PHÂN TÍCH CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở ẤN ĐỘ

QUYẾT THẮNG (Tổng hợp)

Ở Ấn Độ, Luật bảo vệ người tiêu dùng được thực thi vào năm 1986 nhằm hệ thống hóa các thủ tục pháp lý và luật pháp liên quan đến người tiêu dùng và được xem như là một trong những thành tựu nổi bật trong quá trình hệ thống hóa của Ấn Độ. Mục tiêu của Luật này là bảo vệ tốt hơn các quyền lợi của người tiêu dùng – bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gây thiệt hại như hàng hóa và dịch vụ khuyết tật, các hành vi thương mại không lành mạnh cũng như các dịch vụ lừa dối hoặc không chính đáng.

Luật này cũng tạo cơ sở pháp lý cho các Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng (những cơ quan có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng và đem lại 6 quyền lợi cho người tiêu dùng: quyền được an toàn, quyền được thông báo, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được bồi thường, và quyền được giáo dục về tiêu dùng.

Luật này cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp 3 cấp. Người tiêu dùng có thể gửi khiếu nại lên các “Tòa án Người tiêu dùng có cơ chế đặc biệt (còn gọi là Tòa án người tiêu dùng). Cơ chế của Tòa án này như sau: Tòa án quận, các hội đồng bang, hội đồng quốc gia giải quyết tranh chấp người tiêu dùng. Những cơ quan này có thẩm quyền tương tự như các tòa án dân sự theo Luật tố tụng dân sự, 1908. Tùy thuộc vào bản chất từng vụ việc, khiếu nại có thể được gửi đến bất kỳ cơ quan nào trong ba cơ quan trên. Các thủ tục trong những vụ kiện này đơn giản hơn rất nhiều so với các thủ tục tòa án thông thường. Tuy nhiên, bên khiếu nại có thể tự mình đưa vụ việc này ra tòa mà không cần phải có luật sư. Luật này cũng cho phép khiếu nại tập thể.

Sau khi phán quyết được đưa ra, nếu có bất kỳ bên nào không thỏa mãn thì sẽ mở phiên phúc thẩm. Phán quyết của Tòa án Quận sẽ do Hội đồng bang xét xử phúc thẩm, còn phán quyết của Hội đồng Bang sẽ do Hội đồng Quốc gia xét xử phúc thẩm.

Continue reading

LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN với vấn đề đánh thuế trùng và bỏ lọt thuế

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Luật Thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) được Quốc hội thông qua ngày 21/12/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 là một trong những đạo luật có phạm vi tác động rộng lớn tới đại bộ phận dân cư trong xã hội. Nếu như trước đây, TTNCN chỉ áp dụng đối với những người có thu nhập cao theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (1), thì nay, hầu hết các khoản thu nhập của cá nhân đều phải chịu thuế trên cơ sở có tính đến giảm trừ gia cảnh, trừ một số thu nhập đặc biệt được quy định tại Điều 4 của Luật TTNCN, như thu nhập từ thừa kế giữa cha mẹ và con, vợ chồng hoặc anh chị em ruột với nhau, thu nhập từ lương hưu hoặc từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng… thì được miễn TTNCN.

Các khoản thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật TTNCN được chia thành 10 lĩnh vực, bao gồm thu nhập từ: (i) kinh doanh; (ii) tiền lương, tiền công; (iii) đầu tư vốn; (iv) chuyển nhượng vốn; (v) chuyển nhượng bất động sản; (vi) trúng thưởng; (vii) bản quyền; (viii) nhượng quyền thương mại; (ix) nhận thừa kế trong một số trường hợp; và (x) nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. Bài viết này chỉ đi sâu phân tích các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh từ hoạt động đầu tư vốn vào các doanh nghiệp để xác định khi nào thì những thu nhập này trở thành thu nhập chịu thuế và chủ sở hữu doanh nghiệp trở thành đối tượng nộp TTNCN.

