PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

ĐOÀN HIỀN

Mấy năm gần đây, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gia tăng nghiêm trọng. Điều đáng nói là, ngay cả trong các trường hợp bọn buôn người sử dụng những chiêu bài cũ rích, thì các nạn nhân vẫn bị lừa gạt một cách dễ dàng. Vì vậy, nâng cao nhận thức cho phụ nữ và trẻ em, đặc biệt các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa đang là một trong những việc làm cấp bách hiện nay.

Nhức nhối tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em

Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em đang là một hiện tượng nhức nhối ở nước ta hiện nay, là hoạt động tội phạm xâm hại những quyền cơ bản nhất của con người, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư. Và đối tượng bị tổn thương nhất là phụ nữ và trẻ em. Tệ nạn này làm ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe, phẩm hạnh và cơ hội phát triển của họ.

Điều đáng lo ngại là, số vụ việc và số phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ngày càng tăng theo thời gian. Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an), giai đoạn 1998 – 2006, có 5.746 phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài và 665 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán trong nước, chưa kể đến con số 7.940 phụ nữ và trẻ em nghi ngờ bị buôn bán. Từ năm 2005 đến tháng 6-2008, toàn quốc đã xảy ra 1.100 vụ với 2.800 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, diễn ra mạnh nhất tại các tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc với hơn 65% tổng số vụ. Tuyến Việt Nam – Cam-pu-chia cũng chiếm đến 15% tổng số vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em, tuyến Việt Nam – Lào chiếm khoảng 6,5% số vụ. Toàn quốc hiện nay có 54 tuyến trọng điểm về buôn bán phụ nữ và trẻ em, trong đó có năm tuyến quốc tế và 18 tuyến liên tỉnh.

Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 130/CP (Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em), chỉ trong sáu tháng đầu năm 2009, cả nước đã xảy ra 191 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em, với 362 đối tượng, lừa bán 417 nạn nhân. Đáng chú ý, tình trạng chiếm đoạt, bắt cóc trẻ em, mua bán trẻ sơ sinh đưa ra nước ngoài bán liên tục xảy ra ở một số địa phương phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Nam…

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2009/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT ĐẤU THẦU VÀ LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY DỰNG THEO LUẬT XÂY DỰNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi) và hướng dẫn thi hành việc lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội.

2. Việc lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật Đấu thầu. Thủ tục trình, thẩm định và phê duyệt các nội dung trong quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của Nghị định này.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

TRANH LUẬN SAU BÁO CÁO CỦA HAVARD VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

GS. NEAL KOBLITZ

Giới thiệu tác giả: Năm 1985, GS Neal Koblitz (ĐH Washington) và TS Victor Miller (Cty IBM) đã đề xuất (độc lập với nhau) phương pháp mật hóa mã công khai dựa trên đường cong ellip. Ngày nay kỹ thuật Elliptic Curve Cryptography (ECC) đã tiến bộ rất xa trong cả nghiên cứu hàn lâm lẫn các hệ thống mật hóa thương mại. Neal Koblitz có khá nhiều công trình về Lý thuyết số và Mật mã học hiện đại. Ông là người bạn Mỹ lâu năm của giới khoa học nước ta và đã cùng vợ sáng lập Giải thưởng Kovalevskaia cho các nhà toán học nữ.

1.   Dẫn nhập

Đối với những vấn đề quốc tế quan trọng, quan điểm của người Mỹ thường bị chia rẽ một cách sâu sắc. Vào những năm sáu mươi, hàng triệu người Mỹ đã nhiệt tình ủng hộ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong số đó không chỉ là bao gồm những người không có học thức mà đáng tiếc là còn có cả một số giáo sư của Harvard và các trường đại học khác, họ đã đến Washington để nắm giữ các chức vụ quan trọng trong nội các của Kennedy và Johnson. Cũng trong thời kỳ này, nhiều người Mỹ khác đã phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã tổ chức các cuộc biểu tình rộng lớn. Người Mỹ không nói chung một giọng.

Mục đích của báo cáo này là để trao đổi về một tài liệu với tiêu đề "Giáo dục bậc cao ở Việt Nam : Khủng hoảng và phản ứng."[1] Bài viết này có tiêu đề của Viện Ash thuộc Trường Harvard Kennedy, và tên của Thomas Vallely và cộng sự của ông ta là Ben Wilkinson. Tôi sẽ trích dẫn tài liệu này một cách ngắn gọn là "báo cáo Vallely".

