THÔNG TƯ SỐ 29/2009/TT-BGTV NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA HIỆP ĐỊNH TẠO THUẬN LỢI VẬN TẢI NGƯỜI VÀ HÀNG HÓA QUA LẠI BIÊN GIỚI GIỮA CÁC NƯỚC TIỂU VÙNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Hiệp định về Tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và người qua lại biên giới các nước Tiểu vùng Mê Công mở rộng (Hiệp định GMS) ký ngày 26 tháng 11 năm 1999 tại Viêng-chăn, được sửa đổi ngày 30 tháng 4 năm 2004 tại Phnôm Pênh, Campuchia và các Phụ lục, Nghị định thư của Hiệp định;
Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Giao thông vận tải;
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện một số điều của Hiệp định GMS như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định chi tiết một số điều của Hiệp định GMS về phương tiện, người điều khiển phương tiện, cơ quan, tổ chức được cấp phép vận tải hành khách và hàng hóa qua lại biên giới giữa các nước tiểu vùng Mê Công mở rộng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa qua lại biên giới giữa các nước tiểu vùng Mê Công mở rộng.

Điều 3. Phạm vi hoạt động của phương tiện

1. Phương tiện của các doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp Giấy phép vận chuyển đường bộ GMS chỉ được phép hoạt động vận tải hàng hóa và hành khách qua lại theo các hành lang, tuyến đường và các cặp cửa khẩu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Phương tiện không được phép vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách giữa hai điểm trong lãnh thổ của Bên ký kết kia.

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM SỰ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP, CHÍNH PHỦ VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ

GERD MUTZ – Giáo sư Kinh tế và Chính sách xã hội, Đại học Khoa học ứng dụng Munich, Cộng hoà Liên bang Đức, Giáo sư Chính sách xã hội, Đại học Bozen (Italy)

Người dịch: ThS.VŨ MẠNH TOÀN – Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Bài viết bàn về vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và trong xã hội dân sự. Sau những phân tích sâu sắc nội hàm định nghĩa trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp, tác giả phân tích vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp ở châu Á. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam với một vốn hiểu biết phong phú.

Dẫn luận

Mối liên hệ giữa doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự đang lan rộng ra toàn thế giới. Ở phương Tây, các chương trình trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp đã xuất hiện ở nhiều doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau. Tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm của trách nhiệm doanh nghiệp. Thông qua các chương trình khác nhau, công dân doanh nghiệp (người lao động) đã được cử tới các tổ chức xã hội hoặc tham gia vào các dự án xã hội. Trong những năm gần đây, trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp được nhìn nhận như là bộ phận của quản lý bền vững với mục đích chính là đưa môi trường xã hội và môi trường sinh thái vào nội dung (của công tác) quản lý chứ không chỉ đơn thuần tính đến các chỉ số phát triển kinh tế.

Trách nhiệm doanh nghiệp và công dân doanh nghiệp là những phát kiến của các doanh nghiệp có nguồn gốc từ Mỹ và được áp dụng ở đó từ hơn hai mươi năm trước. Ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, những chương trình này đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới: không chỉ ở châu Âu, mà còn ở Nam Mỹ và ở châu Á.

Continue reading →

LÃI SUẤT CƠ BẢN VÀ TRẦN LÃI SUẤT

NGUYỄN QUANG A

Trong thảo luận về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, nhiều đại biểu Quốc hội đã không nhất trí với việc Ngân hàng Nhà nước tìm cách loại bỏ "lãi suất cơ bản", một công cụ hữu hiệu "để Nhà nước định hướng và kiểm soát lãi suất"; "để Nhà nước xác định mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức, cá nhân, trong đó có các tổ chức tín dụng".

Một phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư  pháp của Quốc hội nói rằng Uỷ ban của bà đã bốn lần bác bỏ những đề nghị của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản. Thậm chí bà còn gay gắt đặt câu hỏi, rằng việc làm đó của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích "bảo vệ cho lợi ích của ai, của Nhà nước, của nhân dân để ngăn chặn việc cho vay lãi nặng, ổn định thị trường tiền tệ, hay bảo vệ lợi ích cục bộ của các tổ chức tín dụng?".

Tôi cũng nhiều khi không tán thành các chính sách của Ngân hàng Nhà nước và cũng có nhiều ý kiến về Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước. Ý kiến của tôi nhiều lúc cũng khá gay gắt. Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên về thái độ góp ý có phần quy chụp như vậy của một đại biểu Quốc hội. Còn ngạc nhiên hơn khi được biết ý kiến của một số đại biểu khác "đã bày tỏ thái độ đồng thuận với bà".