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định 4 loại hình doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên), công ty cổ phần và công ty hợp danh. Trong hoạt động kinh doanh, bản thân doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) nếu có phát sinh thu nhập chịu thuế. Câu hỏi đặt ra là, trường hợp nào thì chủ sở hữu doanh nghiệp phải nộp TTNCN? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần ghi nhớ nguyên tắc xác định đối tượng nộp thuế. Thuế thu nhập là thuế trực thu, đánh trực tiếp trên thu nhập của các tổ chức và cá nhân nên chủ thể nào có thu nhập thì chủ thể ấy là đối tượng chịu thuế và đồng thời là đối tượng nộp thuế.

Continue reading

LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỚI VẤN ĐỀ ĐÁNH THUẾ TRÙNG VÀ BỎ LỌT THUẾ

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Luật Thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) được Quốc hội thông qua ngày 21/12/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 là một trong những đạo luật có phạm vi tác động rộng lớn tới đại bộ phận dân cư trong xã hội. Nếu như trước đây, TTNCN chỉ áp dụng đối với những người có thu nhập cao theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (1), thì nay, hầu hết các khoản thu nhập của cá nhân đều phải chịu thuế trên cơ sở có tính đến giảm trừ gia cảnh, trừ một số thu nhập đặc biệt được quy định tại Điều 4 của Luật TTNCN, như thu nhập từ thừa kế giữa cha mẹ và con, vợ chồng hoặc anh chị em ruột với nhau, thu nhập từ lương hưu hoặc từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng… thì được miễn TTNCN.

Các khoản thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật TTNCN được chia thành 10 lĩnh vực, bao gồm thu nhập từ: (i) kinh doanh; (ii) tiền lương, tiền công; (iii) đầu tư vốn; (iv) chuyển nhượng vốn; (v) chuyển nhượng bất động sản; (vi) trúng thưởng; (vii) bản quyền; (viii) nhượng quyền thương mại; (ix) nhận thừa kế trong một số trường hợp; và (x) nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. Bài viết này chỉ đi sâu phân tích các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh từ hoạt động đầu tư vốn vào các doanh nghiệp để xác định khi nào thì những thu nhập này trở thành thu nhập chịu thuế và chủ sở hữu doanh nghiệp trở thành đối tượng nộp TTNCN.

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định 4 loại hình doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên), công ty cổ phần và công ty hợp danh. Trong hoạt động kinh doanh, bản thân doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) nếu có phát sinh thu nhập chịu thuế. Câu hỏi đặt ra là, trường hợp nào thì chủ sở hữu doanh nghiệp phải nộp TTNCN? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần ghi nhớ nguyên tắc xác định đối tượng nộp thuế. Thuế thu nhập là thuế trực thu, đánh trực tiếp trên thu nhập của các tổ chức và cá nhân nên chủ thể nào có thu nhập thì chủ thể ấy là đối tượng chịu thuế và đồng thời là đối tượng nộp thuế.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3968/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 21 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long

Trả lời công văn số 2268/NHN-TCCB ngày 05/10/2009 của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Ông Trần Minh Nhơn làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam từ tháng 11/1994, đến tháng 03/2002 chuyển sang làm việc tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long. Như vậy thời gian chuyển công tác của ông Nhơn sau ngày 01/01/1995 (ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành) thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc đối với ông Nhơn trong thời gian làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (từ tháng 11/1994 đến hết tháng 02/2002) là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long biết và thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

CÔNG VĂN SỐ 3919/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ TRẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành
(243 Bến Vân Đồn, phường 5, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh)

Trả lời công văn số 133/CV-CTLT ngày 10/8/2009 của Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành về việc trả trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thì Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 06 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có). Căn cứ Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì cách tích trợ cấp thôi việc quy định tại Điều 2, Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên được áp dụng từ ngày 01/01/2009 (ngày Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành).