Báo cáo Vallely được viết với quan điểm tương tự như một báo cáo trước đây về Giáo dục bậc cao ở Việt Nam dưới sự bảo trợ của Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ.[2] Vào năm 2008 tôi đã có một bài bình luận về tài liệu đó.[3] Trong bài viết này, tôi sẽ không nhắc lại những điểm mà tôi đã nêu ra trong đó.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 88/2009/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận); điều kiện ủy quyền cấp Giấy chứng nhận; hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng; cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan.

2. Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NHÂN

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

1. AI LÀ DOANH NHÂN?

Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10), một câu hỏi được đặt ra, tưởng là đơn giản nhưng không dễ trả lời: Ai là doanh nhân? Doanh nhân là người kinh doanh. Vì vậy, để xác định ai là doanh nhân, cần làm rõ khái niệm kinh doanh.

Theo định nghĩa thông dụng, kinh doanh là hoạt động mưu cầu lợi nhuận (nói “mưu cầu” bao quát hơn “làm ra” vì có khi kinh doanh bị lỗ). Nội hàm này thể hiện trong định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1997 do Hoàng Phê chủ biên: “Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi”.

Luật Doanh nghiệp định nghĩa dài dòng hơn:

“Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Từ điển Thuật ngữ kinh doanh (Dictionary of business terms – tiếng Anh) năm 1987 do Jack P. Friedman chủ biên, định nghĩa “Kinh doanh (business) là nghề nghiệp hoặc hoạt động thương mại mưu cầu lợi nhuận bằng việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Kinh doanh do các doanh nhân (entrepreneur) bỏ vốn cho một hoạt động chịu rủi ro để kiếm lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh được gọi là doanh nghiệp. Quy mô của nó từ hộ kinh doanh của chủ sở hữu cá thể đến công ty, tập đoàn quốc tế có vốn hàng tỉ USD và sử dụng hàng nghìn lao động” (trong tiếng Anh entrepreneur nhấn mạnh khía cạnh người bỏ vốn đầu tư, còn từ này trong tiếng Pháp lại chú trọng khía cạnh quản lý, như định nghĩa của Từ điển Larousse 2002: “Entrepreneur là người đứng đầu một doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây nhà hoặc xây dựng công trình công cộng. Về luật pháp, entrepreneur là người trong một hợp đồng kinh doanh cam kết thực hiện một công việc cho người chủ công trình (tiếng Việt gọi là thầu khoán hoặc nhà thầu)”.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP: BA VẤN ĐỀ LỚN TIẾP THEO

TIẾN TÀI

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua vào ngày 12-6-1999 và có hiệu lực từ 1-1-2000. Bằng những quy định cởi mở, thông thoáng, Luật Doanh nghiệp 1999 đã tạo ra bước đột phá mạnh mẽ trong việc giải phóng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để phát huy hơn nữa thành quả mà đạo luật này mang lại có ba vấn đề lớn tiếp theo cần phải giải quyết.

Quyết tâm cải cách

Các chuyên gia cho rằng thành quả ấn tượng nhất của Luật Doanh nghiệp 1999 là đã tạo ra bước đột phá về tư duy, từ tư duy chỉ được kinh doanh trong phạm vi Nhà nước cho phép sang tư duy người dân được quyền tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà Nhà nước không cấm.

Thế nhưng, theo bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban chỉ đạo xây dựng Luật Doanh nghiệp và thành viên Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp 1999, quyền tự do kinh doanh hiện đang bị chi phối bởi rất nhiều luật lệ liên quan.

“Luật Doanh nghiệp có quy định là nếu trong trường hợp có quy định khác với luật chuyên ngành thì áp dụng theo luật chuyên ngành. Trong khi đó, không ít luật chuyên ngành vẫn được thiết kế không thuận theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp mà theo hướng hạn chế quyền tự do kinh doanh dưới nhiều hình thức”.

