ĐĂNG KÝ KHAI SINH CHO CON NUÔI CÒN VƯỚNG MẮC

THANH XUÂN

Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đang trong lộ trình hoàn thiện, nhằm đưa ra các quy định pháp lý phù hợp cho việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, Dự Luật vẫn chưa đề cập việc đăng ký khai sinh để bảo đảm quyền lợi cho người con nuôi, trong khi việc thực hiện quy định pháp lý hiện hành về vấn đề này đang còn vướng mắc.

Vướng khi thay đổi phần khai cha, mẹ trong giấy khai sinh của con nuôi

Hiện nay, theo quy định tại Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì những người có mối quan hệ gia đình đều có quyền nhận nuôi con nuôi, chẳng hạn mẹ kế có quyền nhận con riêng của chồng, cha dượng có quyền nhận con riêng của vợ làm con nuôi, khi có đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, việc nhận nuôi con nuôi mà làm thay đổi thứ bậc trong gia đình (như trường hợp ông, bà nhận cháu hoặc anh, chị nhận em làm con nuôi) thì không giải quyết. Thực tế cho thấy, vướng mắc nảy sinh khi giải quyết việc thay đổi phần khai về cha, mẹ trong giấy khai sinh của người con nuôi. Ví dụ, cháu Trương Văn T đăng ký khai sinh ngoài giá thú (không có tên cha trong giấy khai sinh), mẹ là Trương Thị A. Sau đó, cha dượng của cháu T là ông Huỳnh Văn C đến UBND xã xin  nhận cháu T làm con nuôi. Sau khi kiểm tra hồ sơ thủ tục, cán bộ tư pháp xã tiến hành giải quyết việc nuôi con nuôi. Nhưng, khi ông C yêu cầu bổ sung phần khai người cha vào bản chính giấy khai sinh của cháu T thì cán bộ tư pháp “vướng”, vì theo quy định hiện hành, có nhiều ý kiến khác nhau về việc giải quyết vấn đề này.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ HƯƠNG ƯỚC CẦN ĐƯỢC SỬA ĐỔI

NGUYỄN THANH XUÂN

Thực hiện Nghị định số 29 của Chính phủ và Nghị định số 24 của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Tuy nhiên, ở một số địa phương, công tác này vẫn còn thiếu sót, hạn chế một phần do các quy định về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước chưa phù hợp.

Kết cấu hương ước cần sửa đổi

Theo quy định của Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN về hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, nội dung hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm. Các quy định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy định ngay tại các điều, khoản cụ thể. Theo quy định, hương ước cần ngắn gọn, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Nhưng nếu xây dựng theo quy định này thì vô hình trung các hương ước trở thành một văn bản luật, dài dòng, nhiều điều khoản. Nghiên cứu các hương ước được xây dựng ở một số địa phương cho thấy, có hương ước không thực hiện được tiêu chí ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Giao thẩm quyền phê duyệt hương ước cho cấp xã

Việc xây dựng hương ước theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 03 phải qua rất nhiều bước và công đoạn cuối cùng là phê duyệt. Tuy nhiên, việc phê duyệt hương ước chỉ được thực hiện sau khi hương ước đã được thông qua, Chủ tịch UBND cấp xã và Chủ tịch ban MTTQ xem xét nội dung của hương ước, bảo đảm phù hợp với pháp luật, thuần phong, mỹ tục và trao đổi, thống nhất với Chủ tịch HĐND cùng cấp về nội dung trước khi trình Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt. Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn, Bí thư chi bộ, Trưởng ban Công tác Mặt trận kèm theo Biên bản thông qua tại Hội nghị.

Continue reading

THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

VĂN TẠO

1. Thực trạng thanh toán bằng tiền mặt ở nước ta

Theo khảo sát của cơ quan chức năng vào năm 2003 cho thấy thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong nền kinh tế. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư. Tại 750 doanh nghiệp Việt Nam ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam thì các doanh nghiệp tư nhân có trên 500 công nhân có khoảng 63% số giao dịch của họ được tiến hành qua hệ thống ngân hàng; những doanh nghiệp có ít hơn 25 công nhân thì tỷ lệ này là 47%; với doanh nghiệp nhà nước mới chỉ hơn 80% giao dịch được thực hiện qua ngân hàng; hầu hết các doanh nghiệp cả nhà nước lẫn tư nhân đều trả lương bằng tiền mặt. Tại các hộ kinh doanh thì 86,2% số hộ kinh doanh vẫn chi trả hàng hoá bằng tiền mặt; 75% số hộ kinh doanh chi trả dịch vụ bằng tiền mặt; 72% số hộ kinh doanh tư nhân nộp thuế bằng tiền mặt; số người sử dụng dịch vụ ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán so với tổng phương tiện thanh toán năm 2001 là 23,7%; năm 2004 là 20,3%; năm 2005 là 19%; năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36%, năm 2008 là 14,6%; tuy tỷ trọng hàng năm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới; tỷ trọng này ở các nước tiên tiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trung bình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%.

Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt chưa thuận tiện

Theo tác giả Đặng Đức Anh trong bài “Dịch vụ tài chính – ngân hàng Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập” đăng tải trên Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội số 11/2006, tỷ trọng giá trị thanh toán bằng các phương tiện thanh toán (%) như sau:

Continue reading

3995

THANH TÙNG

Huyện bảo 34 m2, tỉnh nói 43 m2, tòa sơ thẩm lại tăng 59 m2. Ai đúng, ai sai?

Theo hồ sơ, năm 1991, bà B. có mua một căn nhà tại thị trấn Cai Lậy và đã được UBND huyện Cai Lậy cấp giấy chủ quyền. Bốn năm sau, bà cho người cậu ruột ở nhờ với lời giao kết miệng: “Tôi cho cậu ở nhờ, đến lúc nào có nhà thì cậu trả lại cho tôi. Cậu cứ sửa chữa, tu bổ nhà để ở cho thoải mái”. Cùng năm đó, do người cậu mất nên con trai ông (là ông D.) tiếp tục ở nhờ.

Hai giấy chứng nhận

Mọi chuyện diễn ra bình thường cho đến khi bà B. làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận. Bà hết sức bất ngờ với thông tin vào năm 2004, ông D. đã được UBND tỉnh Tiền Giang cấp giấy hồng cho chính căn nhà ở nhờ nói trên.

Tranh chấp xảy ra, ông D. bảo căn nhà đó của cha mình mua từ năm 1991 nhưng lúc đó vì chưa có hộ khẩu ở thị trấn nên ông đã nhờ bà B. đứng tên giùm. Sau khi cha ông sửa lại nhà, bà B. đã cầm giấy chủ quyền đến đòi nhà. Bấy giờ, cha ông đã cho bà B. hai chỉ vàng nên bà B. không tranh chấp nữa. Sau khi cha mất, ông đã đứng tên xin cấp giấy chủ quyền nhà. Không thỏa thuận được, bà B. đã khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ.

Xử sơ thẩm cuối năm 2008, TAND huyện cho rằng giấy chủ quyền của bà B. hợp pháp bởi khi tòa hỏi thì chính UBND huyện Cai Lậy đã có công văn khẳng định điều này. Mặt khác, bà B. trưng ra được hợp đồng mua bán gốc năm 1991 với chủ nhà cũ như đã khai. Ngược lại, giấy chủ quyền của ông D. không hợp pháp vì ông được cấp theo diện thừa kế trong khi cha ông không có giấy tờ nhà. UBND huyện Cai Lậy đã làm sai quy định khi đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang cấp chủ quyền cho ông D. dựa trên cơ sở có người làm chứng và nội dung xác nhận không có tranh chấp. Cách xử lý này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B. vì tại thời điểm đó bà vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà.

Continue reading

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TÍNH THUẾ BẤT ĐỘNG SẢN

TẠP CHÍ THUẾ – Đối với các loại thuế được tính theo giá trị của đối tượng chịu thuế thì việc xác định trị giá tính thuế là một khâu trung tâm của quá trình hành thu. Thuế bất động sản cũng là một loại thuế được tính theo giá trị. Giá tính thuế thường được xác định theo giá thị trường hoặc tiền cho thuê của bất động sản.

Giá thị trường

Giá thị trường của bất động sản là giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản. Có 3 phương pháp truyền thống được sử dụng trong định giá thị trường của bất động sản là.

Phương pháp giá so sánh: Giá của lô đất, ngôi nhà cần định giá được xác định bằng giá thị trường của lô đất hoặc ngôi nhà có đặc điểm giống nhau (tương tự). Phương pháp này thích hợp khi thị trường bất động sản phát triển và xuất hiện tính tương đồng giữa lô đất, ngôi nhà cần định giá với giá thị trường của lô đất, ngôi nhà tương tự (ví dụ hai lô đất nằm cạnh nhau của cùng một khu vực). Mặt khác, để định giá theo phương pháp này cũng cần một cơ sở dữ liệu tập trung về giao dịch bất động sản để đảm bảo công tác định giá được chính xác, hài hoà.

Phương pháp chi phí: Giá của bất động sản cần định giá được xác định bằng cách xác định giá của lô đất cộng với chi phí xây dựng công trình trên đất.

Phương pháp này được sử dụng để trong trường hợp thị trường bất động sản ít phát triển và thường áp dụng đối với bất động sản mới và tương đối hiếm (ví dụ các cơ sở công nghiệp, thương mại).

Phương pháp thu nhập: Giá trị của bất động sản chính là tổng thu nhập trong tương lai mà bất động sản mang lại. Do đó, giá trị của bất động sản sẽ được xác định bằng tổng dòng thu nhập tiềm năng (thu nhập ròng) trong tương lai được quy đổi về giá trị hiện tại.

Continue reading