BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI

GS.TS. VÕ KHÁNH VINH – Phó chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề có tầm quan trọngđặc biệt trong sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát các quan niệm khác nhau trong lịch sử về xung đột xã hội, từ thời cổ đại, cận đại đến nửa đầu thế kỷ XX. Theo tác giả, những ưu điểm và nhược điểm tạo thành thực chất của hiện tượng hết sức phức tạp như xung đột xã hội, ở mức độ đáng kể, được xác định bởi đặc điểm phương pháp luận của các phương hướng nghiên cứu; chúng ta có thể lựa chọn trong đó những tư tưởng có tính phổ quát và tính thời sự đối với các quan điểm hiện đại về xung đột xã hội.

Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, có phạm vi và quy mô rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung, lĩnh vực cụ thể khác nhau. Kinh nghiệm nghiên cứunhững vấn đề này chưa có nhiều, hơn nữa, lại được đặt trong quá trình đổi mới đang được tiến hành ngày càng sâu rộng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nước ta. Do vậy, xét trên tất cả các phương diện, đây là những vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề “trường tồn” gắn liền với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, đồng thời ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội, ngoài những quy luật, đặc điểm chung còn có các đặc điểm đặc thù do thực tiễn phát triển xã hội ở giai đoạn đó đặt ra. Có thể nói, nghiên cứu xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là nội dung quan trọngcủa nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, là những vấn đề cơ bản cần được tiến hành thường xuyên, có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọngtrong việc bảo đảm cho đất nước phát triển ổn định và bền vững.

Trong những vấn đề nghiên cứu về xung đột xã hội, có những vấn đề thuộc về phương diện lịch sử của nó. Bài viết này bước đầu tìm hiểu phương diện đó.

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp, đầy đủ và chi tiết.

Với khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể đề cập được một cách cụ thể và toàn diện về các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ trình bày những vấn đề quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các doanh nghiệp cần lưu tâm trong quá trình soạn thảo.

1.   Xác định chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Khi giao kết, tham gia bất kỳ một hợp đồng nào, điều đầu tiên mà các bên phải kiểm tra đó chính là đối tác giao kết, tham gia và thực hiện hợp đồng.

1.1.    Bên bán và bên mua

Trong thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi xẩy ra hiện tượng:

a)    Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng với tư cách là bên bán/bên mua) nhưng bên ký hợp đồng lại là công ty con.

b)    Bên bán/bên mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký kết hợp đồng chỉ là đơn vị trực thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng kinh doanh,…

c)    Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết của công ty ký kết hợp đồng.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC. NGUYÊN LÝ “CÔNG TÍNH” TRONG BỐI CẢNH CHỦ NGHĨA TỰ DO MỚI

TS. CHOE HYONDOK  – Trường Đại học Phụ nữ Ehwa, Seoul, Hàn Quốc

Người dịch: ThS.LƯƠNG MỸ VÂN
Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG

Trong bài viết này, tác giả đưa ra và luận giải quá trình hình thành và phát triển xã hội dân sự và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc trên cơ sở của nguyên lý “công tính” trong bối cảnh chủ nghĩa tự do mới. Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, tác giả cho rằng, để điều chỉnh những lợi ích cá biệt, cần phải xây dựng và phát triển xã hội dân sự theo hướng phục tùng lợi ích chung của toàn xã hội trên cơ sở của nguyên tắc “công tính”.

Đầu tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban tổ chức đã mời tôi tham dự Hội thảo này và dành cho tôi cơ hội được học hỏi qua những tranh luận với các học giả Việt Nam về những vấn đề nóng bỏng mà xã hội Việt Nam đang đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Ngày nay, nhất là khi tiến trình toàn cầu hoá đang song hành với sự bành trướng toàn cầu của kinh tế thị trường, không một đất nước nào thoát khỏi ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của những vấn đề nghiêm trọng do kinh tế thị trường đem lại. Tôi vô cùng quan tâm đến việc trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng với các học giả Việt Nam, cũng như các học giả nước ngoài khác đến từ những bối cảnh kinh tế thị trường khác nhau.