Do vậy Công ty phải tính lại trợ cấp thôi việc đối với các trường hợp đã thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong giai đoạn từ ngày 01/01/2009 đến ngày 10/7/2009 mà Công ty đã chi trả nợ theo Khoản 3, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên. Việc tính lại trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3919/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG –THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành
(243 Bến Vân Đồn, phường 5, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh)

Trả lời công văn số 133/CV-CTLT ngày 10/8/2009 của Công ty cổ phần Chế biến Thủy Hải sản Liên Thành về việc trả trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thì Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 06 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có). Căn cứ Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì cách tích trợ cấp thôi việc quy định tại Điều 2, Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên được áp dụng từ ngày 01/01/2009 (ngày Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành).

Do vậy Công ty phải tính lại trợ cấp thôi việc đối với các trường hợp đã thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong giai đoạn từ ngày 01/01/2009 đến ngày 10/7/2009 mà Công ty đã chi trả nợ theo Khoản 3, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên. Việc tính lại trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH VỀ KINH DOANH VÀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Hợp tác xã ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Du lịch ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về kinh doanh, điều kiện kinh doanh và việc cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc liên quan đến kinh doanh vận tải bằng xe ô tô trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đơn vị kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

2. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hành khách, hàng hóa có thu tiền.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 92/2009/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHỨC DANH, SỐ LƯỢNG, MỘT SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN VÀ NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH Ở CẤP XÃ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã); và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cán bộ, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định tại Điều 1 Nghị định này bao gồm:

1. Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ ở cấp xã (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã);

2. Công chức cấp xã;

3. Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Chương 2.

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Continue reading

QUYỀN QUYẾT ĐỊNH VÀ NĂNG LỰC QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

NGUYỄN ĐỨC LAM

Một vị đại biểu quốc hội (ĐBQH) kể lại, Quôc hội (QH) khoá XI đã từng phải bàn luận rất nhiều, rất căng thẳng về phương án đập Sơn La cao hay thấp trước khi quyết. Bản thân ông cũng rẩt băn khoăn trước tầm quan trọng của vấn đề. Trước khi tham gia biểu quyết về phương án đập Sơn La cao hay thấp, ông đã phải nhân ngày nghỉ cuối tuần trong kỳ họp để đến hỏi ý kiến một vị tướng, đồng thời là nhà sử học; rồi bay vào Nam hỏi một GS khả kính trong làng sử học; hỏi cả một vị cựu lãnh đạo cấp cao từng có những quyết sách kinh tế táo bạo. Nhưng ba người đưa ra ba phương án khác nhau. Cuối cùng, vị ĐBQH vẫn phải tự quyết định câu trả lời lấy để bấm nút[1].

Câu chuyện này cho thấy, quyết là một quyền to nhất, nhưng cũng là gánh nặng trách nhiệm của QH và từng ĐBQH. Làm thế nào để ĐBQH có thể quyết mà tâm thanh thản, an tâm rằng mình đã quyết đúng theo những gì được cho là tốt nhất cho những lợi ích mà ĐBQH cần bảo vệ? Bài viết này thử tìm hiểu câu trả lời từ những câu chuyện thực tế, những lời phát biểu, trả lời phỏng vấn của các ĐBQH, đồng thời dựa trên những quy định pháp luật, những kiến thức về hệ thống đại diện ở Việt Nam và lý thuyết về quá trình ra quyết định. Bài viết có bốn phần. Phần I tạm gọi là Khái niệm sẽ đề cập đến những vấn đề chung như: định danh thế nào là quyết định đặt trong bối cảnh hoạt động của một ĐBQH, năng lực quyết định là gì; những đặc thù của quá trình ra quyết định ở môi trường Quốc hội; phạm vi của quyết định do ĐBQH đưa ra. Phần II điểm lại những vướng mắc lớn trong thực tế ra quyết định của ĐBQH. Phần III giải thích một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này bao gồm: do quy trình ra quyết định; do đại biểu thiếu thông tin, thiếu động lực, thiếu kỹ năng. Cuối cùng, Phần IV đề xuất thiết kế lại một chút quy trình ra quyết định hiện nay ở nghị trường; tạo điều kiện hỗ trợ cho đại biểu quyết định; dựa vào cử tri và các quyền sẵn có của ĐBQH để quyết; và nâng cao năng lực cá nhân của ĐBQH trong quá trình ban hành quyết định.

