HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ XÁC LẬP HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó trưởng khoa Kinh tế – Luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Có những nét tương đồng rất cơ bản giữa Việt Nam và các nước theo văn hoá pháp lý romano -germanic trong việc xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng và, nói riêng, các giải pháp cho bài toán về điều kiện xác lập hợp đồng.

Có những nét tương đồng rất cơ bản giữa Việt Nam và các nước theo văn hoá pháp lý romano – germanic trong việc xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng và, nói riêng, các giải pháp cho bài toán về điều kiện xác lập hợp đồng. Pháp luật hợp đồng của Việt Nam đã tiếp nhận và vận dụng khá nhiều khái niệm và chế định đặc trưng của hệ thống đó (1). Các thành tựu của văn hoá pháp lý Anh – Mỹ cũng được tiếp nhận và xuất hiện trong luật Việt Nam như là những yếu tố đóng góp bổ sung vào việc hoàn thiện hệ thống pháp lý (2). Tuy nhiên, do được xây dựng trong một hệ thống tư duy mang tính thực dụng cao, nhiều điểm cơ bản trong lý thuyết hợp đồng trong luật học Anh – Mỹ không phù hợp với tư duy pháp lý truyền thống và đạo đức truyền thống Việt Nam. Bởi vậy, việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam nên được thực hiện chủ yếu trên cơ sở xem xét, so sánh, tham khảo và vận dụng có chọn lọc các thành tựu của hệ thống romano – germanic.

Trong khuôn khổ xây dựng Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, người làm luật phân chia các điều kiện xác lập hợp đồng thành hai nhóm: các điều kiện chung, áp dụng cho tất cả các loại giao dịch, trong đó có hợp đồng, và các điều kiện riêng đối với hợp đồng. Về phương diện khoa học luật, có thể tiếp cận các điều kiện này theo một góc nhìn khác, cho phép phân chia các điều kiện thành hai nhóm: nội dung và hình thức.

1. Điều kiện về nội dung

1.1. Ý chí

1.1.1. Sự tồn tại của ý chí

Đề nghị và chấp nhận đề nghị. Điều chắc chắn là không thể có hợp đồng một khi ít nhất một bên không hề mong muốn giao kết. Sự gặp gỡ của ý chí là điều kiện để một hợp đồng được xác lập. Thế nhưng, có điều kiện còn tiên quyết hơn nữa, đó là ý chí giao kết phải hiện hữu. Luật của Pháp, của Anh – Mỹ, nói chung, của nhiều nước tiền tiến thừa nhận rằng sự hiện hữu của ý chí chỉ được ghi nhận một khi nó được bộc lộ ra ngoài và ở trong tình trạng có thể được người khác nhận biết. Luật Việt Nam hiện hành, vận dụng kinh nghiệm của các nước, có xây dựng các khái niệm về đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng để mô tả và điều chỉnh quá trình bộc lộ đi đến sự gặp gỡ ý chí của các bên trong quan hệ kết ước.

Continue reading

PHẢN BIỆN CÁC GÓC NHÌN KHÁC NHAU VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

ĐẶNG THẾ TRUYỀN – AUSTRALIA

Sự đánh giá, phân tích thực trạng cũng như gợi ý giải pháp mà nhiều chuyên gia kỳ cựu và đầu ngành giáo dục Việt Nam, cũng như của một số người Việt Nam quan tâm tới lĩnh vực này có lẽ toàn diện, sâu sắc, sát thực hơn những gì tôi nhận được từ hai tài liệu vừa được đọc.

Qua Tuần VietNam.net, tôi có cơ hội được đọc "Ý kiến của Trường ĐH Harvard bàn về khủng hoảng giáo dục ĐH ở Việt Nam", cũng như bài tranh luận của Giáo sư Koblitz (sau đây tôi gọi là 2 tài liệu). Sau khi đọc kỹ 2 tài liệu, và phần tổng hợp một số ý kiến của các độc giả khác, tôi xin trao đổi một số vấn đề.

Cần đặt giáo dục ĐH trong giải pháp tổng thể

Về tài liệu của nhóm tác giả ĐH Harvard về khủng hoảng giáo dục ĐH ở Việt Nam và đề xuất của nhóm chuyên gia Harvard về giải pháp. Vì bản đăng trên TuanVietNam.net chỉ là bản tổng hợp nội dung cơ bản, nên có thể không thông tin đầy đủ và chi tiết cần thiết để hiểu một cách cặn kẽ hơn. Cảm nhận của tôi là tài liệu đã phác họa thực trạng nền giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay. Các tác giả cũng cung cấp một số thông tin về giáo dục ĐH ở một số nước khác, tạo điều kiện cho độc giả có thể so sánh thực trạng của Việt Nam với nước ngoài, qua đó hiểu rõ hơn tính cấp bách của việc cải cách giáo dục ĐH trong nước.

Trên cơ sở các phân tích, các tác giả đề xuất phương án xây dựng một cơ sở ĐH mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, phải nói rằng các vấn đề của nền giáo dục Việt Nam đã được nhiều giới quan tâm, như các nhà lập chính sách, những người công tác trong ngành giáo dục, và công chúng (nhất là phụ huynh, các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên, các nhà tuyển dụng…) phát hiện từ khá lâu.