Hàn Quốc thường được dẫn ra như một hình mẫu thành công, một quốc gia đã gặt hái được những thành tựu trong phát triển kinh tế và cả trong tiến trình dân chủ hoá về mặt chính trị. Ở một góc độ nào đó, điều đó là sự thật, nhưng từ những khía cạnh khác, chúng tôi hiện đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, không chỉ là vấn đề kinh tế có liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn thế giới hiện thời, mà cả những vấn đề kinh tế – xã hội và văn hoá đáng lo ngại gắn với những biện pháp của chủ nghĩa tự do mới (ví dụ như cái gọi là “sự linh động hoá” của thị trường lao động và người lao động thời vụ), cũng như những vấn đề chính trị, bao gồm cả những xung đột về lợi ích trong lĩnh vực xã hội dân sự. Tôi xin trình bày ở đây kinh nghiệm của Hàn Quốc. Báo cáo của tôi là báo cáo mang tính mở. Tôi không giấu diếm những vấn đề tiêu cực, bởi tôi tin rằng, chúng ta có thể học hỏi được, kể cả từ những khiếm khuyết và sai lầm.

Continue reading

THẨM QUYỀN HỦY BỎ CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THANH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading

AI PHẢI CHỊU CHI PHÍ ĐÀO TẠO?

LS. NGÔ QUANG THỤY

Một trong những vấn đề về lao động gây đau đầu đối với các doanh nghiệp đó là yêu cầu người lao động bồi hoàn chi phí đào tạo cho doanh nghiệp nếu không thực hiện đúng hoặc đầy đủ cam kết với doanh nghiệp.

Trên thực tế, do mặt bằng đào tạo ở Việt Nam còn yếu kém, các công ty đa quốc gia, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ cao thường gửi nhân viên chủ chốt người Việt Nam ra nước ngoài để nâng cao tay nghề. Việc đào tạo thường gắn với điều kiện là những nhân viên này khi kết thúc khóa đào tạo phải quay lại làm việc cho công ty đã gửi họ đi trong một thời gian nhất định.

Tuy nhiên khi mà một trong số những người được đào tạo từ chối quay lại làm việc theo cam kết và vụ việc được đưa ra xét xử tại cơ quan tòa án có thẩm quyền, phía doanh nghiệp thường nắm chắc phần thua nếu người lao động được coi là chấm dứt hợp đồng lao động “đúng luật”.

Không nói đến những tác động tiêu cực về mặt xã hội hoặc kinh tế mà hiện tượng trên gây ra, bài viết này tập trung phân tích ý kiến hoặc quyết định của các cơ quan nhà nước hữu quan như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) (qua công văn trả lời cho doanh nghiệp về vấn đề bồi thường chi phí đào tạo) hoặc tòa án (qua các phán quyết có lợi cho người lao động trên thực tế) dưới góc độ quy định luật pháp hiện hành.

Ai đúng, ai sai?

Công văn của Bộ LĐ-TB&XH và phán quyết của cơ quan tòa án thường dẫn chiếu một cơ sở pháp lý duy nhất: điều 13 Nghị định số 44 của Chính phủ ngày 9-5-2003. Cụ thể điều 13 quy định như sau: “Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9-1-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề, trừ trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà thực hiện đúng và đủ các quy định tại điều 37 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3814/BTTTT-VT NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VỀ QUẢN LÝ THUÊ BAO DI ĐỘNG TRẢ TRƯỚC THEO THÔNG TƯ SỐ 22/2009/TT-BTTTT.

Kính gửi:

– Các Doanh nghiệp thông tin di động;
– Trung tâm Thông tin;
– Báo Bưu Điện;
– Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC;
– Báo Điện tử Vietnamnet;
– Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông.

Sau ba tháng triển khai Thông tư 22/2009/TT-BTTTT quy định về quản lý thuê bao di động trả trước và văn bản hướng dẫn số 2546/BTTTT-VT, trên cơ sở báo cáo tình hình triển khai thực hiện của các doanh nghiệp thông tin di động về cơ bản số lượng thuê bao di động trả trước có thông tin đăng ký đạt trên 99% tổng số thuê bao hiện có trên toàn mạng. Dự kiến đến trước ngày 31 tháng 12 năm 2009 có thể hoàn thành kế hoạch đăng ký thông tin theo đúng Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Thông tư 22/2009/TT-BTTTT cũng đã phát sinh một số bất cập, tồn tại cần phải nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục như độ chính xác của thông tin thuê bao đối với các cá nhân sử dụng số chứng minh thư của mình đăng ký trên ba số thuê bao di động trả trước; việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng khi thực hiện thay đổi thông tin thuê bao đã đăng ký (đăng ký lại thông tin thuê bao) theo quy định; việc tổ chức trang bị máy tính tại các điểm giao dịch được ủy quyền; công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số chủ điểm giao dịch và chủ thuê bao trong việc chấp hành các quy định có liên quan.

Để khắc phục các bất cập, tồn tại trên, Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ và các doanh nghiệp thông tin di động tổ chức triển khai thực hiện ngay các công việc sau đây:

Continue reading