QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA LUẬT SƯ VỚI CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM

Nghề Luật sư được xã hội trọng vọng, tôn kính. Ngay từ thời La Mã Cổ đại, người Luật sư được xem như một hiệp sĩ, nghề luật sư được coi như một thiên chức (chức vụ thiêng liêng). Ở miền Nam Việt Nam trước ngày giải phóng 30/4/1975, ban nhạc hài hước nổi tiếng AVT đã từng cất lời ca trên đài phát thanh Sài Gòn: Luật sư đắc vợ, nhiều tiền, từ hai tay trắng làm nên nhà lầu!

Được biết, người Sài Gòn đã có thói quen tìm đến luật sư khi hữu sự, chẳng may phải “đáo tụng đình”. Vì vậy mà tổ chức luật sư ra đời tại “thánh địa” nầy ngay từ năm 1867 tính tới nay là 142 năm (chỉ gián đoạn 14 năm: từ năm 1975 đến năm 1989).

Để tạo được truyền thống danh giá tốt đẹp, giữ được sự tin cậy và trọng nể của người đời thì luật sư và tổ chức hành nghề luật sư suy nghĩ và hành động mẫu mực, thao thức với lời căn dặn được lưu truyền từ ngàn xưa: mua danh ba vạn, bán danh ba đồng; hoặc mất tiền bạc có thể làm ra tiền bạc, mất uy tín là mất tất cả.

Là luật sư, hơn các giới khác trong xã hội, chúng ta cần tuân thủ triệt để quy định pháp luật và ứng xử nhân văn trong làm việc và lối sống. Ở chừng mực nào đó, dân thường vi phạm pháp luật có thể được tha thứ hoặc châm chế do lạc hậu về kiến thức và nhận thức. Nhưng những “thầy luật” mà vi phạm pháp luật thì thật đáng chê trách. Trong số những điều tối kỵ của nghề luật sư là hành vi “chạy án”. Tại hội nghị tổng kết hàng năm của Đoàn Luật sư Tp.Hồ Chí Minh, chúng ta luôn mạnh mẽ lên tiếng: cương quyết nói “không” với chạy án.

Khái niệm “chạy án” được hiểu theo nghĩa rộng, nhưng nói theo dân gian là việc làm “đổi trắng, thay đen” trong hoạt động tố tụng làm sai lệch sự thật khách quan được thể hiện trong bản án để hưởng lợi bất chính. Là người “phụ tá công lý”, chúng ta xem công lý là kim chỉ nam, là vị thần bất khả xâm phạm. Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi đất lành chim đậu, với hào khí Nam bộ không cho phép chúng ta làm ngơ trước bất công, mà phải tỏ rõ thái độ “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” (thấy việc nghĩa không làm thì không phải là người có dũng khí).

Continue reading

ĐƯỜNG CHỮ U (ĐỨT KHÚC) CỦA TRUNG QUỐC (VIỆT NAM GỌI LÀ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ) TRÊN BIỂN NAM TRUNG HOA: CÁC ĐIỂM, ĐƯỜNG VÀ KHU VỰC

PETER KIEN – HONG YU (Người dịch: Hoàng Khánh Hòa và tòa soạn Thời Đại Mới)

Lời tòa soạn Thời Đại Mới:

Bài viết này quan trọng ở chỗ nó phản ánh các quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan là quyết không từ bỏ chủ quyền trong đường chữ U, tức là đường lưỡi bò theo cách gọi của Việt Nam, và bản thân tác giả lập luận ủng hộ các quan điểm đó. Tác giả là Giáo Sư Đại học Ming Chuan, Trường Sau Đại học về Ngoại Giao ở Đài Loan.  

Các chú thích của người dịch được để trong […] với chữ nghiêng. Các chú thích của tác giả cũng có thể có, để trong  […] nhưng với chữ thẳng đứng

Xisha, đọc là Tây Sa, Việt Nam gọi là Hoàng Sa, tức nhóm đảo Paracels. Zhongsha, đọc là Trung Sa, Việt Nam cũng gọi là Trung Sa, là nhóm bãi cát ngập nước Macclesfield Bank nằm ở phía đông của nhóm đảo Hoàng Sa.