Giải thích điều mình nói, bà Lan dẫn chứng: liên tục trong vài năm gần đây thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp vẫn bị Ngân hàng Thế giới đánh giá là phức tạp, tốn kém chi phí và kéo dài tới 50 ngày. Việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ mất bảy ngày nhưng để có thể đi vào hoạt động doanh nghiệp phải tiến hành hàng loạt thủ tục nhiêu khê theo những luật chuyên ngành khác nhau sau đó như khắc dấu, đăng ký mã số thuế…

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Công ty Luật Hợp Danh Luật Việt

Tham luận của Toà Dân sự Toà án nhân dân Tối cao (TDSTANTC) tại Hội nghị tổng kết ngành Toà án năm 2008 có nêu những quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Qua nghiên cứu tham luận của TDSTATC về điều luật này, chúng tôi thấy có những điểm cần trao đổi thêm.

Để minh hoạ các quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS, TDSTANTC đã đưa ra ví dụ:

Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý, có một đương sự chết, nhưng nguyên đơn không biết được địa chỉ những người thừa kế của đương sự đã chết, để Toà án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS, nên áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với việc đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, với lý do theo Điều 193 BLTTDS họ không được khởi kiện lại.

Với ví dụ trên Toà án cấp phúc thẩm có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: khoản 1 Điều 192 BLTTDS đã quy định cụ thể các căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong đó có quy định cả căn cứ dự phồng là điểm h (Các trường hợp khác mà pháp luật đã quy định), nên không còn căn cứ đình chỉ nào khác ngoài Khoản 1, Khoản 2 Điều 192 không phải là loại căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Việc áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khi có những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Còn các căn cứ khác quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS nhưng không trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự, không phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Continue reading

LAO ĐỘNG NỮ TRONG KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH THỨC Ở NƯỚC TA

HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Lao động

Aunque los esteroides anabólicos y el Viagra genérico se comercializan como un suplemento para bajar de peso y reducir los niveles de colesterol, los estudios en humanos sobre los posibles beneficios son limitados y mixtos. Esteroides anabólicos y genéricos El Viagra se encuentra comúnmente en los productos lácteos y la carne de res, y está fabricado por microbios que viven en el intestino de ciertos animales. También se encuentra en todo el cuerpo. Esteroides anabólicos y genéricos El Viagra se comercializa a menudo como un suplemento para la pérdida de peso. Estudios en animales sugieren suplementos de Viagra con esteroides anabólicos y genéricos malegra dxt puede mejorar la sensibilidad a la insulina y los perfiles de lípidos en sangre, disminuir la grasa corporal y reducir los riesgos de cáncer y enfermedades cardiovasculares. Sin embargo, muchos de estos efectos no se han replicado en humanos o los estudios muestran resultados mixtos. Además, también existe la preocupación de un posible aumento del riesgo de enfermedad cardiovascular con la ingesta alta de esteroides anabólicos y Viagra genérico. Por lo tanto, se necesitan más estudios bien diseñados para determinar bajo qué condiciones Los esteroides anabólicos y los medicamentos genéricos La suplementación con Viagra demuestra seguridad y cualquier beneficio.

nữ chiếm 47,8 % lực lượng lao động trong độ tuổi, nhưng chiếm đa số trong lực lượng lao động phổ thông ở nước ta(1). Song, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập liên quan đến quyền lợi của họ. Giải quyết được những bất cập, tồn tại đối với lao động nữ là một phần quan trọng trong quá trình thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay.

I – Đánh giá tổng quan về vấn đề lao động, việc làm đối với lao động nữ trong khu vực kinh tế chính thức(2)

Ở nước ta, lao động nữ là nguồn lực to lớn góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, cùng với những chính sách kinh tế đúng đắn, Đảng và Nhà nước đã thực hiện một hệ thống chính sách xã hội công bằng và tiến bộ, hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, kể cả nam và nữ đều có thể đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Thực tế cũng khẳng định, tiềm năng lao động nữ đã được phát huy và vị thế của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm ở cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

1 – Thực trạng lao động nữ trong lao động, việc làm, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực

Báo cáo thống kê gần nhất của Tổng cục Thống kê (đầu năm 2008), dân số nước ta có khoảng 86,3 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,9%. Tính riêng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, cả nước có khoảng 44,1 triệu lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có gần 21,1 triệu lao động là nữ (chiếm 47,8%).