Riêng về lãi suất cơ bản, tôi ủng hộ Ngân hàng Nhà nước, không chỉ trong Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước mà còn trong các kiến nghị trước của họ đã bị Uỷ ban của bà Phó chủ nhiệm bác bỏ. Theo tôi, liên quan đến lãi suất cơ bản, những người soạn thảo và Ngân hàng Nhà nước đã thực sự bảo vệ lợi ích của đất nước.

Tất cả các ngân hàng trung ương đều dùng lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất cho vay tối thiểu của mình (bank rate) khi chiết khấu các hối phiếu của các ngân hàng thương mại  hay cho chúng vay. Đây là một công cụ mà không ngân hàng trung ương nào từ bỏ để kiểm soát soát lãi suất và tín dụng. Lãi suất cơ sở hay cơ bản (base rate) là lãi suất mà các ngân hàng thương mại lấy làm cơ sở để định ra lãi suất cho vay hay lãi suất tiền gửi của  mình.

Continue reading →

CÔNG CỤ PHÁP LÝ BỊ LÃNG QUÊN

PHẠM THÁI QUÍ

Công tác xét xử, giải quyết các vụ, việc về hôn nhân và gia đình của ngành Toà án cho thấy, tình trạng vi phạm chế độ một vợ một chồng xảy ra tương đối nhiều, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi nhưng rất ít khi bị xử lý.

Kết hôn chưa được bao lâu thì vợ chồng anh T, chị H phát sinh mâu thuẫn. Do suy nghĩ nông nổi nên chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tuy giận chồng bỏ đi, nhưng chị vẫn mong anh T đến đón về sum họp gia đình. Nào ngờ, anh T không đoái hoài đến chị nữa. Biết đã lỡ bước ra đi thì rất khó quay trở về nên chị H làm đơn yêu cầu TAND huyện TH giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Sau khi thụ lý vụ án, TAND huyện TH đã triệu tập anh T đến để hoà giải, nhưng anh T cố tình vắng mặt. Toà án phải cử cán bộ về địa phương để xác minh và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tiến hành hoà giải. Khi nhóm cán bộ của Toà án đến trụ sở UBND xã thì được biết, anh T. đã cưới vợ khác và sắp sinh con.

Trường hợp của anh S và chị L còn tệ hơn. Trong thời gian chị L về nhà mẹ đẻ sinh con, anh S đã quen biết rồi phát sinh tình cảm với chị V. Bỏ qua tình nghĩa vợ chồng, vượt cả rào cản pháp luật, anh S đã quyết định đến chung sống như vợ chồng với chị V mà không quan tâm đến mẹ con chị L nữa. Khi đứa con chung của anh S và chị V đến tuổi đi học, anh S đưa con đến đăng ký nhập học thì nhà trường không chấp nhận, vì cháu không có giấy khai sinh. Lúc này anh S mới làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn với chị L để được kết hôn với chị V…

Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng. Nguyên nhân xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, trước hết là do hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế nhưng không được các tổ chức, đoàn thể tuyên truyền, giải thích để họ chấm dứt hành vi vi phạm. Trong khi đó, những người vợ hợp pháp lại luôn quan niệm không nên “vạch áo cho người xem lưng”, do đó cam chịu mà không lên tiếng. Một nguyên nhân quan trọng nữa là do thiếu trách nhiệm, nên chính quyền địa phương đã làm ngơ, không xử lý kịp thời để răn đe giáo dục đối tượng vi phạm. Cán bộ địa phương vẫn coi việc chung sống không hợp pháp là chuyện tình cảm riêng tư nên ít quan tâm, xử lý.

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: GHEN ẨU PHẢI ĐỀN TIỀN

NGUYÊN TRƯỜNG

Không chứng cứ, một phụ nữ vẫn đi rêu rao rằng bà hàng xóm ngoại tình với chồng mình. TAND tỉnh Bến Tre vừa xử phúc thẩm một vụ đòi bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Tòa tuyên bác kháng cáo, y án sơ thẩm, buộc vợ chồng bà C. phải bồi thường 5,4 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần cho người hàng xóm là bà N. Ngoài ra, tòa cũng buộc vợ chồng bà C. phải công khai xin lỗi bà N. tại tổ nhân dân tự quản nơi hai bên sinh sống.

Tình ngay lý gian?

Theo hồ sơ, bà C. trình bày rằng một ngày cuối tháng 12-2008, thấy chồng đi khỏi nhà, bà liền theo dõi và thủ sẵn cái máy ảnh. Đến nhà bà N., bà đứng ngoài rình một lát thì xông vào, thấy chồng mình và bà N. đang ôm nhau trên bộ ván nên lấy máy ảnh ra chụp nhiều kiểu.