Continue reading

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC THEO TƯ TƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN KHÁNH – Nguyên Bí thứ TƯ Đảng, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ

Những năm gần đây, Việt Nam đã và đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dân chủ và hiện đại. Đây cũng là quá trình tạo dựng những nền tảng quan trọng cho sự đồng thuận theo tư tưởng phát triển của thời kỳ mới đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Những tư tưởng chính của Đảng về sự phát triển của Việt Nam

Tư tưởng cơ bản về sự phát triển của Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là: đưa Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển, trở thành một quốc gia giàu và mạnh, xã hội Việt Nam sẽ là một xã hội ổn định, dân chủ, bình đẳng, công bằng và văn minh, toàn dân Việt Nam có cuộc sống an toàn, phong phú về vật chất và tinh thần. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm và bản sắc dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn, tính dân tộc và tính thời đại.

Tư tưởng phát triển của Việt Nam là sự kế thừa và phát triển lý thuyết về phát triển xã hội của Mác – Ăng-ghen – Lê-nin – Hồ Chí Minh, là kết quả tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm có giá trị của thế giới về phát triển xã hội, phát triển con người.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, những tư tưởng cơ bản này sẽ biến thành những chiến lược, tư tưởng chỉ đạo và chính sách, thể hiện tinh thần khoa học, cách mạng trong thời kỳ mới, phù hợp với những đặc điểm của Việt Nam, với yêu cầu, khả năng hiện thực của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Hai điều kiện cơ bản để thực hiện thành công tư tưởng phát triển của Việt Nam là:

– Những giá trị khoa học, nhân văn và cách mạng của tư tưởng phát triển được truyền bá sâu, rộng trong xã hội và nhân dân, thuyết phục được các tầng lớp nhân dân rằng đó là con đường tốt nhất, hướng đi đúng nhất, cách làm tốt nhất trong điều kiện nước ta để Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, văn minh, hùng mạnh.

Continue reading

PHỤ NỮ THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: KHÓ KHĂN TỪ NHIỀU PHÍA

TS. ĐỖ THỊ THÚY – ViettinBank

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một công việc đầy gian khó đối với cả nam giới lẫn phụ nữ. Nhưng phụ nữ càng gặp nhiều khó khăn hơn khi bước chân vào NCKH, vì bên cạnh hoàn tất nhiệm vụ ở cơ quan, phụ nữ còn phải gánh vác công việc gia đình. Tuy nhiên, bằng niềm đam mê công việc, ham muốn học hỏi để nâng cao và cập nhật kiến thức cho mình, cho đến nay, phụ nữ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có đạt được nhiều thành tựu trong NCKH. Nhiều chị em với cương vị là lãnh đạo, quản lý đã tham gia NCKH để có những phát minh, sáng kiến, cải tiến ứng dụng có kết quả trong sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng thêm của cải cho xã hội và tạo dựng một hình ảnh về lực lượng phụ nữ lãnh đạo và tham gia NCKH.

Chính những đóng góp tích cực và cụ thể của phụ nữ vào thành quả của công cuộc đổi mới đất nước đã, đang làm thay đổi dần những định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội và xã hội đã thừa nhận phụ nữ có khả năng tham gia công việc, khả năng NCKH không thua kém nam giới. Nhưng những khó khăn từ nhiều phía mà người phụ nữ tham gia NCKH phải đối mặt vẫn còn…

Những khó khăn khi phụ nữ tham gia NCKH

Thứ nhất, vẫn còn sự phân biệt nam nữ trong NCKH.

Sự khác biệt về giới là một yếu tố cơ bản khiến người phụ nữ NCKH khó khăn hơn nam giới. Con đường bước ra khỏi cánh cửa gia đình để đi vào các hoạt động nghiên cứu của phụ nữ bao giờ cũng là con đường đầy những chông gai, không phải người phụ nữ nào cũng có thể vượt qua được. Nhất là khi Việt Nam là một nước đang phát triển, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nên họ phải đối mặt với nhiều thách thức, định kiến về bình đẳng giới, về vai trò và năng lực nghiên cứu của phụ nữ; Trong nhân dân, kể cả trong một bộ phận cán bộ, công chức vẫn có nhiều người coi thường phụ nữ. Tư tưởng này chính là căn nguyên tác động đến việc đánh giá các ý tưởng khoa học, công trình nghiên cứu của các cán bộ nữ.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 181/ĐC-CP NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ ĐÍNH CHÍNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH BỔ SUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT, GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Do sơ suất trong khâu đọc soát, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, xin đính chính một số sai sót trong Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:

1. Tại trang 5 dòng thứ 7 từ trên xuống (khoản 5 Điều 9), viết là: “các khoản 1, 2 và 3”.

Nay xin sửa lại là: “các khoản 2, 3 và 4”.

2. Tại trang 21 dòng thứ 13 từ trên xuống (điểm a khoản 1 Điều 32), viết là: “các Điều 27, 28, 29 và 38”.

Nay xin sửa lại là: “các Điều 29, 30 và 31”.

3. Tại trang 21 dòng thứ 15 từ trên xuống (điểm b khoản 1 Điều 32), viết là: “ khoản 6 Điều 29”.

Nay xin sửa lại là: “khoản 4 Điều 31”.

4. Tại trang 22 dòng thứ 8 từ dưới lên (điểm e khoản 1 Điều 34), viết là: “khoản 1 Điều 22”.

Nay xin sửa lại là: “khoản 1 Điều 19”.

5. Tại trang 28 dòng thứ 13, 14 và 15 từ trên xuống (điểm a khoản 2 Điều 41), viết là: “Điều 10, Điều 12, bỏ nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của khu công nghệ cao, khu kinh tế quy định tại các Điều 14, 30, 52, 125, 126, 127 và 141 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP”.

Continue reading