TRANH LUẬN SAU BÁO CÁO CỦA HAVARD VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

GS. NEAL KOBLITZ

Giới thiệu tác giả: Năm 1985, GS Neal Koblitz (ĐH Washington) và TS Victor Miller (Cty IBM) đã đề xuất (độc lập với nhau) phương pháp mật hóa mã công khai dựa trên đường cong ellip. Ngày nay kỹ thuật Elliptic Curve Cryptography (ECC) đã tiến bộ rất xa trong cả nghiên cứu hàn lâm lẫn các hệ thống mật hóa thương mại. Neal Koblitz có khá nhiều công trình về Lý thuyết số và Mật mã học hiện đại. Ông là người bạn Mỹ lâu năm của giới khoa học nước ta và đã cùng vợ sáng lập Giải thưởng Kovalevskaia cho các nhà toán học nữ.

1.   Dẫn nhập

Đối với những vấn đề quốc tế quan trọng, quan điểm của người Mỹ thường bị chia rẽ một cách sâu sắc. Vào những năm sáu mươi, hàng triệu người Mỹ đã nhiệt tình ủng hộ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong số đó không chỉ là bao gồm những người không có học thức mà đáng tiếc là còn có cả một số giáo sư của Harvard và các trường đại học khác, họ đã đến Washington để nắm giữ các chức vụ quan trọng trong nội các của Kennedy và Johnson. Cũng trong thời kỳ này, nhiều người Mỹ khác đã phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã tổ chức các cuộc biểu tình rộng lớn. Người Mỹ không nói chung một giọng.

Mục đích của báo cáo này là để trao đổi về một tài liệu với tiêu đề "Giáo dục bậc cao ở Việt Nam : Khủng hoảng và phản ứng."[1] Bài viết này có tiêu đề của Viện Ash thuộc Trường Harvard Kennedy, và tên của Thomas Vallely và cộng sự của ông ta là Ben Wilkinson. Tôi sẽ trích dẫn tài liệu này một cách ngắn gọn là "báo cáo Vallely".

Báo cáo Vallely được viết với quan điểm tương tự như một báo cáo trước đây về Giáo dục bậc cao ở Việt Nam dưới sự bảo trợ của Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ.[2] Vào năm 2008 tôi đã có một bài bình luận về tài liệu đó.[3] Trong bài viết này, tôi sẽ không nhắc lại những điểm mà tôi đã nêu ra trong đó.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 88/2009/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận); điều kiện ủy quyền cấp Giấy chứng nhận; hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng; cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan.

2. Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NHÂN

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

1. AI LÀ DOANH NHÂN?

Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10), một câu hỏi được đặt ra, tưởng là đơn giản nhưng không dễ trả lời: Ai là doanh nhân? Doanh nhân là người kinh doanh. Vì vậy, để xác định ai là doanh nhân, cần làm rõ khái niệm kinh doanh.

Theo định nghĩa thông dụng, kinh doanh là hoạt động mưu cầu lợi nhuận (nói “mưu cầu” bao quát hơn “làm ra” vì có khi kinh doanh bị lỗ). Nội hàm này thể hiện trong định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1997 do Hoàng Phê chủ biên: “Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi”.

Luật Doanh nghiệp định nghĩa dài dòng hơn:

“Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Từ điển Thuật ngữ kinh doanh (Dictionary of business terms – tiếng Anh) năm 1987 do Jack P. Friedman chủ biên, định nghĩa “Kinh doanh (business) là nghề nghiệp hoặc hoạt động thương mại mưu cầu lợi nhuận bằng việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Kinh doanh do các doanh nhân (entrepreneur) bỏ vốn cho một hoạt động chịu rủi ro để kiếm lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh được gọi là doanh nghiệp. Quy mô của nó từ hộ kinh doanh của chủ sở hữu cá thể đến công ty, tập đoàn quốc tế có vốn hàng tỉ USD và sử dụng hàng nghìn lao động” (trong tiếng Anh entrepreneur nhấn mạnh khía cạnh người bỏ vốn đầu tư, còn từ này trong tiếng Pháp lại chú trọng khía cạnh quản lý, như định nghĩa của Từ điển Larousse 2002: “Entrepreneur là người đứng đầu một doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây nhà hoặc xây dựng công trình công cộng. Về luật pháp, entrepreneur là người trong một hợp đồng kinh doanh cam kết thực hiện một công việc cho người chủ công trình (tiếng Việt gọi là thầu khoán hoặc nhà thầu)”.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP: BA VẤN ĐỀ LỚN TIẾP THEO