I- Khái niệm

1. Định nghĩa, phạm vi vấn đề

Bài viết này chủ yếu đề cập đến năng lực quyết định của cá nhân đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, khái niệm “quyết định” trong bài này không chỉ nói đến chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, mà quyết định cả những vấn đề khác như khi biểu quyết một dự luật, chất vấn bộ trưởng, thảo luận ngân sách… Nó cũng không chỉ đề cập đến thời khắc mà cá nhân ĐBQH đưa ra quyết định cuối cùng khi bấm nút, mà có ý nghĩa rộng hơn, bao gồm cả một quá trình, ví dụ từ lúc quyết định có tiếp dân ở nhà không, có đưa một vấn đề ra trước phiên họp hay không, hoặc có định chất vấn bộ trưởng không v.v… Ngoài ra, mặc dù nói đến việc quyết định của cá nhân ĐBQH, nhưng mỗi ĐBQH lại hoạt động  trong một môi trường rộng lớn, thống nhất là QH. Cho nên, không thể không nói đến, dù ít hơn, những nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của ĐBQH trong môi trường đó. Như vậy, “quyết định” ở đây có phạm vi rộng hơn nghĩa thông thường của một cá nhân nhất định tại một thời khắc nhất định.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN MUA NHÀ: XUNG QUANH VỤ BÁN “LÚA NON” Ở QUẬN CẦU GIẤY (HÀ NỘI), “BÙNG NHÙNG” CHƯA LỐI THUÁT . . .

THIÊN LONG – ĐÔNG HƯNG

Thuận mua vừa bán, nhiều người dân quận Cầu Giấy đã nhận tiền đặt cọc, làm hợp đồng chuyển nhượng quyền mua nhà tái định cư và chấp thuận công chứng ký tên, điểm chỉ vào Hợp đồng ủy quyền bất động sản cho người khác có nhu cầu mua lại. Sau đó, những người bán lúa non (nhà tái định cư trước khi bốc thăm) này lại làm đơn tố cáo người mua lừa đảo để mua lại các căn hộ tái định cư của họ. Sự vụ này đang gây xôn xao dư luận trong mấy ngày qua.

Tiên trách kỷ

Câu chuyện tranh chấp này bắt nguồn từ Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I (nay là Dự án Thoát nước cải thiện môi trường Hà Nội – Dự án II) đoạn qua địa bàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Được biết, Dự án này đã hoàn tất việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân có đất phải thu hồi để phục vụ cho Dự án từ năm 2007. Hài hoà lợi ích của Nhà nước và người dân, ngày 25.6.2009, UBND TP. Hà Nội có văn bản số 5911/UBND-TNMT về việc "Bổ sung chính sách bán nhà tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn II trên địa bàn quận Cầu Giấy". Theo đó, hộ gia đình bị thu hồi đất ở với diện tích nhỏ hơn 20m2, nhưng lớn hơn 10m2, diện tích còn lại nhỏ hơn 40m2; hộ gia đình bị thu hồi đất ở diện tích lớn hơn 20m2, diện tích còn lại nhỏ hơn 80m2 được mua một căn hộ chung cư cao tầng tại khu 5,3ha Dịch Vọng, Cầu Giấy.

Đối chiếu với chính sách trên, nhiều hộ dân ở phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy có đất nằm trong Dự án được mua nhà tái định cư. Quá trình mua nhà tái định cư, nhiều hộ dân đã bán "lúa non" (bán trên giấy tờ trước khi trả đủ tiền nhà).

Continue reading

CẦN ĐÁNH GIÁ, RÚT KINH NGHIỆM LỘ TRÌNH TĂNG THẨM QUYỀN CHO TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

HOÀNG THỊ LIÊN

Thực hiện Nghị quyết số 24/2003; Nghị quyết số 32/2004 và một số nghị quyết khác của Quốc hội về Thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự, dân sự, lộ trình tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện đến nay đã đạt yêu cầu về thời gian. Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu, thời gian tới cần nghiêm túc tổng kết, đánh giá thực tiễn để có những chủ trương, giải pháp thực hiện hiệu quả lộ trình cải cách tư pháp .