 – Theo số liệu một cuộc điều tra về lao động – việc làm năm 2007 cho thấy, lao động nữ tham gia vào thị trường lao động sớm hơn nam giới, nhưng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn phụ nữ khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, thậm chí nhiều người chỉ tốt nghiệp tiểu học, không tiếp tục học lên mà tham gia ngay vào thị trường lao động. Đa số phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực: dệt, may, da giày (78,5%); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8%); sành, sứ, thủy tinh (59,2%). Nhìn chung, lao động phổ thông nữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (62,9%), sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6%) và doanh nghiệp nhà nước là 49,1%. Continue reading

QUYỀN LẬP QUI CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN BANG NGA

THS. NGUYỄN ĐÌNH HÀO – Văn phòng Chính phủ

Để tiếp tục phục vụ công tác nghiên cứu, so sánh, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài nhằm hoàn thiện pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước ta, chúng tôi xin giới thiệu các quy định của pháp luật Liên bang Nga về quy trình soạn thảo, ban hành, công bố, hiệu lực, xử lý và đăng ký quốc gia văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và các cơ quan hành pháp Liên bang Nga.

I. Quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Liên bang Nga

1. Cơ sở pháp lý và hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

1.1. Cơ sở pháp lý

Liên bang Nga không có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL của Chính phủ Liên bang Nga được các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh. Đó là Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993[1]; Luật hiến pháp liên bang về Chính phủ Liên bang Nga[2](sau đây gọi tắt là Luật về Chính phủ Liên bang Nga); Sắc lệnh số 763 ngày 23/5/1996 của Tổng thống Liên bang Nga quy định về thủ tục công bố và hiệu lực của các quyết định của Tổng thống, Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của các cơ quan hành pháp liên bang[3]; Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 260 ngày 01/6/2004[4].

Ngoài ra, Chính phủ ban hành Nghị định số 195 ngày 05/3/2009 về thẩm định dự thảo VBQPPL và các văn bản khác nhằm phát hiện các quy định tạo điều kiện cho tham nhũng[5], Nghị định số 196 ngày 05/3/2009 về Phương pháp thẩm định dự thảo VBQPPL và các văn bản khác nhằm phát hiện các quy định tạo điều kiện cho tham nhũng[6].

Continue reading

ĐĂNG KÝ KHAI SINH CHO CON NUÔI CÒN VƯỚNG MẮC

THANH XUÂN

Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đang trong lộ trình hoàn thiện, nhằm đưa ra các quy định pháp lý phù hợp cho việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, Dự Luật vẫn chưa đề cập việc đăng ký khai sinh để bảo đảm quyền lợi cho người con nuôi, trong khi việc thực hiện quy định pháp lý hiện hành về vấn đề này đang còn vướng mắc.

Vướng khi thay đổi phần khai cha, mẹ trong giấy khai sinh của con nuôi

Hiện nay, theo quy định tại Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì những người có mối quan hệ gia đình đều có quyền nhận nuôi con nuôi, chẳng hạn mẹ kế có quyền nhận con riêng của chồng, cha dượng có quyền nhận con riêng của vợ làm con nuôi, khi có đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, việc nhận nuôi con nuôi mà làm thay đổi thứ bậc trong gia đình (như trường hợp ông, bà nhận cháu hoặc anh, chị nhận em làm con nuôi) thì không giải quyết. Thực tế cho thấy, vướng mắc nảy sinh khi giải quyết việc thay đổi phần khai về cha, mẹ trong giấy khai sinh của người con nuôi. Ví dụ, cháu Trương Văn T đăng ký khai sinh ngoài giá thú (không có tên cha trong giấy khai sinh), mẹ là Trương Thị A. Sau đó, cha dượng của cháu T là ông Huỳnh Văn C đến UBND xã xin  nhận cháu T làm con nuôi. Sau khi kiểm tra hồ sơ thủ tục, cán bộ tư pháp xã tiến hành giải quyết việc nuôi con nuôi. Nhưng, khi ông C yêu cầu bổ sung phần khai người cha vào bản chính giấy khai sinh của cháu T thì cán bộ tư pháp “vướng”, vì theo quy định hiện hành, có nhiều ý kiến khác nhau về việc giải quyết vấn đề này.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ HƯƠNG ƯỚC CẦN ĐƯỢC SỬA ĐỔI

NGUYỄN THANH XUÂN

Thực hiện Nghị định số 29 của Chính phủ và Nghị định số 24 của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Tuy nhiên, ở một số địa phương, công tác này vẫn còn thiếu sót, hạn chế một phần do các quy định về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước chưa phù hợp.