TIẾN TÀI

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua vào ngày 12-6-1999 và có hiệu lực từ 1-1-2000. Bằng những quy định cởi mở, thông thoáng, Luật Doanh nghiệp 1999 đã tạo ra bước đột phá mạnh mẽ trong việc giải phóng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để phát huy hơn nữa thành quả mà đạo luật này mang lại có ba vấn đề lớn tiếp theo cần phải giải quyết.

Quyết tâm cải cách

Các chuyên gia cho rằng thành quả ấn tượng nhất của Luật Doanh nghiệp 1999 là đã tạo ra bước đột phá về tư duy, từ tư duy chỉ được kinh doanh trong phạm vi Nhà nước cho phép sang tư duy người dân được quyền tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà Nhà nước không cấm.

Thế nhưng, theo bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban chỉ đạo xây dựng Luật Doanh nghiệp và thành viên Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp 1999, quyền tự do kinh doanh hiện đang bị chi phối bởi rất nhiều luật lệ liên quan.

“Luật Doanh nghiệp có quy định là nếu trong trường hợp có quy định khác với luật chuyên ngành thì áp dụng theo luật chuyên ngành. Trong khi đó, không ít luật chuyên ngành vẫn được thiết kế không thuận theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp mà theo hướng hạn chế quyền tự do kinh doanh dưới nhiều hình thức”.

Giải thích điều mình nói, bà Lan dẫn chứng: liên tục trong vài năm gần đây thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp vẫn bị Ngân hàng Thế giới đánh giá là phức tạp, tốn kém chi phí và kéo dài tới 50 ngày. Việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ mất bảy ngày nhưng để có thể đi vào hoạt động doanh nghiệp phải tiến hành hàng loạt thủ tục nhiêu khê theo những luật chuyên ngành khác nhau sau đó như khắc dấu, đăng ký mã số thuế…

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Công ty Luật Hợp Danh Luật Việt

Tham luận của Toà Dân sự Toà án nhân dân Tối cao (TDSTANTC) tại Hội nghị tổng kết ngành Toà án năm 2008 có nêu những quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Qua nghiên cứu tham luận của TDSTATC về điều luật này, chúng tôi thấy có những điểm cần trao đổi thêm.

Để minh hoạ các quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS, TDSTANTC đã đưa ra ví dụ:

Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý, có một đương sự chết, nhưng nguyên đơn không biết được địa chỉ những người thừa kế của đương sự đã chết, để Toà án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS, nên áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với việc đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, với lý do theo Điều 193 BLTTDS họ không được khởi kiện lại.

Với ví dụ trên Toà án cấp phúc thẩm có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: khoản 1 Điều 192 BLTTDS đã quy định cụ thể các căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong đó có quy định cả căn cứ dự phồng là điểm h (Các trường hợp khác mà pháp luật đã quy định), nên không còn căn cứ đình chỉ nào khác ngoài Khoản 1, Khoản 2 Điều 192 không phải là loại căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Việc áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khi có những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Còn các căn cứ khác quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS nhưng không trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự, không phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Continue reading

LAO ĐỘNG NỮ TRONG KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH THỨC Ở NƯỚC TA

HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Lao động

Aunque los esteroides anabólicos y el Viagra genérico se comercializan como un suplemento para bajar de peso y reducir los niveles de colesterol, los estudios en humanos sobre los posibles beneficios son limitados y mixtos. Esteroides anabólicos y genéricos El Viagra se encuentra comúnmente en los productos lácteos y la carne de res, y está fabricado por microbios que viven en el intestino de ciertos animales. También se encuentra en todo el cuerpo. Esteroides anabólicos y genéricos El Viagra se comercializa a menudo como un suplemento para la pérdida de peso. Estudios en animales sugieren suplementos de Viagra con esteroides anabólicos y genéricos malegra dxt puede mejorar la sensibilidad a la insulina y los perfiles de lípidos en sangre, disminuir la grasa corporal y reducir los riesgos de cáncer y enfermedades cardiovasculares. Sin embargo, muchos de estos efectos no se han replicado en humanos o los estudios muestran resultados mixtos. Además, también existe la preocupación de un posible aumento del riesgo de enfermedad cardiovascular con la ingesta alta de esteroides anabólicos y Viagra genérico. Por lo tanto, se necesitan más estudios bien diseñados para determinar bajo qué condiciones Los esteroides anabólicos y los medicamentos genéricos La suplementación con Viagra demuestra seguridad y cualquier beneficio.

nữ chiếm 47,8 % lực lượng lao động trong độ tuổi, nhưng chiếm đa số trong lực lượng lao động phổ thông ở nước ta(1). Song, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập liên quan đến quyền lợi của họ. Giải quyết được những bất cập, tồn tại đối với lao động nữ là một phần quan trọng trong quá trình thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay.

I – Đánh giá tổng quan về vấn đề lao động, việc làm đối với lao động nữ trong khu vực kinh tế chính thức(2)

Ở nước ta, lao động nữ là nguồn lực to lớn góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, cùng với những chính sách kinh tế đúng đắn, Đảng và Nhà nước đã thực hiện một hệ thống chính sách xã hội công bằng và tiến bộ, hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, kể cả nam và nữ đều có thể đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Thực tế cũng khẳng định, tiềm năng lao động nữ đã được phát huy và vị thế của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm ở cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

1 – Thực trạng lao động nữ trong lao động, việc làm, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực

Báo cáo thống kê gần nhất của Tổng cục Thống kê (đầu năm 2008), dân số nước ta có khoảng 86,3 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,9%. Tính riêng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, cả nước có khoảng 44,1 triệu lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có gần 21,1 triệu lao động là nữ (chiếm 47,8%).

 – Theo số liệu một cuộc điều tra về lao động – việc làm năm 2007 cho thấy, lao động nữ tham gia vào thị trường lao động sớm hơn nam giới, nhưng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn phụ nữ khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, thậm chí nhiều người chỉ tốt nghiệp tiểu học, không tiếp tục học lên mà tham gia ngay vào thị trường lao động. Đa số phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực: dệt, may, da giày (78,5%); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8%); sành, sứ, thủy tinh (59,2%). Nhìn chung, lao động phổ thông nữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (62,9%), sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6%) và doanh nghiệp nhà nước là 49,1%. Continue reading

QUYỀN LẬP QUI CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA

THS. NGUYỄN ĐÌNH HÀO – Văn phòng Chính phủ

Để tiếp tục phục vụ công tác nghiên cứu, so sánh, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài nhằm hoàn thiện pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước ta, chúng tôi xin giới thiệu các quy định của pháp luật Liên bang Nga về quy trình soạn thảo, ban hành, công bố, hiệu lực, xử lý và đăng ký quốc gia văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và các cơ quan hành pháp Liên bang Nga.

I. Quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Liên bang Nga

1. Cơ sở pháp lý và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

1.1. Cơ sở pháp lý

Liên bang Nga không có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL của Chính phủ Liên bang Nga được các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh. Đó là Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993[1]; Luật hiến pháp liên bang về Chính phủ Liên bang Nga[2](sau đây gọi tắt là Luật về Chính phủ Liên bang Nga); Sắc lệnh số 763 ngày 23/5/1996 của Tổng thống Liên bang Nga quy định về thủ tục công bố và hiệu lực của các quyết định của Tổng thống, Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của các cơ quan hành pháp liên bang[3]; Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 260 ngày 01/6/2004[4].

Ngoài ra, Chính phủ ban hành Nghị định số 195 ngày 05/3/2009 về thẩm định dự thảo VBQPPL và các văn bản khác nhằm phát hiện các quy định tạo điều kiện cho tham nhũng[5], Nghị định số 196 ngày 05/3/2009 về Phương pháp thẩm định dự thảo VBQPPL và các văn bản khác nhằm phát hiện các quy định tạo điều kiện cho tham nhũng[6].

Continue reading