Nansha, đọc là Nam Sa, Việt Nam gọi là Trường Sa, tức nhóm đảo Spratleys. Luật Biển hay Công ước Biển 1982 được dùng trong bài là nói về cùng một bộ luật của Liên Hợp Quốc về biển.

Bài báo này phân tích các tác động tích cực và tiêu cực của đường chữ U (biên giới lãnh hải) trên Biển Nam Trung Hoa (NTH) cũng như các điểm đáng quan tâm còn chưa rõ ràng. Các tác động tích cực của đường này bao gồm nhận định cho rằng đường này không phải là chủ ý của Đài Loan và Trung Quốc nhằm gộp biên giới quốc tế vào biên giới quốc gia (national framework). Các tác động tiêu cực bao gồm những gánh nặng đối với lực lượng hải quân Trung Quốc. Bài báo này cũng sẽ trả lời những câu hỏi về  bản chất mối quan hệ giữa đường chữ U và các vùng đặc quyền kinh tế của Cộng sản Trung Quốc (Communist Exclusive Economic Zones), lập luận rằng mối quan hệ phi mâu thuẫn này cần được xem như là sự bảo hiểm hai lần mà cả Đài Loan và Trung Quốc đang nỗ lực đầu tư.

Continue reading

Ý KIẾN TỔNG KẾT CỦA PHÓ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN ĐỨC KIÊN TẠI PHIÊN HỌP THỨ 26 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ DỰ THẢO LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Kính thưa các đồng chí.

Thời gian cũng hết rồi nhưng chúng tôi thấy cũng có thể gom lại một số ý kiến kết thúc mục này.

Kính thưa các đồng chí,

Thời gian thì vẫn còn và cũng còn một số bước nữa đương nhiên cũng phải làm khẩn trương trước khi hoàn chỉnh trình chính thức tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội xem xét thông qua, cho nên tiếp tục gợi mở để các đồng chí cơ quan chủ trì soạn thảo, chủ trì thẩm tra nghiên cứu thêm để sẽ báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội nếu thấy cần thiết một số điểm trước khi hoàn chỉnh dự án luật để trình với Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7. Việc trình tiếp một số vấn đề xét thấy cần thiết với Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể diễn ra vào phiên họp tháng 4 hoặc cùng lắm là phiên họp xép của đầu tháng 5. Nhưng chúng ta với tinh thần chuẩn bị trình vào phiên họp tháng 4 Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vấn đề thứ nhất, về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước như thế nào thì chúng ta cũng thống nhất với nhau một tinh thần tức là thể chế chính trị của chúng ta có khác, cho nên mô hình tổ chức và mô hình quản trị quốc gia trên các lĩnh vực nó cũng khác, nó phù hợp với điều kiện nước ta. Chính vì thế cho nên hướng chung đồng ý với việc xác định địa vị pháp lý như trong dự thảo. Nhưng những điều quy định ở trong dự án luật phải tiến dần đến những chức năng, nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương để nó phù hợp với Nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết của Bộ Chính trị.

Chính vì thế cho nên bữa trước khi làm việc với các ngành tôi có đề nghị với các đồng chí có một phụ lục để gửi các vị đại biểu Quốc hội, một bên nếu là Ngân hàng Nhà nước thì chức năng và nhiệm vụ cụ thể anh làm những việc gì? một bên là Ngân hàng Trung ương chức năng nhiệm vụ cụ thể anh làm những việc gì, cái nào giống nhau, cái nào khác nhau để các vị đại biểu Quốc hội người ta xem xét, người ta đối chiếu với những nội dung quy định ở trong dự thảo luật này. Đề nghị các đồng chí cũng cố gắng sưu tầm và chuẩn bị.

Continue reading

“LÁCH” THUẾ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

PHẠM ĐỨC THÀNH

Ngày 12.8.2009, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 161/2009/TT-BTC hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản. Thông tư đã quy định cụ thể cách xác định đối tượng nộp thuế, các trường hợp được miễn thuế, tạm thời chưa thu thuế, áp dụng thuế suất… Tuy nhiên, áp dụng những quy định này đã phát sinh một số điểm bất hợp lý.