Tăng thẩm quyền xét xử là bước đột phá trong chương trình cải cách tư pháp; Tổng kết quá trình thực hiện cho thấy, hầu hết các Tòa án cấp huyện đều thực hiện tăng thẩm quyền trước thời hạn, một số địa phương đã triển khai các nội dung được tăng thẩm quyền đạt hiệu quả cả về chất lượng và số lượng.

Tuy nhiên, khi thực hiện tăng thẩm quyền, cấp huyện gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những kinh nghiệm về giải quyết loại án ở mức độ khó hơn. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật thường xuyên được bổ sung, sửa đổi nhưng việc giải thích, hướng dẫn chậm, gây khó khăn trong việc nhận thức, áp dụng pháp luật.  Để cấp huyện tiếp tục thực hiện tốt thẩm quyền mới, Quốc hội cần giám sát việc giải thích, hướng dẫn pháp luật của các ngành ở trung ương; nên giao trách nhiệm cụ thể cho từng ngành và ấn định thời gian hoàn thành sớm để có văn bản hướng dẫn đồng bộ giúp người dân và các cơ quan hữu quan nhận thức đúng, thực hiện nghiêm túc. Hiện nay, chỉ có một số văn bản hướng dẫn nhỏ giọt, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hậu quả là nhiều bản án, quyết định của Tòa án một số địa phương đã xét xử phải hủy, sửa, xử đi, xử lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết, gây tốn kém và dẫn đến sự thiếu tin tưởng của người dân đối với chủ trương chính sách, pháp luật.

Continue reading

HỌC GÌ QUA CÂU CHUYÊN CỦA DUTCH LADY VÀ BIG C?

TRẦN THANH TÙNG – Công ty luật Phước & Partners  

Vụ Dutch Lady từ chối giao hàng cho siêu thị Big C để phục vụ chương trình khuyến mãi “Giá rẻ chưa từng thấy” tạo ra một tranh chấp hy hữu giữa siêu thị và nhà cung cấp (Xem thêm bài “Khuyến mãi hay bán phá giá?” trên báo Tuổi Trẻ ngày thứ Bảy, 10-10-2009).

Điều thú vị là cả hai đều cho là mình đúng khi Dutch Lady cho rằng việc Big C giảm giá thấp hơn giá mua là bán phá giá và cạnh tranh không lành mạnh, trong khi Big C thì khẳng định đây là giá trị siêu thị cộng thêm cho người tiêu dùng.

Theo dự định, Big C sẽ khuyến mãi theo dạng “mua 8 được 10” (mua hai lốc sữa Dutch Lady sẽ được tặng một hộp sữa 110 mi li lít và “siêu thị tặng thêm” một hộp 110 mi li lít nữa). Rắc rối ở chỗ cùng là hộp sữa 110 mi li lít nhưng một hộp thì được cho là do Dutch Lady “tặng” còn một hộp lại của siêu thị “thêm”.

Chính việc “tặng” và “thêm” này có thể đã dẫn đến những hiểu lầm và là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp. Vậy cần hiểu sự việc này như thế nào dưới góc độ luật pháp?

Về mặt luật, “tặng” hay “thêm” cho khách hàng đều là hành vi khuyến mãi. Theo quy định hiện hành, luật cấm việc bán phá giá (1) hoặc lợi dụng khuyến mãi để bán phá giá (2), nhưng vấn đề không đặt ra nếu việc khuyến mãi đó là phù hợp với luật.

Để có cơ sở xem xét tiếp theo, ta phải xác định ai là người thực hiện khuyến mãi? Dutch Lady hay Big C? Theo những thông tin trên báo chí, chương trình khuyến mãi “Giá rẻ chưa từng thấy” do Big C thực hiện và diễn ra trong hệ thống siêu thị Big C.

