GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG phải phù hợp với pháp luật và thực tiễn

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc chuyển quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông không chỉ được thực hiện với mục đích thương mại mà còn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế. Với số lượng cổ đông lên đến hàng trăm nghìn người, thì hằng năm số vụ thừa kế cổ phần được ngân hàng giải quyết và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế là tương đối lớn. Do vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần đã không còn xa lạ với việc giải quyết thừa kế cổ phần và thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cổ phần theo yêu cầu của người thừa kế.

Tuy nhiên, sự đa dạng, phong phú của các vụ thừa kế cổ phần ngân hàng phát sinh từ thực tế và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đã gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại cổ phần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết thống nhất, cụ thể.

1. Sức hấp dẫn của cổ phần ngân hàng và quy định hiện hành về thừa kế cổ phần ngân hàng

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra ở Mỹ từ đầu năm 2008 đến quý III/2008 đã tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do đó, các quốc gia đã phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để hạn chế những tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính đó. Trong khi các nước đang phải đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, thì nền kinh tế thế giới lại chuyển sang giai đoạn suy thoái (bắt đầu từ tháng 10/2008 đến nay), nên các quốc gia buộc phải tìm, áp dụng biện pháp mới để ngăn chặn suy thoái kinh tế. Những diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới đã tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc phải cắt giảm nhân công, hạn chế đầu tư để hoạt động cầm chừng, chờ cơ hội kinh doanh mới. Trong hoàn cảnh đó, các ngân hàng đã biết cách vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ hội kinh doanh để tồn tại và phát triển. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng năm 2008, thì không có ngân hàng nào bị lỗ. Đứng đầu danh sách các ngân hàng kinh doanh có lãi năm 2008 (tính theo lợi nhuận trước thuế) phải kể đến Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam -Vietcombank (đạt 3.352 tỷ đồng), Ngân hàng Công thương Việt Nam-VietinBank (đạt 2.437 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – ACB (đạt 2.560 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank (đạt 1.600 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất – nhập khẩu Việt Nam- Eximbank (đạt 1.500 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank (đạt 1.091 tỷ đồng)…

Continue reading →

GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG PHẢI PHÙ HỢP VỚI PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc chuyển quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông không chỉ được thực hiện với mục đích thương mại mà còn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế. Với số lượng cổ đông lên đến hàng trăm nghìn người, thì hằng năm số vụ thừa kế cổ phần được ngân hàng giải quyết và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế là tương đối lớn. Do vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần đã không còn xa lạ với việc giải quyết thừa kế cổ phần và thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cổ phần theo yêu cầu của người thừa kế.

Tuy nhiên, sự đa dạng, phong phú của các vụ thừa kế cổ phần ngân hàng phát sinh từ thực tế và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đã gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại cổ phần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết thống nhất, cụ thể.

1. Sức hấp dẫn của cổ phần ngân hàng và quy định hiện hành về thừa kế cổ phần ngân hàng

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra ở Mỹ từ đầu năm 2008 đến quý III/2008 đã tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do đó, các quốc gia đã phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để hạn chế những tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính đó. Trong khi các nước đang phải đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, thì nền kinh tế thế giới lại chuyển sang giai đoạn suy thoái (bắt đầu từ tháng 10/2008 đến nay), nên các quốc gia buộc phải tìm, áp dụng biện pháp mới để ngăn chặn suy thoái kinh tế. Những diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới đã tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc phải cắt giảm nhân công, hạn chế đầu tư để hoạt động cầm chừng, chờ cơ hội kinh doanh mới. Trong hoàn cảnh đó, các ngân hàng đã biết cách vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ hội kinh doanh để tồn tại và phát triển. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng năm 2008, thì không có ngân hàng nào bị lỗ. Đứng đầu danh sách các ngân hàng kinh doanh có lãi năm 2008 (tính theo lợi nhuận trước thuế) phải kể đến Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam -Vietcombank (đạt 3.352 tỷ đồng), Ngân hàng Công thương Việt Nam-VietinBank (đạt 2.437 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – ACB (đạt 2.560 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank (đạt 1.600 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất – nhập khẩu Việt Nam- Eximbank (đạt 1.500 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank (đạt 1.091 tỷ đồng)…

Continue reading →

NGÂN HÀNG: CHỖ NƯƠNG TỰA KÍN ĐÁO

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG *

Một kịch sĩ quan trọng, nhưng luôn nằm trong bóng tối của cuộc thương thuyết là ngân hàng. Đừng cho rằng khi ngân hàng không là chủ đầu tư, không là công ty xây dựng dự án, không là nhà tư vấn… không có nghĩa họ không là gì cả.