Kết cấu hương ước cần sửa đổi

Theo quy định của Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN về hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, nội dung hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm. Các quy định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy định ngay tại các điều, khoản cụ thể. Theo quy định, hương ước cần ngắn gọn, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Nhưng nếu xây dựng theo quy định này thì vô hình trung các hương ước trở thành một văn bản luật, dài dòng, nhiều điều khoản. Nghiên cứu các hương ước được xây dựng ở một số địa phương cho thấy, có hương ước không thực hiện được tiêu chí ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Giao thẩm quyền phê duyệt hương ước cho cấp xã

Việc xây dựng hương ước theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 03 phải qua rất nhiều bước và công đoạn cuối cùng là phê duyệt. Tuy nhiên, việc phê duyệt hương ước chỉ được thực hiện sau khi hương ước đã được thông qua, Chủ tịch UBND cấp xã và Chủ tịch ban MTTQ xem xét nội dung của hương ước, bảo đảm phù hợp với pháp luật, thuần phong, mỹ tục và trao đổi, thống nhất với Chủ tịch HĐND cùng cấp về nội dung trước khi trình Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt. Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn, Bí thư chi bộ, Trưởng ban Công tác Mặt trận kèm theo Biên bản thông qua tại Hội nghị.

Continue reading

THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

VĂN TẠO

1. Thực trạng thanh toán bằng tiền mặt ở nước ta

Theo khảo sát của cơ quan chức năng vào năm 2003 cho thấy thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong nền kinh tế. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư. Tại 750 doanh nghiệp Việt Nam ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam thì các doanh nghiệp tư nhân có trên 500 công nhân có khoảng 63% số giao dịch của họ được tiến hành qua hệ thống ngân hàng; những doanh nghiệp có ít hơn 25 công nhân thì tỷ lệ này là 47%; với doanh nghiệp nhà nước mới chỉ hơn 80% giao dịch được thực hiện qua ngân hàng; hầu hết các doanh nghiệp cả nhà nước lẫn tư nhân đều trả lương bằng tiền mặt. Tại các hộ kinh doanh thì 86,2% số hộ kinh doanh vẫn chi trả hàng hoá bằng tiền mặt; 75% số hộ kinh doanh chi trả dịch vụ bằng tiền mặt; 72% số hộ kinh doanh tư nhân nộp thuế bằng tiền mặt; số người sử dụng dịch vụ ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán so với tổng phương tiện thanh toán năm 2001 là 23,7%; năm 2004 là 20,3%; năm 2005 là 19%; năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36%, năm 2008 là 14,6%; tuy tỷ trọng hàng năm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới; tỷ trọng này ở các nước tiên tiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trung bình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%.

Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt chưa thuận tiện

Theo tác giả Đặng Đức Anh trong bài “Dịch vụ tài chính – ngân hàng Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập” đăng tải trên Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội số 11/2006, tỷ trọng giá trị thanh toán bằng các phương tiện thanh toán (%) như sau:

Continue reading

3995

THANH TÙNG

Huyện bảo 34 m2, tỉnh nói 43 m2, tòa sơ thẩm lại tăng 59 m2. Ai đúng, ai sai?

Theo hồ sơ, năm 1991, bà B. có mua một căn nhà tại thị trấn Cai Lậy và đã được UBND huyện Cai Lậy cấp giấy chủ quyền. Bốn năm sau, bà cho người cậu ruột ở nhờ với lời giao kết miệng: “Tôi cho cậu ở nhờ, đến lúc nào có nhà thì cậu trả lại cho tôi. Cậu cứ sửa chữa, tu bổ nhà để ở cho thoải mái”. Cùng năm đó, do người cậu mất nên con trai ông (là ông D.) tiếp tục ở nhờ.

Hai giấy chứng nhận

Mọi chuyện diễn ra bình thường cho đến khi bà B. làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận. Bà hết sức bất ngờ với thông tin vào năm 2004, ông D. đã được UBND tỉnh Tiền Giang cấp giấy hồng cho chính căn nhà ở nhờ nói trên.