Nếu đúng là Big C tiến hành khuyến mãi và đăng ký chương trình khuyến mãi với cơ quan nhà nước thì về mặt luật pháp, Big C là người thực hiện khuyến mãi, chứ không phải Dutch Lady. Vậy Big C khuyến mãi cái gì? Theo cách nhìn của Big C, Big C chỉ khuyến mãi cho khách hàng một hộp sữa 110 mi li lít khi khách hàng mua hai lốc sữa Dutch Lady.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG và vai trò của Liên hợp quốc

DƯƠNG DANH HUY PHẠM THU XUÂN NGUYỄN THÁI LINH LÊ VĨNH TRƯƠNG & LÊ MINH PHIẾU (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp – mà một trong những cách quan trọng là đưa ra Liên hợp quốc (LHQ) – là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.

Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở – một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.

Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).

Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.

Continue reading

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC

DƯƠNG DANH HUY – PHẠM THU XUÂN – NGUYỄN THÁI LINH – LÊ VĨNH TRƯƠNG – LÊ MINH PHIẾU (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Với Việt Nam, quốc tế hoá tranh chấp – mà một trong những cách quan trọng là đưa ra LHQ – là cần thiết để đương đầu với chiến lược và chủ trương của Trung Quốc. Nó cũng vận động được sự tham gia các nước muốn bảo vệ quyền lợi của họ trước đe doạ từ ranh giới lưỡi bò – vốn cũng là một đe dọa rất lớn đối với Việt Nam.

Ngày 10/3/2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở – một ranh giới biển có ý nghĩa gần như biên giới trên bộ [1]. Luật này không đưa Trường Sa của Việt Nam vào bên trong đường cơ sở, nhưng đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines.

Trước đó, vào ngày 18/2/2009, sau khi Quốc hội Philippines phê chuẩn luật này, Trung Quốc đã phản đối Philippines, đồng thời khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo này. Ngày 19/02/2009, Việt Nam phản đối Philippines, tái khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam về cách giải quyết tranh chấp. Đáp lại phản đối từ Trung Quốc và Việt Nam, Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Liên hiệp quốc (LHQ).

Trung Quốc luôn luôn phản đối việc quốc tế hoá và chỉ chấp nhận đàm phán song phương cho các tranh chấp trên Biển Đông. Việc áp dụng đàm phán song phương cho các tranh chấp đa phương là một điều bất hợp lý, khó mang lại sự công bằng cho các bên.
Rõ ràng, mục đích của đòi hỏi đàm phán song phương là chiến lược bẻ đũa từng chiếc, và mục đích của đòi hỏi không quốc tế hoá tranh chấp là đối phó với các nước yếu hơn. Thêm nữa, yêu sách của Trung Quốc về ranh giới lưỡi bò ảnh hưởng quyền lợi của tất cả các nước trên thế giới, nên quốc tế hoá tranh chấp là điều bất lợi cho Trung Quốc.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 87/2009/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2009 VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Căn cứ Luật Đường sắt ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Hợp tác xã ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Hải quan ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về hoạt động vận tải đa phương thức bao gồm vận tải đa phương thức quốc tế và vận tải đa phương thức nội địa.

2. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức đăng ký kinh doanh vận tải đa phương thức bao gồm: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật về hợp tác xã của Việt Nam; các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải đa phương thức.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

QUY CHẾ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH trong giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

(Ban hành kèm theo Quyết định số 112/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2009 của UBND thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

Quy chế này quy định về hồ sơ, trình tự, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan có liên quan trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

2. Đối tượng áp dụng

Quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu khi thành lập doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn đến thay đổi mã số doanh nghiệp; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế, Công an Thành phố và các cơ quan liên quan.

Điều 2. Nguyên tắc giải quyết thủ tục hành chính

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế theo quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý Thuế.

Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ và có nội dung được kê khai đầy đủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

QUY CHẾ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH TRONG GIẢI QUYẾT ĐĂNG KÝ KINH DOANH, ĐĂNG KÝ THUẾ VÀ ĐĂNG KÝ CON DẤU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THÀNH LẬP, HOẠT ĐỘNG THEO LUẬT DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 112/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2009 của UBND thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

Quy chế này quy định về hồ sơ, trình tự, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan có liên quan trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

2. Đối tượng áp dụng

Quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu khi thành lập doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh dẫn đến thay đổi mã số doanh nghiệp; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế, Công an Thành phố và các cơ quan liên quan.

