữu doanh nghiệp trở thành đối tượng nộp TTNCN.

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định 4 loại hình doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên), công ty cổ phần và công ty hợp danh. Trong hoạt động kinh doanh, bản thân doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) nếu có phát sinh thu nhập chịu thuế. Câu hỏi đặt ra là, trường hợp nào thì chủ sở hữu doanh nghiệp phải nộp TTNCN? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần ghi nhớ nguyên tắc xác định đối tượng nộp thuế. Thuế thu nhập là thuế trực thu, đánh trực tiếp trên thu nhập của các tổ chức và cá nhân nên chủ thể nào có thu nhập thì chủ thể ấy là đối tượng chịu thuế và đồng thời là đối tượng nộp thuế.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3968/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 21 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long

Trả lời công văn số 2268/NHN-TCCB ngày 05/10/2009 của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Ông Trần Minh Nhơn làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam từ tháng 11/1994, đến tháng 03/2002 chuyển sang làm việc tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long. Như vậy thời gian chuyển công tác của ông Nhơn sau ngày 01/01/1995 (ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành) thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc đối với ông Nhơn trong thời gian làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (từ tháng 11/1994 đến hết tháng 02/2002) là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long biết và thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

CÔNG VĂN SỐ 3919/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ TRẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành
(243 Bến Vân Đồn, phường 5, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh)

Trả lời công văn số 133/CV-CTLT ngày 10/8/2009 của Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành về việc trả trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thì Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 06 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có). Căn cứ Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì cách tích trợ cấp thôi việc quy định tại Điều 2, Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên được áp dụng từ ngày 01/01/2009 (ngày Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành).

Do vậy Công ty phải tính lại trợ cấp thôi việc đối với các trường hợp đã thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong giai đoạn từ ngày 01/01/2009 đến ngày 10/7/2009 mà Công ty đã chi trả nợ theo Khoản 3, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên. Việc tính lại trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3919/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG –THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành
(243 Bến Vân Đồn, phường 5, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh)

Trả lời công văn số 133/CV-CTLT ngày 10/8/2009 của Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành về việc trả trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thì Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 06 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có). Căn cứ Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì cách tích trợ cấp thôi việc quy định tại Điều 2, Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên được áp dụng từ ngày 01/01/2009 (ngày Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành).

Do vậy Công ty phải tính lại trợ cấp thôi việc đối với các trường hợp đã thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong giai đoạn từ ngày 01/01/2009 đến ngày 10/7/2009 mà Công ty đã chi trả nợ theo Khoản 3, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên. Việc tính lại trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH VỀ KINH DOANH VÀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Hợp tác xã ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Du lịch ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về kinh doanh, điều kiện kinh doanh và việc cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc liên quan đến kinh doanh vận tải bằng xe ô tô trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đơn vị kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

2. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hành khách, hàng hóa có thu tiền.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 92/2009/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHỨC DANH, SỐ LƯỢNG, MỘT SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN VÀ NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH Ở CẤP XÃ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã); và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cán bộ, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định tại Điều 1 Nghị định này bao gồm:

1. Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ ở cấp xã (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã);

2. Công chức cấp xã;

3. Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Chương 2.

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Continue reading