Ngược lại, bà N. kể lúc đó bà đã phân bua ngay là chồng bà C. đến mua rượu, thấy nhà có mỗi mình bà nên giở chứng làm càn nhưng bà C. nhất quyết không nghe, còn kêu người đến làm chứng. Người làm chứng đến không chứng kiến được gì cả nhưng cũng lớn tiếng bảo bà N. quá đáng dù bà đã cố gắng giải thích là “ông ấy cưỡng bức tôi”. Sau đó thì mạnh ai về nhà nấy.

Một tuần sau, cả cái xóm chợ nơi hai bên sinh sống ai ai cũng truyền miệng nhau rằng “Bà N. giựt chồng bà C.”. Vì lẽ đó, bà N. chẳng dám ra đường, con cái bị mọi người dè bỉu, gia đình hục hặc. Qua tìm hiểu, gia đình bà N. biết được vợ chồng bà C. đem sự việc trên kể cho nhiều người nghe. Người chồng thì bảo trước giờ có quan hệ lén lút với bà N., còn người vợ thì luôn miệng khẳng định bà N. giựt chồng mình. Đến một ngày, con gái bà N. không chịu được lời bàn ra tán vào đã đến gặp bà C. yêu cầu chấm dứt việc tuyên truyền này. Hai bên lại cự cãi um xùm và bà C. chửi thẳng là “Má mày giựt chồng tao”…

Continue reading →

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: THẨM PHÁN TỰ . . . XỬ ÁN

HỒNG THỦY

Được phân công giải quyết vụ án "Tranh chấp hợp đồng vay", thẩm phán TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) Lê Ngọc Tuấn – đã cố tình "ngâm" hồ sơ vụ kiện đến hơn hai năm. Sau đó, vị thẩm phán này đã tự "sáng tác" ra "đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện" và giả mạo chữ ký của đương sự để ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (QĐĐCVGQVA).

Năm 2000, bà Trương Kế Hữu Hiền (ngụ tại số 5 đường Hùng vương, phường 2, TX Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) có cho ông Trần Văn Đức (ngụ tại 2524 Phạm Thế Hiển, phường 6, quận 8, TP.HCM) vay 50 triệu đồng với lãi suất 1,2% tháng.
Để bảo đảm cho khoản vay này, ông Đức được ông Võ Văn Bé uỷ quyền thế chấp căn nhà và thửa đất tại số 112 ấp Khánh An, xã Trân Khánh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 556177 do UBND huyện Lấp Vò cấp ngày 16.7.1997, cho bà Hiền. Giấy uỷ quyền này được ông Ngô Văn Khoa – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Khánh Trung – xác nhận.
Sau đó, do làm ăn thua lỗ, ông Đức không trả được nợ và lãi. Ngày 06.5.2002, bà Hiền làm đơn khởi kiện ông Đức, ông Bé ra TAND huyện Lấp Vò. Vụ án được giao cho thẩm phán Lê Ngọc Tuấn giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán Tuấn đã cố tình kéo dài thời gian, không đưa ra xét xử . Bà Hiền đã nhiều lần đến gặp thẩm phán Tuấn và cả Chánh án TAND huyện Lấp Vò Nguyễn Văn Mỹ yêu cầu đưa vụ kiện ra xét xử nhưng chỉn lời câu trả lời là cứ chờ.

Mãi đến ngày 9.5.2008, bà Hiền mới nhận được giấy mời của TAND huyện Lấp Vò triệu tập đến để giải quyết vụ việc. Nhưng khi đến toà án thì không có ai giải quyết nên phải ra về.
Ngày 02.6.2008, TAND huyện Lấp Vò lại triệu tập bà Hiền đến giải quyết vụ kiện. Tại đây, bà Hiền bất ngờ nhận được QĐĐCVGQVA số 20/QĐ.ĐC ngày 10.6.2004 do thẩm phán Lê Ngọc Tuấn ký.

Continue reading →

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHỮNG THÁCH THỨC XÃ HỘI TOÀN CẦU MỘT CÁCH NHÌN TỪ NƯỚC ĐỨC

GS. TS. GERHARD KRUIP – Đại học Mainz, Đức ( Người dịch: ThS.CAO THU HẰNG; Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG  – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

Trong bài viết này, tác giả, dưới góc nhìn từ nước Đức, đã phân tích một cách khái quát những lợi ích và thách thức xã hội toàn cầu của kinh tế thị trường tự do. Từ đó, trình bày ý tưởng của Giáo hội Thiên Chúa giáo và Tin Lành ở Đức về “nền kinh tế thị trường xã hội”, cái được coi là con đường tốt nhất để thực hiện tự do và công bằng trong xã hội hiện đại; phân tích những nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường xã hội cũng như những vấn đề đặt ra hiện nay của kinh tế thị trường xã hội ở nước Đức. Đặc biệt, từ những kinh nghiệm vận dụng kinh tế thị trường xã hội ở Đức, tác giả đã có một số ý kiến đóng góp nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến sự chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam.