Quy định “mở”

Theo quy định tại Điều 6 của Thông tư 161, khi chuyển nhượng bất động sản, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn một trong hai cách nộp thuế: Một là, nộp 25% của phần chênh lệch giữa giá bán và giá gốc; Hai là, nộp 2% trên tổng giá trị của nhà, đất khi chuyển nhượng. Quy định này được đánh giá là mang tính “mở”, do đó sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn cách thức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình đối với Nhà nước. Tuy nhiên, chính quy định này khi áp dụng trong đời sống xã hội đã tạo ra kẽ hở để các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường nhà đất “lách” luật, trốn thuế. Tùy từng trường hợp và hợp đồng cụ thể, cá nhân, tổ chức sẽ lựa chọn cách nộp thuế sao cho có lợi nhất. Cụ thể, đối với những hợp đồng mà người bán không thu được nhiều lãi từ việc chuyển nhượng thì họ sẽ chọn cách nộp 25% tổng giá trị chênh lệch khi chuyển nhượng. Nhưng nếu hợp đồng đó có lãi nhiều, họ sẽ tìm cách khai thấp hơn nhiều lần giá trị thực tế của căn nhà, lô đất và đăng ký nộp thuế 2% trên tổng số giá trị tài sản đó.

Continue reading

Giải quyết việc làm góp phần bảo đảm ổn định xã hội và TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

ĐẶNG NHƯ LỢI – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Việc làm có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động và đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Sau 20 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, song tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa…Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngày 6/72007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2005 – 2010 với:

– Mục tiêu chung: tạo việc làm cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 – 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.

– Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, tạo việc làm cho 2 – 2,2 triệu lao động, trong đó: thông qua các dự án vốn vay tạo việc làm từ Quỹ quốc gia tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động; từ xuất khẩu lao động tạo việc làm cho 40 – 50 vạn lao động.

+ Thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn và giới thiệu cho 4 triệu lao động.

Continue reading

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM GÓP PHẦN BẢO ĐẢM ỔN ĐỊNH XÃ HỘI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

ĐẶNG NHƯ LỢI – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Việc làm có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động và đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Sau 20 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, song tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa…Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngày 6/72007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2005 – 2010 với:

– Mục tiêu chung: tạo việc làm cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 – 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.

– Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, tạo việc làm cho 2 – 2,2 triệu lao động, trong đó: thông qua các dự án vốn vay tạo việc làm từ Quỹ quốc gia tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động; từ xuất khẩu lao động tạo việc làm cho 40 – 50 vạn lao động.

+ Thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn và giới thiệu cho 4 triệu lao động.

Continue reading

VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA BẢN TUYÊN NGÔN PHỔ QUÁT VỀ QUYỀN LÀM NGƯỜI (10 – 12 – 1948)

NGUYỄN NGỌC LANH

Hoàn cảnh đòi hỏi

Đại chiến II sắp kết thúc, phe Trục sắp đầu hàng, do vậy các nước chủ chốt thuộc phe Đồng Minh là Anh, Mỹ, Nga đã dự kiến xây dựng một nền hoà bình lâu dài cho nhân loại. Muốn vậy, mọi người phải sống trong một thế giới có tổ chức. Đó là cơ sở để năm 1945 Liên Hiệp Quốc được thành lập và Hiến Chương của nó ra đời.

Để vĩnh viễn loại trừ thảm hoạ chiến tranh, điều tiên quyết là phải tôn trọng phẩm giá từng con người, đồng nghĩa với phải bảo vệ và mở rộng QUYỀN LÀM NGƯỜI (human rights) của mỗi cá nhân.

Rốt cuộc phải có một Bản Tuyên Ngôn phổ quát về QUYỀN LÀM NGƯỜI.

Dưới đây xin gọi tắt là Bản Tuyên Ngôn

– Chúng ta thường dịch Human Rights là “nhân quyền” hoặc “quyền con người”. Chẳng qua chi là chuyện chọn từ ngữ. Tôi mạn phép dùng “quyền làm người” do tình hình thực thi các quyền này trên thực tế.
– Từ ngữ cũng quan trọng, nhưng quan trọng nhất là quan niệm: Đây là các quyền bẩm sinh của mỗi con người (đó là quyền tự do, khiến một con người khác một con vật), chứ không phải quyền của toàn khối dân tộc không chịu phụ thuộc vào dân tộc khác (tức quyền độc lập).
– Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ 1946 đã phân biệt rất rõ điều này, với câu nói đến nay nhắc lại, vẫn thấy tính thời sự: Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa.