Điều 2. Nguyên tắc giải quyết thủ tục hành chính

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế theo quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý Thuế.

Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ và có nội dung được kê khai đầy đủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÓ Ý KIẾN BÌNH LUẬN CỦA CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI

Dự thảo Luật này đã được một số chuyên gia Pháp và Liên Hợp quốc đóng góp ý kiến trong khuôn khổ các cuộc hội thảo do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức ngày 4-5/06/2009 và 24-25/09/2009. Đó là các chuyên gia sau đây:

1. Bà Laurence Kiffer, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

2. Ông Eric Teynier, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

3. Bà Corinne Montineri, Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

4. Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa thương mại, Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp.

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Về tiêu đề của Luật:

Chuyên gia Pháp đề xuất bỏ từ “thương mại” để mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài.

Chuyên gia Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) cho rằng nếu giữ lại từ “thương mại” thì phải xét xem liệu khái niệm “thương mại” trong luật Việt Nam có được hiểu theo nghĩa rộng không. Về vấn đề này, Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL nêu rõ “thuật ngữ thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng, nhằm bao hàm những vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ thương mại, hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng”.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Quốc hội ban hành Luật Trọng tài thương mại.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ẤM ỨC VIỆC TÒA TỪ CHỐI GIÁM ĐỊNH CHỨNG CỨ

HOÀNG LAM

Cho rằng giấy biên nhận nợ là giấy khống, bị đơn đề nghị tòa trưng cầu giám định nhưng tòa lại từ chối.

Nộp đơn khởi kiện đòi nợ, ông T. cho biết: Tháng 8-2007, bà P. vay của ông 300 triệu đồng với lãi suất thỏa thuận. Giấy biên nhận nợ có chữ ký của hai bên ghi rõ khi nào ông T. muốn lấy lại tiền, ông chỉ cần báo cho bà P. biết trước một tháng. Đến tháng 4-2008, ông T. yêu cầu bà P. trả tiền nhưng bà không trả.

Phủ nhận giấy biên nhận nợ

Bà P. khẳng định giấy biên nhận nợ do ông T. cung cấp là chứng cứ giả mạo. Bà cho biết vào năm 2007, bà có mua 300 m2 đất và nhờ ông T. làm giúp thủ tục tách thửa. Khi đang thực hiện thủ tục này, chủ đất tiếp tục bán cho bà 200 m2 đất còn lại. Vì vậy, bà đã nhờ ông T. rút hồ sơ tách thửa để làm hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ thửa đất.

Khi đó, ông T. kêu bà ký tên sẵn vào góc dưới một tờ giấy tập màu trắng để ông làm đơn xin rút hồ sơ. Sau đó, ông T. dùng tờ giấy khác để viết đơn xin rút hồ sơ và ký giả tên bà. Với tờ giấy tập có chữ ký của bà P., ông T. tự viết vài chữ thể hiện việc cho vay tiền.

Để chứng minh mình không vay tiền của ông T., bà P. cho biết vào tháng 8-2008, em ông T. có hỏi vay của bà 200 triệu đồng dưới sự bảo lãnh của ông. Bà bảo nếu bà nợ 300 triệu đồng thì anh em ông T. phải đòi nợ bà chứ sao lại phải đi vay tiền của bà.

Bà P. từng nộp đơn tố cáo ông T. vu khống mình vay 300 triệu đồng tại cơ quan công an. Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy, giấy biên nhận vay tiền do chính ông T. viết, còn bà P. cũng đã ký tên vào giấy. Cơ quan này chưa đủ cơ sở kết luận về nội dung tố giác của bà P.

Xét xử không cần giám định

Xử sơ thẩm giữa tháng 8-2009, TAND quận Bình Thủy nhận định: “Việc em ông T. vay 200 triệu đồng của bà P. không có nghĩa là ông T. không thể cho bà P. vay tiền”… Continue reading