Nhận xét sơ bộ

Khái quát sự phát triển của các nước khác nhau trên thế giới cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế mở với thị trường thế giới và có những cải cách nhằm tạo ra nhiều tự do hơn cho các cơ chế thị trường tự do đã thu được nhiều thành công về kinh tế hơn so với những nước vẫn duy trì mô hình kế hoạch hoá tập trung và tự cung tự cấp. Vấn đề ở đây dường như không phải là sự phụ thuộc vào những cấu trúc của kinh tế thế giới, mà (đúng hơn) là sự cô lập với tính năng động của nền kinh tế thế giới và toàn cầu hoá(1). Ví dụ điển hình cho nhận xét này là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam – một nước có đường lối phát triển rất đặc biệt và ấn tượng. Kể từ khi tuyên bố đổi mới năm 1986 và bắt đầu chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Trong những năm qua, Việt Nam đã trở thành nước có nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai trên thế giới. Điều này giúp cải thiện mức sống của người dân và chống đói nghèo(2). Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay cho thấy, một sự phụ thuộc lẫn nhau như vậy cũng là nguyên nhân của nhiều vấn đề. Mặc dù vậy, việc thực hiện những mục đích phát triển sẽ trở nên dễ dàng hơn trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề thông qua sự hợp tác quốc tế thay vì quay lại thời kỳ của chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập.

I. Những lợi ích của nền kinh tế thị trường tự do 

Tại sao thị trường tự do lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhiều hơn? Những lợi thế của thị trường tự do là gì? So với nền kinh tế kế hoạch tập trung, theo tôi, nền kinh tế thị trường tự do có ít nhất 6 lợi thế, mà lúc này, tôi xem như một “mô hình lý tưởng” (Ideal model) – theo cách nói của Max Weber(3).

Continue reading →

BÀI HỌC TỪ MỘT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) Việt Nam cần mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho thực tế là đại bộ phận hợp đồng đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ, khi phía Việt Nam mua hàng theo điều kiện CIF hoặc CFR thì người bán nước ngoài sẽ tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch không rõ ràng với giá cước thấp. Câu chuyện dưới đây là minh chứng.

Bốc dỡ gạo xuất khẩu tại cảng

Cuối năm 2006 một Doanh nghiệp ở Hà Nội nhập lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá 1.400.000 USD, từ một Cty ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2000, cảng TP HCM và Hải Phòng. Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ. Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp lý của con tàu cũng như chủ tàu. Theo điều kiện CFR, người bán đã thuê tàu PLJ của chủ tàu BJS ở Hong Kong chở lô hàng về Việt Nam. Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng Việt Nam, khi đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước.

Ngay lập tức người bán thông báo cho người mua biết vụ việc. Họ giải thích rằng họ đã nhận đủ tiền bán hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và về măt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra vì theo điều kiện CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hóa đã chuyển tư người bán sang người mua kể từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua ngay lập tức phản đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán không thấy có quy định nào buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho rằng cần làm việc với hãng bảo hiểm để đòi bồi thường (lô hàng được mua bảo hiểm của BMI và BVI ở Việt Nam). Tuy nhiên phía bảo hiểm khẳng định theo điều kiện bảo hiểm ICC 1982 (Institute Cargo Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được miễn mọi trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ. Một số ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để đòi bồi thường. Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải Việt Nam (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông lệ quốc tế (Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận chuyển cũng được thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa xảy ra trong trường hợp tàu bị bắt giữ.

Continue reading →

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005: Những vấn đề cần quan tâm

LỆ HẰNG

Theo quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Dưới đây là những đặc điểm cơ bản cũng như một số ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 141)

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 143)

Continue reading →

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005: NHỮNG VẪN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

LỆ HẰNG

Theo quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Dưới đây là những đặc điểm cơ bản cũng như một số ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Điều 141)

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 143)

Continue reading →

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 9: TRANH LUẬN VỀ QUYỀN PHỦ QUYẾT CỦA TÒA ÁN VÀ CÁCH BẦU CHỌN THẨM PHÁN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 21 tháng Bảy năm 1787

Mặc dù điều khoản thiết lập nhánh tư pháp liên bang đã được Hội nghị thảo luận từ giữa tháng Sáu, nhưng sau này, do nhiều thay đổi và biến động, nên Hội nghị đã đưa ra thảo luận lại, đặc biệt là việc có trao quyền phủ quyết cho các thẩm phán không.