Tranh chấp xảy ra, ông D. bảo căn nhà đó của cha mình mua từ năm 1991 nhưng lúc đó vì chưa có hộ khẩu ở thị trấn nên ông đã nhờ bà B. đứng tên giùm. Sau khi cha ông sửa lại nhà, bà B. đã cầm giấy chủ quyền đến đòi nhà. Bấy giờ, cha ông đã cho bà B. hai chỉ vàng nên bà B. không tranh chấp nữa. Sau khi cha mất, ông đã đứng tên xin cấp giấy chủ quyền nhà. Không thỏa thuận được, bà B. đã khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ.

Xử sơ thẩm cuối năm 2008, TAND huyện cho rằng giấy chủ quyền của bà B. hợp pháp bởi khi tòa hỏi thì chính UBND huyện Cai Lậy đã có công văn khẳng định điều này. Mặt khác, bà B. trưng ra được hợp đồng mua bán gốc năm 1991 với chủ nhà cũ như đã khai. Ngược lại, giấy chủ quyền của ông D. không hợp pháp vì ông được cấp theo diện thừa kế trong khi cha ông không có giấy tờ nhà. UBND huyện Cai Lậy đã làm sai quy định khi đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang cấp chủ quyền cho ông D. dựa trên cơ sở có người làm chứng và nội dung xác nhận không có tranh chấp. Cách xử lý này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B. vì tại thời điểm đó bà vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà.

Continue reading

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TÍNH THUẾ BẤT ĐỘNG SẢN

TẠP CHÍ THUẾ – Đối với các loại thuế được tính theo giá trị của đối tượng chịu thuế thì việc xác định trị giá tính thuế là một khâu trung tâm của quá trình hành thu. Thuế bất động sản cũng là một loại thuế được tính theo giá trị. Giá tính thuế thường được xác định theo giá thị trường hoặc tiền cho thuê của bất động sản.

Giá thị trường

Giá thị trường của bất động sản là giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản. Có 3 phương pháp truyền thống được sử dụng trong định giá thị trường của bất động sản là.

Phương pháp giá so sánh: Giá của lô đất, ngôi nhà cần định giá được xác định bằng giá thị trường của lô đất hoặc ngôi nhà có đặc điểm giống nhau (tương tự). Phương pháp này thích hợp khi thị trường bất động sản phát triển và xuất hiện tính tương đồng giữa lô đất, ngôi nhà cần định giá với giá thị trường của lô đất, ngôi nhà tương tự (ví dụ hai lô đất nằm cạnh nhau của cùng một khu vực). Mặt khác, để định giá theo phương pháp này cũng cần một cơ sở dữ liệu tập trung về giao dịch bất động sản để đảm bảo công tác định giá được chính xác, hài hoà.

Phương pháp chi phí: Giá của bất động sản cần định giá được xác định bằng cách xác định giá của lô đất cộng với chi phí xây dựng công trình trên đất.

Phương pháp này được sử dụng để trong trường hợp thị trường bất động sản ít phát triển và thường áp dụng đối với bất động sản mới và tương đối hiếm (ví dụ các cơ sở công nghiệp, thương mại).

Phương pháp thu nhập: Giá trị của bất động sản chính là tổng thu nhập trong tương lai mà bất động sản mang lại. Do đó, giá trị của bất động sản sẽ được xác định bằng tổng dòng thu nhập tiềm năng (thu nhập ròng) trong tương lai được quy đổi về giá trị hiện tại.

Continue reading

GIỚI HẠN SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI NGÂN HÀNG CHƯA NIÊM YẾT

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, ngoài việc phải tuân theo quy định của pháp luật chung, còn phải thực hiện quy định của pháp luật về ngân hàng. Hiện nay, quy định của pháp luật về ngân hàng còn có những bất cập, hạn chế, nên giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại chưa niêm yết đang có những ý kiến khác nhau về cả lý luận và thực tiễn.