Ngay thời đó, các quốc gia trong Liên Hợp Quốc đã thống nhất quan điểm: Bản Tuyên Ngôn về QUYỀN LÀM NGƯỜI khi được công bố phải chiếm một vị trí cao cả, phải có giá trị vĩnh hằng và phổ quát; nội dung phải tương xứng với thiên chức của nó: Là minh triết của nhân loại.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4799/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 18 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ MỨC LƯƠNG LÀM CƠ SỞ ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Kính gửi:

 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang

Trả lời công văn số 661/SLĐTBXH-LĐTL-BHXH ngày 8/12/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về tiền lương và Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước thì các mức lương trong thang lương, bảng lương được dùng làm cơ sở để thỏa thuận mức lương ghi trong hợp đồng lao động. Mức lương ghi trong hợp đồng lao động là cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động.

Như vậy, đối với công ty nhà nước thì áp dụng thang lương, bảng lương tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP và mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ (khi Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung thì thực hiện theo quy định mới) làm cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động.

Đối với doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp FDI thì áp dụng thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng làm cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP và Thông tư số 28/2007/TT-BLĐTBXH ngày 5/12/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong đó mức tiền lương để trả cho lao động làm công việc giản đơn không qua đào tạo trong điều kiện lao động bình thường không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; đối với lao động làm nghề, công việc đòi hỏi qua học nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định (từ ngày 01/01/2010 mức lương tối thiểu vùng được quy định Nghị định số 97/2009/NĐ-CP và số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ).

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ÁN KHÔNG TUYÊN, SAO ĐEM XỬ LẠI?

HOÀNG HÙNG

Một vụ kiện dân sự được Tòa Phúc thẩm TAND tỉnh Long An đưa ra xét xử nhưng sau khi nghị án kéo dài mà không tuyên án, một tháng sau, tòa này lại đưa vụ án ra xử lại

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Luận (ấp Nhà Việc, xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An), ngày 15-1, đoàn kiểm tra liên ngành của huyện Châu Thành tiến hành kiểm tra điểm bán lẻ vật tư nông nghiệp của ông. Qua đó, đoàn lập biên bản tạm giữ của ông Luận 65 bao phân Silica (Hàn Quốc) vì không có hóa đơn chứng từ. Ông Luận giải thích loại phân này nhập khẩu hợp pháp, do một công ty có trụ sở ở tỉnh Bến Tre cung cấp nên xin đoàn kiểm tra cho thời gian đi lấy hóa đơn. Tuy nhiên, ngày 24-2, UBND huyện Châu Thành ra quyết định xử phạt hình chính đối với ông Luận về hành vi kinh doanh hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời tịch thu 65 bao phân Silica vì là hàng nhập lậu. Không chấp nhận bị quy kết kinh doanh hàng lậu, ông Luận khởi kiện ra tòa.

Ngày 19-8, TAND huyện Châu Thành xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Tại phiên tòa, ông Luận cung cấp cho HĐXX hóa đơn phân Silica do Công ty Mosan (trụ sở tại xã Sơn Quy, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre) cung ứng. Mosan là công ty được phép phân phối phân Silica trên phạm vi toàn quốc, vì thế theo ông Luận, 65 bao phân Silica không phải là hàng lậu. Đại diện UBND huyện Châu Thành, ông Võ Thanh Hồng, không đồng ý hủy quyết định ngày 24-2-2009 và viện dẫn Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT của Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và Bộ Công an ngày 28-2-2007 (gọi tắt là Thông tư 12), có đoạn quy định: Đối với hàng hóa nhập khẩu bày bán thì cơ sở kinh doanh phải xuất trình đầy đủ hóa đơn chứng từ, chứng minh hợp pháp của lô hàng trong thời hạn tối đa là 24 giờ, kể từ thời điểm kiểm tra. Quá thời hạn này mà chủ cơ sở kinh doanh không xuất trình đầy đủ thì bị xử lý vi phạm theo quy định. Trong khi kể từ ngày ông Luận bị kiểm tra đến ngày ông xuất trình hóa đơn là 50 ngày. Dựa trên căn cứ này, TAND huyện Châu Thành bác đơn kiện của ông Luận.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 133/BC-LĐTBXH NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ THỰC TRẠNG CUNG – CẦU LAO ĐỘNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, giai đoạn 2000 – 2006, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân tăng 7,8%/năm và riêng năm 2007 đạt 8,47% (cao nhất trong vòng 20 năm qua); năm 2008, do bị ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, GDP của Việt Nam tuy có giảm, nhưng vẫn đạt 6,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng (năm 2008, cơ cấu kinh tế tương ứng là: 22,10% – 39,73% – 38,17%).