Thật bất ngờ là các đại biểu chủ chốt nhất của Hội nghị như Madison, Mason, G. Morris và James Wilson, những người được coi là khôn ngoan và thông thái nhất, lại hoàn toàn thất bại trong việc thuyết phục các đại biểu khác chấp nhận cho phép Tòa án Tối cao tham gia vào quyền phủ quyết của Tổng thống.

Trong những buổi họp này, cách thức bầu chọn thẩm phán cũng được thảo luận kỹ càng, bởi mục đích của cơ quan này là sự độc lập và sáng suốt, không chỉ để xét xử dân chúng mà còn để phán xét mọi sai trái của nhánh hành pháp cũng như nhánh lập pháp. Tuy nhiên, cũng như nhiều vấn đề phức tạp khác, sau khi đồng ý cho phép Quốc hội chọn lựa thẩm phán, khi bản dự thảo Hiến pháp được thảo luận lại vào cuối tháng Tám, Hội nghị lại trao quyền chọn thẩm phán cho Tổng thống.

Ngài WILSON: Đề xuất sửa đổi điều khoản số 10, nên viết là "nhánh tư pháp quốc gia sẽ cùng với bộ máy hành pháp giữ quyền phủ quyết các đạo luật do Quốc hội ban hành". Trước đây, đề xuất này đã được đưa ra nhưng bị bác bỏ. Nhưng ông tin vào tác dụng tích cực của qui định này, nên ông buộc phải nêu lại. Bộ máy tư pháp cần có cơ hội khuyên can và ngăn chặn sự tiếm quyền của dân chúng cũng như của Quốc hội. Các thẩm phán sẽ là những người giải thích Hiến pháp nên phải có trách nhiệm bảo vệ nó.

Cách thiết lập tòa án hiện nay cho phép cơ quan này có quyền lực lớn, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Luật pháp có thể không công bằng, có thể không khôn ngoan, có thể nguy hiểm, có thể mang tính phá hoại, nên sẽ không sáng suốt nếu không trao cho các thẩm phán quyền phủ quyết. Hãy để họ cùng chia sẻ quyền phủ quyết các đạo luật với Tổng thống. Họ sẽ phân tích những bộ luật và sẽ sử dụng quyền lực của mình chống lại những quan điểm sai trái của cơ quan lập pháp.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 4347/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC TRIỂN KHAI NGHỊ ĐỊNH SỐ 98/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUI ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC CHO DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, CƠ QUAN, TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI, TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ CÁ NHÂN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Kính gửi:

– Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để triển khai thực hiện Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 98/2009/NĐ-CP); Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện một số công việc sau:

1. Tổ chức phổ biến trực tiếp đến nhà đầu tư các quy định phải thực hiện tại Nghị định số 98/2009/NĐ-CP; phối hợp với Liên đoàn Lao động địa phương đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện ở các doanh nghiệp trên địa bàn.

2. Tuyên truyền, giải thích trên các phương tiện thông tin truyền thông (đài truyền hình, đài phát thanh, các báo) về nội dung của Nghị định số 98/2009/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan quy định về quyền, lợi ích đối với người lao động mà người sử dụng lao động phải thực hiện.

3. Khi triển khai thực hiện cần nắm vững và giải thích thống nhất cho doanh nghiệp một số nội dung sau:

a) Người lao động hưởng mức lương tối thiểu theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP là người lao động làm công việc giản đơn nhất không phải qua học nghề trong điều kiện lao động bình thường.

b) Người lao động đã qua học nghề hưởng lương theo quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị định số 98/2009/NĐ-CP bao gồm:

Continue reading →

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. TRẦN THÀNH – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Nói về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải ba vấn đề có tính thời sự, song cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Ba vấn đề đó là: 1) Vấn đề thiết kế mô hình cụ thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2) Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. 3) Vấn đề tạo lập những điều kiện, cơ sở cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng.

Khi chủ nghĩa xã hội bước vào cải tổ, cải cách, đổi mới, một số nhà lý luận, chính trị gia xã hội chủ nghĩa đã đề xuất xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền. Đề xuất này đã làm nảy sinh những ý kiến chỉ trích, phản ứng từ không ít người. Khi đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, một số người đã cho rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền là từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Có người lại coi việc xây dựng nhà nước pháp quyền là thừa nhận sự phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà quyền lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thống nhất, không phân chia, và do vậy, không phù hợp. Cũng có người đặt vấn đề, khi đề cập tới nhà nước kiểu mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin không hề nói tới nhà nước pháp quyền và do vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền trong chủ nghĩa xã hội là không theo quan điểm của các nhà kinh điển, v.v.. Từ một phía khác, có ý kiến lại cho rằng, trong nhà nước pháp quyền, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân và do vậy, không cần phải phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa nữa.