1/. Khó kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi IPO của ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa

Cho đến nay, có 02 trên tổng số 05 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước đã chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank). Việc cổ phần hoá 03 ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước còn lại (Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – MHB, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank) thực hiện theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thực hiện quy định của pháp luật về cổ phần hoá, trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), Vietcombank và Vietinbank đã công bố giá trị doanh nghiệp và số cổ phần được bán lần đầu ra công chúng. Tổ chức được ủy quyền bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng của Vietcombank và Vietinbank là Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE). Quy chế bán đấu giá cổ phần lần đầu của Vietcombank và Vietinbank do HoSE ban hành đều quy định tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua tối đa bằng 30% tổng số cổ phần được bán ra. Tuy nhiên, giới hạn sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietcombank hoặc Vietinbank theo quy định trên đây là rất khó kiểm soát vì các lý do sau đây:

Continue reading

CÔNG ƯỚC TOÀN CẦU VỀ BẢN QUYỀN

(Được sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971)

Xuất phát từ nguyện vọng bảo đảm các quyền về bản quyền tại tất cả các nước trên thế giới đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật.

Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền thích hợp với mọi quốc gia trên thế giới được thể hiện qua một Công ước Toàn cầu mang tính chất bổ sung và không gây tổn hại đến các hệ thống bản quyền quốc tế hiện sẽ có sự bảo đảm tôn trọng quyền của các cá nhân và khuyến khích sự phát triển của văn học, khoa học và nghệ thuật.

Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền toàn cầu như vậy sẽ thúc đẩy phổ cập rộng rãi hơn các tác phẩm trí tuệ và tăng cường sự hiểu biết quốc tế.

Các nước tham gia Công ước quyết định sửa đổi Công ước Toàn cầu về bản quyền tại Geneva ngày 6 tháng 9 năm 1952 và tiếp theo đó đã thoả thuận như sau:

Điều 1. Mỗi nước tham gia Công ước cam kết bảo đảm việc bảo hộ các quyền của các tác giả và những người sở hữu bản quyền khác của các tác giả và những người sở hữu bản quyền khác về văn học, khoa học và nghệ thuật bao gồm các tác phẩm viết, các tác phẩm âm nhạc, kịch, điện ảnh, các tranh vẽ, khắc và điêu khắc.

Điều 2.

1. Ngoài sự bảo hộ bản quyền đặc biệt do Công ước này mang lại các tác phẩm được công bố của công dân của bất kì nước nào tham gia Công ước và các tác phẩm được công bố lần đầu ở nước đó còn được hưởng tại các nước tham gia Công ước khác sự bảo hộ bản quyền mà các nước này áp dụng đối với các tác phẩm của các công dân của mình lần đầu tiên được công bố trong lãnh thổ của mình.

2. Ngoài sự bảo hộ bản quyền đặc biệt do Công ước này mang lại, các tác phẩm còn chưa được công bố của công dân mỗi nước tham gia Công ước còn được hưởng tại các nước tham gia Công ước khác sự bảo hộ bản quyền mà các nước này áp dụng đối với các tác phẩm còn chưa được công bố của các công dân của mình.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3879/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THANH TOÁN TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Trả lời các công văn số 1874/DKVN-TCNS ngày 24/6/2009 và số 2149/DKVN-TCNS ngày 16/7/2009 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc chấm dứt hợp đồng lao động và thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Đối với trường hợp giải thể công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên để thành lập công ty cổ phần và chuyển toàn bộ số lao động từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần thì khi tiến hành giải thể, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động theo điểm đ, khoản 1, Điều 38 của Bộ luật Lao động và điểm a, khoản 2, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định.

2. Đối với Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt – Xô (VSP) chấm dứt hoạt động vào ngày 31/12/2010 để thành lập Công ty TNHH 2 thành viên Vietsovpetro và tất cả các hợp đồng lao động cũng có thời gian chấm dứt theo thỏa thuận vào ngày 31/12/2010 thì khi chấm dứt hoạt động, VSP thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động khoản 1, Điều 36 hoặc điểm đ, khoản 1, Điều 38 của Bộ luật Lao động, điểm a, khoản 2, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên và thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định (kể cả đối với người lao động chuyển sang làm việc Công ty TNHH 2 thành viên Vietsovpetro).

3. Cách tính trả trợ cấp thôi việc cụ thể thực hiện theo quy định và hướng dẫn tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH nêu trên và Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TẦU BAY

(Ký tại Geneva ngày 19.6.1948)

Xét rằng Hội nghị hàng không dân dụng quốc tế được tổ chức tại Chicago trong tháng 11 và tháng 12 năm 1944 đã khuyến nghị về việc sớm thông qua một Công ước giải quyết vấn đề chuyển nhượng quyền sở hữu tầu bay;

Xét rằng đây là sự mong muốn cao độ trong việc công nhận quốc tế các quyền đối với tầu bay vì lợi ích của sự phát triển ngành hàng không dân dụng trong tương lai;

Nhân danh Chính phủ của mình và được uỷ quyền hợp lệ, những người ký kết dưới đây đã thống nhất như sau:

Điều 1.