Quan hệ thương mại quốc tế phát triển tốt, kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 22%, năm 2008 tăng 29,5%; mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn, chuyển dần từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xuất khẩu các mặt hàng chế tác (năm 2005: 50,4%, năm 2007: 52,4%); nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, năm 2008 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đưa vào Việt Nam đạt mức kỷ lục (64 tỉ USD), đã góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng GDP cao của Việt Nam.

Việc thực hiện hiệu quả các chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích sản xuất, kinh doanh trong nước đã thúc đẩy tăng nhanh số doanh nghiệp trong nước qua các năm (năm 2005: 112.950 doanh nghiệp, năm 2006: 131.318 doanh nghiệp, năm 2007: 155.771 doanh nghiệp, năm 2008: 201.106 doanh nghiệp). Cơ cấu doanh nghiệp thay đổi theo hướng giảm doanh nghiệp nhà nước (năm 2005: 3,62%, năm 2006: 2,82%, năm 2007: 2,2%, năm 2008: 1,7%).

Đặc biệt, sau 12 năm đàm phán, ngày 7/11/2006, tại phiên họp bất thường của Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã được kết nạp và là thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/01/2007. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, là kết quả của quá trình đổi mới, thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trở thành thành viên của WTO trong bối cảnh kinh tế toàn cầu liên tục biến động đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục quá trình đổi mới toàn diện, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trên thị trường quốc tế; đồng thời, cần tập trung giải quyết những vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài, vừa bức xúc trước mắt, nhất là vấn đề lao động – việc làm trong kinh tế thị trường, quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động.

Continue reading

GỠ VƯỚNG BỘ LUẬT DÂN SỰ: KHI NÀO HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU?

THANH LƯU – ÁI NHÂN

Nên dựa vào ý chí các bên khi lập hợp đồng thay vì quá chú trọng đến hình thức?

Ngày 18-12-2009, các chuyên gia pháp luật đã tiếp tục mổ xẻ những bất cập về chế định hợp đồng trong hội nghị tổng kết thi hành BLDS của Bộ Tư pháp.

Quá chú trọng đến hình thức

Theo PGS-TS Dương Đăng Huệ (Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự-kinh tế Bộ Tư pháp), các quy định hiện hành trong BLDS khiến cho việc tuyên hợp đồng vô hiệu trở nên rất dễ dàng. Điều này khiến quyền lợi của các bên không được đảm bảo và vô hiệu hóa nguyên tắc thỏa thuận của BLDS.

Cụ thể, Điều 401 BLDS quy định hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức nhưng lại thòng thêm một câu “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này khiến cho nhiều luật chuyên ngành mở rộng ra rất nhiều trường hợp bắt buộc hợp đồng phải làm bằng văn bản. Hướng sửa đổi dự kiến theo TS Huệ là chỉ quy định hạn chế một số loại hợp đồng dứt khoát phải làm bằng văn bản.

Cạnh đó, BLDS hiện hành cũng quy định vi phạm bất cứ điều cấm nào của pháp luật cũng bị tuyên vô hiệu, không phân biệt vi phạm đó là nghiêm trọng hay không. Theo TS Huệ, điều này hoàn toàn không cần thiết vì một số vi phạm có thể sử dụng chế tài hành chính hoặc bồi thường thiệt hại. Chỉ có những vi phạm nghiêm trọng dẫn đến phạm tội mới có thể bị vô hiệu.