Continue reading →

CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM: Nhận diện và giải pháp thực hiện

GS.TS. ĐỖ HUY – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Để làm rõ vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích bốn thời kỳ thực hiện vấn đề này ở Việt Nam, từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay. Đó là:

1) Thời kỳ mất công bằng toàn diện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; 2) Thời kỳ cống hiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; 3) Thời kỳ phân phối bình quân trên cơ sở tập thể hoá và quốc doanh hoá; 4) Thời kỳ đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề phải giải quyết, như hệ thống chuẩn mực xã hội, năng suất lao động, quyền lực, nhất là quyền sở hữu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp thực hiện, trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền, hiện đại hoá lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trước năm 1945, Việt Nam là một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, tuyệt đại bộ phận nhân dân sống lầm than, cơ cực trong bất công của thân phận người dân mất nước. Hơn 90% người nông dân không có ruộng cày phải đi làm thuê, cấy mướn. Người công nhân trong nhà máy, hầm mỏ bị bóc lột sức lao động đến cạn kiệt. Nhiều tộc người ở miền xa, miền sâu còn sống du canh, du cư, không nhà ở, sinh hoạt như người cổ xưa. Đói nghèo, sự bất bình đẳng toàn diện là bức tranh tổng quát của xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc giải phóng vĩ đại đối với mọi bất công và đặt cơ sở cho một tiến trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội kiểu mới. Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng này mang lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam phải được độc lập, nhân dân Việt Nam phải được tự do. Đó là công bằng xã hội lớn nhất trong quan hệ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân Việt Nam trong cộng đồng nhân loại. Như tất cả các dân tộc khác, nhân dân Việt Nam phải có quyền quyết định vận mệnh của mình.

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không chỉ xác lập quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại; nó còn thống nhất quyền lợi của các dân tộc đa số và dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cuộc cách mạng ấy đã đem lại cơ hội để đồng bào miền ngược, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa phát triển mọi khả năng của mình.

Continue reading →

CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM: NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

GS.TS. ĐỖ HUY – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Để làm rõ vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích bốn thời kỳ thực hiện vấn đề này ở Việt Nam, từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay. Đó là:

1) Thời kỳ mất công bằng toàn diện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; 2) Thời kỳ cống hiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; 3) Thời kỳ phân phối bình quân trên cơ sở tập thể hoá và quốc doanh hoá; 4) Thời kỳ đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề phải giải quyết, như hệ thống chuẩn mực xã hội, năng suất lao động, quyền lực, nhất là quyền sở hữu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp thực hiện, trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền, hiện đại hoá lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trước năm 1945, Việt Nam là một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, tuyệt đại bộ phận nhân dân sống lầm than, cơ cực trong bất công của thân phận người dân mất nước. Hơn 90% người nông dân không có ruộng cày phải đi làm thuê, cấy mướn. Người công nhân trong nhà máy, hầm mỏ bị bóc lột sức lao động đến cạn kiệt. Nhiều tộc người ở miền xa, miền sâu còn sống du canh, du cư, không nhà ở, sinh hoạt như người cổ xưa. Đói nghèo, sự bất bình đẳng toàn diện là bức tranh tổng quát của xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc giải phóng vĩ đại đối với mọi bất công và đặt cơ sở cho một tiến trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội kiểu mới. Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng này mang lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam phải được độc lập, nhân dân Việt Nam phải được tự do. Đó là công bằng xã hội lớn nhất trong quan hệ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân Việt Nam trong cộng đồng nhân loại. Như tất cả các dân tộc khác, nhân dân Việt Nam phải có quyền quyết định vận mệnh của mình.

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không chỉ xác lập quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại; nó còn thống nhất quyền lợi của các dân tộc đa số và dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cuộc cách mạng ấy đã đem lại cơ hội để đồng bào miền ngược, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa phát triển mọi khả năng của mình.