Bạn có nhớ bạn ra ngân hàng bao nhiêu lần khi bắt đầu đấu thầu hay quản lý một dự án không?

Khi bạn mua đầu bài của cuộc đấu giá, phải nộp bid bond (khế ước đấu thầu) khi bạn đăng giá biểu, thế rồi đến lúc bạn thương thuyết hợp đồng, ký những văn bản giữa nhà thầu và chủ đầu tư, xong sang đến giai đoạn quản lý xây dựng dự án, bao nhiêu lần phải khắc phục những rủi ro đến với dự án, những lúc đó, bạn mới thấy sự hiện diện của một ngân hàng xuất sắc bên cạnh bạn thấm thía như thế nào. Và dịch vụ do ngân hàng cung cấp quý báu ra sao.

Vào năm 1986, tập đoàn của tôi quyết định đổ mạnh vào thị trường Trung Quốc. Vào những năm đó, ông Lý Bằng, Phó thủ tướng Trung Quốc, là người có nhiều cảm tình với công ty điện Pháp là Alstom của chúng tôi. Lý do là trước khi giữ chức vụ này, ông là người chủ trì tất cả chính sách điện lực của Trung Quốc, trong đó có chính sách xây dựng các nhà máy sản xuất điện dùng công nghệ nguyên tử hạt nhân. Cộng hòa Pháp lại nắm vững công nghệ này nên tiếp tay với ông khá đắc lực.

Thị trường điện của Trung Quốc hồi đó chưa hùng mạnh, và sở dĩ Trung Quốc muốn đầu tư nhiều về ngành này vì họ sửa soạn cho một chính sách phát triển công nghiệp đại quy mô. Vào những năm đó (1986-1995), Trung Quốc mua nhà máy điện từng mớ một, cho đấu thầu có khi cả hai, ba, hay bốn máy một lúc, chiếc nào sơ sơ cũng vài trăm triệu đô la. Chương trình đó họ gọi là chương trình nước rút (crash program).

Continue reading →

HÒA GIẢI DÂN SỰ

LS. VÕ THÀNH VỊ

Trong vụ án dân sự , luật sư chúng ta tùy điều kiện và tình tiết vụ án, cố gắng thực hiện các thủ tục hòa giải vừa có lợi cho hai bên đương sự, đồng thời có lợi cho luật sư chúng ta.

Căn cứ các qui định của Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự: Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt bên nào. Các thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, khi có tranh chấp dân sự việc hòa giải của các bên được pháp luật khuyến khích.

Điều 10 của Bộ luật Tố tụng dân sự qui định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự theo qui định của bộ luật này”. Các đương sự gồm có: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do tòa án tiến hành.

Về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải phải được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

1. Trường hợp thứ nhất: Hòa giải và chuẩn bị xét xử (hòa giải lần 1)

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; Trừ trường hợp vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.

Continue reading →

TÌM HIỂU VỀ “ĐÌNH CHỈ” THEO QUI ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Điều 39, 50 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Điều 41, 53 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các các tranh chấp lao động chỉ qui định một loại đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.

BLTTDS năm 2004 thì có nhiều loại đình chỉ khác nhau như: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử theo yêu cầu của đương sự; nhưng trong quá trình thực hiện thì tính chất, căn cứ, hình thức vẫn chưa được cụ thể, chưa thực sự rõ ràng, đã dẫn tới sự lầm lẫn hay xem xét các căn cứ vẫn còn mù mờ theo cách hiểu của mỗi tòa án hay của mỗi vị thẩm phán…

Theo khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2004 qui định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bằng cách xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo qui định tại Điều 168 BLTTDS năm 2004. Những căn cứ, qui định tại điều này bao gồm: Thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; hết thời hạn thông báo nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp hoặc không đến tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án.