Đồng tình, TS Đỗ Văn Đại (giảng viên Trường Đại học Luật TP.HCM) cho rằng những quy định của BLDS đang… ủng hộ sự bội ước. Ở nước ta, trong trường hợp những hợp đồng không công chứng theo quy định thì tòa án sẽ cho ba tháng để khắc phục. Nếu không khắc phục được thì tòa sẽ tuyên vô hiệu. Ngược lại, ở một số nước, nếu đã quy định bắt buộc mà anh (người bán) không công chứng thì tòa sẽ công nhận luôn vì anh đã thể hiện sự gian dối.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2728/BXD-TTr NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XỬ LÝ CĂN NHÀ SỐ 02 BÀ TRIỆU, PHƯỜNG 12, QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/CP NGÀY 5/7/1994 CỦA CHÍNH PHỦ

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 3148/SXD – QLN ngày 8/5/2009 và công văn số 5900/SXD – QLN ngày 6/8/2007 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh về việc đề nghị Bộ cho ý kiến về hướng xử lý đối với căn nhà số 02 Bà Triệu, phường 12, quận 5.

Căn cứ theo nội dung các công văn nói trên của Sở Xây dựng, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Ngày 24/11/2003 Sở Xây dựng đã ban hành Quyết định số 335/QĐ-XD-QLN về việc kiểm kê, quản lý căn nhà số 02 Bà Triệu và giải quyết cho hộ ông Toàn Hưng Trí (người sang nhượng nhà 02 Bà Triệu bằng giấy tay từ những người được uỷ quyền quản lý nhà và đã trực tiếp sử dụng nhà từ năm 2000) ký hợp đồng tạm thuê căn nhà này trong khi chờ Quốc hội ban hành Nghị quyết giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài xác lập trước ngày 1/7/1991.

Quyết định nói trên của Sở Xây dựng được ban hành trước ngày Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội có hiệu lực (ngày 1/7/2004) và ông Toàn Hưng Trí đã được ký hợp đồng thuê nhà 02 Bà Triệu với Nhà nước và sử dụng ổn định cho đến nay. Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 thì Nhà nước sẽ không xem xét lại việc quản lý trước đây đối với căn nhà số 02 Bà Triệu cũng như không thừa nhận việc đòi lại căn nhà này (nếu có).

Như vậy, căn nhà số 02 Bà Triệu thuộc diện nhà đất mà Nhà nước đã có văn bản quản lý và thực tế đã bố trí sử dụng, nên theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 23/2003/QH11 thì Nhà nước phải hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với căn nhà này.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 110/2009/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là hành vi bạo lực gia đình và các hành vi khác do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

3. Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan; hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì bị xử phạt theo các quy định tại Nghị định này và các quy định khác có liên quan về xử phạt vi phạm hành chính.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 37/2009/TT-BTTTT NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG QUY ĐỊNH VỀ HỒ SƠ VÀ THỦ TỤC LIÊN QUAN ĐẾN CẤP PHÉP, ĐĂNG KÝ, CÔNG NHẬN CÁC TỔ CHỨC CUNG CẤP DỊCH VỤ CHỨNG THỰC CHỮ KÝ SỐ

BỘ TRƯỞNG BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;
Căn cứ Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Ứng dụng công nghệ thông tin,

QUY ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về hồ sơ, thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, bao gồm:

1. Cấp phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;

2. Tạm đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;

3. Cấp chứng thư số cho tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;

4. Đăng ký hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng;

5. Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số;

6. Công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài.

Continue reading

TỪ ĐẠO HIẾU TRUYỀN THỐNG, NGHĨ VỀ ĐẠO HIẾU NGÀY NAY

THS. NGUYỄN THỊ THỌ – Đại học Sư phạm Hà Nội

“Hiếu” được hình thành từ xa xưa, gắn liền với phong tục thờ cúng tổ tiên, về sau được Nho giáo phát triển và thể chế hoá thành chuẩn mực đạo đức. Về cơ bản, nội dung phạm trù “hiếu” mang một ý nghĩa tích cực, đó là bổn phận làm con phải có hiếu với cha mẹ. Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có nét đặc sắc riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Đặc biệt, truyền thống “hiếu” của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh. Ở Người, phạm trù“hiếu” được chuyển đổi mang tính cách mạng. Trong điều kiện hiện nay, tác giả cho rằng, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò của chữ “hiếu” trong gia đình cũng như ngoài xã hội; kế thừa, phát triển “hiếu” theo tinh thần Hồ Chí Minh, gắn với yêu cầu của xây dựng gia đình văn hoá mới.