1. Các Quốc gia kết ước cam kết công nhận:

a. Quyền sở hữu đối với tầu bay;

b. Quyền thụ đắc tầu bay thông qua việc mua sắm gắn liền với quyền chiếm hữu tầu bay;

c. Quyền chiếm hữu tầu bay trên cơ sở hợp đồng thuê có thời hạn từ sáu tháng trở lên;

d. Thế chấp, cầm cố và các quyền tương tự đối với tầu bay được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận như là một sự bảo đảm cho việc thanh toán một khoản nợ;

với điều kiện là các quyền nói trên

(i) Được thiết lập phù hợp với luật của quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch tại thời điểm thiết lập các quyền đó, và

(ii) Được đăng ký hợp lệ trong một sổ đăng ký công khai ở Quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch.

Continue reading

GIỚI HẠN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TRONG KÍCH CẦU Ở VIỆT NAM

TS. TÔ KIM NGỌC

Áp lực từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đang đặt ra bài toán phức tạp cho các nhà làm chính sách Việt Nam khi phải lựa chọn và xây dựng một giải pháp policy mix tối ưu thích ứng với sức chịu đựng của nền kinh tế trong ngắn hạn mà không phá huỷ nền tảng phát triển dài hạn. Trong thực tế, Chính phủ Việt Nam đã điều hành các chính sách vĩ mô thời gian qua khá linh hoạt trong những thời điểm nhạy cảm, góp phần giữ vững hệ thống doanh nghiệp và duy trì một môi trường vĩ mô phù hợp.

Sau giai đoạn thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát từ nửa cuối 2007 đến nửa đầu 2008, các chính sách vĩ mô có sự điều chỉnh mạnh nhằm hạn chế sự suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Cho tới thời điểm này, những tác động tiềm năng của các gói kích cầu đã có thể dự đoán. Điều này cho phép thẩm định lại về mặt lý thuyết những tác động của nền kinh tế Việt Nam tới khả năng sử dụng công cụ chính sách tiền tệ và tài khóa cho mục tiêu kích cầu, chỉ ra những giới hạn của chính sách làm căn cứ đưa ra một số gợi ý và cảnh báo các hiệu ứng phụ. Bài viết trước hết điểm qua quy mô và tác động của các gói kích cầu của Chính phủ Việt Nam từ đu 2009 đến nay kèm theo các đánh giá trên nền tảng nguyên tắc phối hợp chính sách tiền tệ và tài khoá qua mô hình IS-LM truyền thống. Các giới hạn chính sách liên quan đến “bẫy thanh khoản” (liquidity trap), hiệu ứng thoái lui đầu tư (crowding out effect), nguy cơ thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ được xem xét để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến hiệu qủa phối hợp chính sách.

1. Chính sách kích cầu của Việt Nam

Cả chính sách tiền tệ và tài khoá đã được tận dụng tối đa cho mục tiêu kích cầu xét cả ở những tác động trực tiếp và gián tiếp.

Chính sách tài khoá

Các nguồn vốn hỗ trợ từ kênh chính sách tài khoá có tác dụng bù đắp sự giảm sút nguồn thu do suy thoái kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế, hạn chế tốc độ sụt giảm nhu cầu tiêu dùng của cả tư nhân và doanh nghiệp, bằng cách đó cho phép các chủ thể này tồn tại qua giai đoạn khó khăn và khôi phục năng lực tiêu dùng khi nền kinh tế qua khỏi giai đoạn suy giảm. Các hình thức hỗ trợ trực tiếp lên tới 78.000 tỷ đồng trong khi các hình thức kích cầu gián tiếp (thông qua hỗ trợ lãi suất, miễn giảm thuế, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ…) khoảng hơn 60.000 tỷ đồng. Sự hỗ trợ của gói kích cầu đã đảm bảo mức tăng trưởng khoảng 3,9% so với cùng kỳ, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng 5,1%, tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng khá 18,3%, tỷ lệ biến động chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ dưới 10% (Hình 2).

Continue reading