Continue reading →

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NGUYÊN ĐƠN 83 TUỔI, BỊ ĐƠN 84 TUỔI

VIỆT CƯỜNG

* Vụ án kéo dài hơn 7 năm, đã có bốn cụ là đồng nguyên đơn và người liên quan qua đời ở tuổi 72 đến 84!
* Cần nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử

Nguyên đơn đột quị tại Tòa

Theo trình bày của ông Nguyễn Văn Bé (SN 1926), cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn Hạo và Trang Thị Nga là chủ khu vườn 4.370 mét vuông tại xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, cho con trai là Nguyễn Văn Ngàn trực tiếp quản lý sử dụng, được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) năm 1999. Vợ chồng cụ Hạo có 10 người con, gồm: Nguyễn Văn Điệu (SN 1918), Nguyễn Thị Tỷ (SN 1920, chết), Nguyễn Văn Đủ (SN 1922), Nguyễn Thị Trâm (SN 1924), Nguyễn Văn Ngàn (SN 1926), Nguyễn Văn Bé (SN 1927), Nguyễn Thị Chính (SN 1930), Nguyễn Thị Mười (SN 1932), Nguyễn Thị Khéo (SN 1936) và Nguyễn Văn Su (SN 1940).

Cụ Nga qua đời năm 1968, cụ Hạo qua đời năm 1977, không để lại di chúc. Có sổ đỏ, ông Ngàn định sang nhượng khu đất, các anh chị em trong gia tộc phát hiện ngăn chặn dẫn đến tranh chấp. UBND xã Long Hòa hòa giải ngày 21-2-2002 không thành.
Vụ tranh chấp được TAND huyện Cần Giờ thụ lý ngày 28-5-2002. Hai ông Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Đủ đại diện cho chín anh em đứng nguyên đơn. Do ông Nguyễn Văn Điệu và bà Nguyễn Thị Trâm đã mất nên con là Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Chiếm thay thế. Quá trình tố tụng, ông Đủ bị đột quỵ tại phòng làm việc số 2, TAND Cần Giờ vào ngày 27-6-2002. Sau hơn hai năm, ngày 13-7-2004 thẩm phán Nguyễn Lê Thiên Hương ký quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì “thời hiệu khởi kiện đã hết”. Trước đó, bị đơn Nguyễn Văn Ngàn có đơn xin xác nhận lại nguồn gốc khu đất 4.370 mét vuông do ông khai phá chứ không phải “của cha mẹ để lại” như đã khai trước đó. Tuổi cao, bệnh tật, ông Đủ không chịu nổi cú sốc khi vụ án bị đình chỉ nên đã qua đời ngày 22-1-2005. Ngày 28-2-2005, thẩm phán TANDTP Vũ Thị Hòa ký quyết định phúc thẩm số 320/QĐPT bác đơn kháng cáo.

Continue reading →

TỪ CÂU CHUYỆN VFF: CÔNG DÂN VIỆT NAM BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT

KHANG MINH

Dư luận nhiều ngày qua nóng bỏng với chuyện LĐBĐ Việt Nam (VFF) muốn lập lại trật tự cho bóng đá nước nhà bằng cách giảm thiểu sự có mặt của cầu thủ nước ngoài được nhập quốc tịch trên sân bóng. Theo đó, từ mùa bóng 2010, mỗi CLB chỉ được phép sử dụng 1 cầu thủ được nhập quốc tịch thi đấu trên sân. Điều này đã được hầu hết các thành viên trong Ban chấp hành nhiệm kỳ VI ủng hộ.

Thế nhưng, những luận điểm mà VFF vin vào để đi đến quyết định kể trên không được lòng dư luận. Và thể theo diễn biến phức tạp của sự việc hiện nay, phải còn khá lâu nữa tranh cãi mới được vãn hồi. Giới quan sát nhìn nhận từ rắc rối này, rất có thể nảy sinh thêm nhiều rắc rối khác và đến khi mùa bóng mới khởi tranh, nó sẽ càng nóng bỏng.

Trên thực tế, VFF dựa phần lớn vào tinh thần biểu quyết của các thành viên Ban chấp hành mới, nhưng hình như, giới chức lại bỏ qua “kênh” dư luận, nơi thường phát sinh những phản ứng ngược lại. Thêm vào đó, VFF hình như cũng quên luôn đối tượng chính trong vụ việc là những cầu thủ ngoại đã nhập quốc tịch Việt Nam. Thành thử khi đưa ra quyết định như vậy, VFF vấp ngay phải làn sóng chỉ trích mạnh mẽ. Đấy là chưa kể quyết định này đi ngược lại xu thế Nhà nước ta cho người nước ngoài nhập quốc tịch. Nói như HLV Mai Đức Chung (Bình Dương), tuy bóng đá là một cuộc chơi mang những đặc thù riêng nhưng cũng phải tôn trọng và thực hiện đúng luật pháp cũng như quy định của Nhà nước. Việc hạn chế như vậy đồng nghĩa với việc vi phạm quyền công dân. Bởi cầu thủ nhập quốc tịch VN, trở thành công dân VN phải được hưởng mọi quyền lợi chính đáng một cách bình đẳng như bất kỳ người VN nào khác.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Trước khi làn sóng nhập quốc tịch diễn ra tràn lan trong bóng đá, dư luận một luồng coi đây là xu hướng tốt, có thể giúp kích thích sự phát triển của cả nền bóng đá Việt Nam trong tương lai. Chính vì vậy, các đội bóng đua nhau tìm cách xin nhập quốc tịch cho các ngoại binh của mình, đến độ không thể kiểm soát kỹ lưỡng được nữa. Phần dư luận khác lại cảnh báo làm như vậy là hại cả một nền bóng đá, không còn nhiều cơ hội cho cái nền là bóng đá trẻ phát triển. Hơn nữa, khi một số cầu thủ nhập quốc tịch được triệu tập làm nhiệm vụ quốc gia như Huỳnh Kesley, Phan Văn Santos, Đinh Hoàng Max, Đinh Hoàng La… đều vấp phải sự kháng cự, khiến giới chức bóng đá trong nước rốt cuộc phải đi đến thống nhất là loại họ khỏi những lần triệu tập gần đây.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 2544/BXD-QLN NGÀY 19 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ THỰC HIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

– Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Phát triển mô hình nhà chung cư cao tầng là xu thế tất yếu trong phát triển nhà ở tại các đô thị. Việc tổ chức quản lý vận hành nhà chung cư của các chủ đầu tư ở địa phương bước đầu đã cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho các cư dân sống trong nhà chung cư, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh sạch sẽ với chi phí phù hợp, từ đó thu hút được các tầng lớp dân cư đô thị vào sống trong các nhà chung cư cao tầng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn có những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý sử dụng nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm giải quyết kịp thời. Thời gian vừa qua, ở một số địa phương đã xảy ra cháy các căn hộ nhà cahung cư và một số vấn đề tồn tại liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà chung cư.

Để công tác quản lý sử dụng nhà chung cư cao tầng đi vào nền nếp, góp phần xây dựng nếp sống văn minh đô thị, Bộ Xây dựng đề nghị Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng, khẩn trương thực hiện một số việc sau:

1. Hiện nay, một số căn hộ nhà chung cư được chủ sở hữu chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn. Pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái mục đích quy định. Ngoài ra, việc sử dụng văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh xen lẫn với nhà ở gây xáo trộn, mất trật tự và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của các hộ dân sống ở các nhà chung cư. Chính quyền địa phương là nơi đã cho phép các chủ đầu tư phát triển nhà chung cư cần kiểm tra, hướng dẫn các chủ đầu tư dự án, các hộ dân sống trong nhà chung cư làm tốt công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, đảm bảo quyền lợi của cả chủ đầu tư và các hộ dân. Trường hợp nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp văn phòng không đảm bảo điều kiện làm việc theo Quy chuẩn xây dựng và Tiêu chuẩn quy định thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

2. Công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm đặc biệt thông qua việc kiểm tra định kỳ, hướng dẫn cho các chủ đầu tư, người dân sống trong các khu nhà chung cư chủ động phòng cháy, chữa cháy tại chỗ. Các nhà chung cư cần được thiết kế và bố trí đầy đủ những trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy theo Tiêu chuẩn TCVN 2622-1995 – Phòng cháy, chống cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế. Các cán bộ, công nhân trực tiếp và gián tiếp tham gia quản lý vận hành nhà chung cư đều phải được tập huấn và tham gia diễn tập định kỳ công tác phòng cháy, chữa cháy tại các khu nhà chung cư. Ngoài ra, các địa phương cần có hình thức thiết thực tuyên truyền, cổ động để các hộ dân tự trang bị những kiến thức cơ bản trong phòng cháy, chữa cháy tại chỗ, chủ động tham gia quản lý nhà chung cư, góp phần tạo dựng môi trường sống đô thị văn minh, hiện đại.

Công tác quản lý sử dụng nhà chung cư đảm bảo điều kiện an toàn cho cư dân, đặc biệt là công tác phòng, chống cháy nổ tại các khu chung cư có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mô hình nhà chung cư cũng như sự phát triển bền vững của đô thị. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương quan tâm, khẩn trương triển khai các công tác nêu trên, đảm bảo các khu nhà chung cư được quản lý vận hành an toàn, bền vững và lâu dài./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

GS. VIỆN SĨ. NGUYỄN DUY QUÝ – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Làm rõ quan điểm mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về Nhà nước pháp quyền; 2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền với tư cách một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan đối với Việt Nam hiện nay; 3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thể hiện được các giá trị phổ biến, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù; 4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ Đại hội lần thứ IX, khi thông qua việc sửa đổi một số điều trong Hiến pháp năm 1992, Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về vấn đề này, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”(1).

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại một cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn hoạt động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề mới đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước.

1. Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan trọng: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.

Continue reading →