Đã từ lâu, cha ông ta hết sức coi trọng việc giáo dục đạo lý làm người cho con cháu, mà trước hết là phải lấy chữ hiếu làm đầu:

“Làm trai nết đủ trăm đường,

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay”.

Bởi lẽ, một con người mà không có hiếu đối với ông bà, cha mẹ, không biết yêu thương, kính trọng những người sinh thành dưỡng dục mình, thì khi ra ngoài xã hội, con người ấy khó trở thành người có tình cảm, biết yêu thương những người xung quanh.

Trách nhiệm, nghĩa vụ đối với ông bà, cha mẹ được cô đúc trong khái niệm hiếu. Hiếu không những được xem là đứng đầu của đức hạnh, mà còn là cội nguồn để có được phúc thiện:

“Điều hiếu đứng vững,

Muôn điều thiện theo.

Phúc thiện đúng đạo,

Phúc lành được gieo”.

(Xuân đình gia huấn)

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP VÌ CHỮ “A” HAY CHỮ “V”

NGUYỄN MẠNH

Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, hiện nay có tới 40.000 nhãn mác sản phẩm đang được sử dụng mà không cần đăng ký. Bởi những nhãn hiệu này không xâm phạm đến quyền lợi của bất kỳ ai. Tuy nhiên, điều này cũng chứa đựng rất nhiều yếu tố rủi ro khi xảy ra tranh chấp.

Đầu tháng 10/2009, Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel) phát hiện Công ty Cổ phần Thép Đông Nam Á (ASC) có trụ sở tại Khu công nghiệp Hòa Phú, xã Hòa Phú, thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắc Lắc đã đưa ra thị trường sản phẩm thép thanh vằn từ D10-D14 có nhãn hiệu nổi trên thân thanh thép tương tự nhãn hiệu của VNSteel.

Có hay không hành vi xâm phạm?

Ngày 31/10, ông Nguyễn Thành Long, Trưởng chi nhánh Văn phòng Luật sư Phạm và Liên Danh, đại diện cho VNSteel đã có văn bản gửi ASC yêu cầu giải trình. Trong văn bản nêu rõ: gần đây, VNSteel phát hiện ASC sản xuất và phân phối các loại thép có gắn dấu hiệu “A” có thiết kế tương tự với phần hình chữ “V” trên nhãn hiệu đã được bảo hộ cho sản phẩm thép “các loại, kim loại và các hợp kim” của VNSteel theo Văn bằng số 116719 và 116720.

Về màu sắc có cùng màu đỏ giống với phần hình “V” trên nhãn hiệu theo Văn bằng số 116719 và ASC đã có sử dụng dấu hiệu đó trên bảng hiệu, nhà xưởng, các tài liệu giao dịch, quảng cáo, hóa đơn và các phương tiện kinh doanh khác. Hơn nữa, ASC nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu “A” cũng chứa dấu hiệu trên “A” theo đơn số 4-2008-27389 cho sản phẩm cùng loại, tương tự, liên quan thuộc nhóm 06…

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN: LẤY CHỒNG . . . KHÔNG GIẤY

KHÁNH LY

Tổ chức đám cưới linh đình nhưng lại quên đăng ký kết hôn, thế là bị thiệt!

Chị T. (quận Tân Phú, TP.HCM) lấy chồng và làm thủ tục kết hôn ở ngoài Bắc rồi vào TP.HCM lập nghiệp. Chăm chỉ làm ăn, vợ chồng chị trở nên khấm khá, mua nhà, lập xưởng sản xuất. Nhưng lúc này, chồng chị bắt đầu phải lòng một phụ nữ khác…

Mất cả chồng lẫn của

Năm 2007, khuyên nhủ chồng không được, chị T. đồng ý ra tòa ly hôn. Phần tài sản chung gồm hai căn nhà khi đó không ra tòa chia mà mỗi người ở một căn. Chị T. nuôi con nhỏ và tiếp tục công việc kinh doanh. Tuy nhiên, người chồng sau một năm sống với cô vợ trẻ thì ly dị.

Tình nghĩa vợ chồng vẫn còn và vì thương con nên chị T. đồng ý quay về sống chung với chồng cũ. Điều dại dột là chị không yêu cầu chồng làm giấy đăng ký kết hôn lại. Từ chuyện hợp thức hóa đến chuyện sửa sang hai căn nhà đều do chị T. lấy tiền riêng đưa chồng lo liệu. Chồng muốn làm ăn riêng, chị cũng gom góp đưa vốn cho chồng.

Nhưng rồi chị phát hiện chồng lén lút chung sống với phụ nữ khác và đã có cả con riêng. Đã vậy, anh chồng còn lên tiếng đòi chiếm luôn cái xưởng sản xuất tuy đứng tên anh nhưng phần lớn là vốn liếng của chị. Đến nước này thì chị T. đành tiễn chồng và tiễn cả số tài sản đáng kể của mình theo chồng.

Trường hợp của V. (sinh viên một trường ở Bà Rịa-Vũng Tàu) cũng buồn không kém. Đầu năm 2009, V. lỡ có bầu. Người yêu của V. cũng chỉ ở độ tuổi 20, không học hành nên gia đình mở cho một cửa hàng nhỏ để tự kinh doanh. Đám cưới được tổ chức với đầy đủ nghi lễ nhưng vợ chồng V. chưa vội đăng ký kết hôn vì cho rằng không mấy quan trọng. Gia đình cho ít vốn làm của hồi môn, V. đưa luôn một phần cho chồng kinh doanh, mua xe máy và vật dụng sinh hoạt.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

PGS.TS. VŨ VĂN GÀU – Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM

Phân tích quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân theo tiến trình của công cuộc đổi mới đất nước, tác giả bài viết đã đi đến kết luận: 1. Trong quan điểm của Đảng ta, đây là những vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách; 2. Kinh tế tư nhân là bộ phận hợp thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là một động lực để phát triển đất nước; 3. Việc Đảng ta cho phép đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong đổi mới tư duy của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách mà trong nhiều năm trực tiếp lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, trăn trở để tìm hướng đi thích hợp và giải pháp hữu hiệu. Nếu phát triển kinh tế tư nhân, ngay từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định và chính thức thừa nhận là vấn đề mang tính chiến lược trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đặc biệt là trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX – “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, thì vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, lần đầu tiên mới được Đảng ta chính thức đưa ra trong “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”.

Về vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, có thể khẳng định rằng, Đảng ta đã hoàn toàn đúng và sáng suốt khi đưa ra chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà ở đó, mọi thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, kinh tế tư nhân là bộ phận hợp thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu Đảng ta đã có được quan điểm như vậy về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân. Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước với đường lối “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, khi kinh tế tư nhân đã có bước phát triển đáng kể và có những đóng góp không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân, mặc dù xác định rõ kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, song trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta mới chỉ coi nó là thành phần kinh tế có thể cần được phát triển. Khi đó, quan điểm của Đảng ta về thành phần kinh tế này là: “Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác… Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định… Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập”(1).

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ VẤN ĐỀ ĐẢNG VIÊN LÀM KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TS. VŨ VĂN GÀU – Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM

Phân tích quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân theo tiến trình của công cuộc đổi mới đất nước, tác giả bài viết đã đi đến kết luận: 1. Trong quan điểm của Đảng ta, đây là những vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách; 2. Kinh tế tư nhân là bộ phận hợp thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là một động lực để phát triển đất nước; 3. Việc Đảng ta cho phép đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong đổi mới tư duy của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách mà trong nhiều năm trực tiếp lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, trăn trở để tìm hướng đi thích hợp và giải pháp hữu hiệu. Nếu phát triển kinh tế tư nhân, ngay từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định và chính thức thừa nhận là vấn đề mang tính chiến lược trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đặc biệt là trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX – “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, thì vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, lần đầu tiên mới được Đảng ta chính thức đưa ra trong “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”.

Về vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, có thể khẳng định rằng, Đảng ta đã hoàn toàn đúng và sáng suốt khi đưa ra chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà ở đó, mọi thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, kinh tế tư nhân là bộ phận hợp thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu Đảng ta đã có được quan điểm như vậy về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân. Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước với đường lối “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, khi kinh tế tư nhân đã có bước phát triển đáng kể và có những đóng góp không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân, mặc dù xác định rõ kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, song trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta mới chỉ coi nó là thành phần kinh tế có thể cần được phát triển. Khi đó, quan điểm của Đảng ta về thành phần kinh tế này là: “Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác… Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định… Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập”(1).

Continue reading