Continue reading →

LẠM PHÁT – DIỄN BIẾN, DỰ BÁO VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐỖ VĂN HUÂN

Lạm phát là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nên được các nhà hoạch định chính sách quan tâm và theo dõi và xử lý – lạm phát còn được người tiêu dùng quan tâm đặc biệt, vì lạm phát thì sức mua của đồng tiền giảm đi, cũng đồng nghĩa với mức tiêu dùng thực tế giảm xuống tương ứng. Chính vì thế, giá tiêu dùng (một biểu hiện của lạm phát) được Tổng cục Thống kê theo dõi và tổng hợp ở các chợ đại diện trên phạm vi cả nước.

Diễn biến và dự báo

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng so với tháng 12/2008 của 6 tháng đầu năm 2009 như trong biểu đồ.

Diễn biến giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2009 có một số đặc điểm đáng lưu ý.

Thứ nhất, giá tiêu dùng đầu năm nay tăng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng tương ứng của cùng kỳ năm trước. Cụ thể:

Tháng 1 tăng 0,32% so với tăng 2,38%; Tháng 2 tăng 1,17% so với tăng 3,56%; Tháng 3 giảm 0,17% so với tăng 2,99%; Tháng 4 tăng 0,35% so với tăng 2,20%; Tháng 5 tăng 0,44% so với tăng 3,91%; Tháng 6 tăng 0,55% so với tăng 2,14%.

Continue reading →

“HẬU LY HÔN VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ”: DƯỚI GÓC NHÌN CỦA HAI NỮ LUẬT SƯ *

LS. TRẦN THỊ PHỤNG

Nhưng cũng có nhiều cặp vợ chồng, với những lý do hết sức… lãng xẹt, chỉ có chút mâu thuẫn không đáng, cũng đòi cho bằng được “Thôi, chia tay nhau từ đây!”. Thế mới biết, khi yêu nhau họ tự động trói đời vào nhau, đến khi hết yêu thì cũng sẵn lòng tự cởi trói cho nhau. Trăn trở trước thực trạng ly hôn nên nói bóng, nói gió như thế, nhưng ai cũng biết, trong lòng mỗi người vợ hoặc chồng, ai mà không canh cánh một nỗi buồn khi chia tay nhau. Đành là thế, thực ra khi không còn cơ hội cứu vãn để mãi là “bạn tốt “ của nhau đến “răng long đầu bạc”, thì ly hôn là một cứu cánh an toàn cho cả hai phía.

Thế nhưng, đằng sau các vụ ly hôn phần lớn lại xuất hiện những bi kịch mới cho thân phận người phụ nữ, với nhiều tổn thương từ tinh thần đến cuộc sống vật chất. Trong khi đối với các quý ông chồng thì sao? “Dường như họ cảm thấy được tháo cũi sổ lồng như chim bay xa giữa đồng xanh quê hương bao la!” Chị T.M một người phụ nữ vừa mới ly hôn với chồng chưa đầy một tháng, đã mỉm cười chua xót nói với tôi như vậy.

Nguyên nhân ly hôn: Tại anh, tại ả!

Chồng chị T.M là giảng viên đại học ở một thành phố miền Trung. Tại phiên tòa giải quyết yêu cầu  thuận tình ly hôn, anh đã  trình bày trước tòa một trong những nguyên nhân khiến hai vợ chồng ly hôn bằng một câu nói gây sốc : “Nhà tôi không có lửa – lửa tình yêu , lửa lòng và cả lửa… bếp !”.

Chị T.M cũng là một giảng viên như chồng, công việc trường lớp đã không cho họ có thời gian dành cho nhau, rồi mâu thuẫn lặng lẽ hình thành trong đời sống gia đình của họ, và không ai chịu mình sai, nên cuối cùng họ đành quyết định đường ai nấy đi. Họ thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng là một ngôi biệt thự đồ sộ trong một khu đô thị mới. Trách nhiệm nuôi bé gái bốn tuổi được thống nhất giao cho người vợ. Sau khi chia tay, anh rời khỏi mái nhà chung, đến sống một mình ở một chung cư cao cấp. Còn chị? Hàng ngày, khoảng sáu giờ sáng chị đưa con đến trường. Đến chín giờ tối đi dạy thêm về, sang nhà bà ngoại đón con gái về nhà, liêu xiêu bóng mẹ, bóng con trải dài trên đoạn đường vắng tanh không người qua lại… Chị M lặng lẽ dừng ngang câu chuyện với tôi rồi khóc thật ngon lành, làm tôi cũng cảm thấy chạnh lòng.

Continue reading →

HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, HỢP NHẤT VÀ MUA LẠI TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

TS. TRỊNH QUỐC TRUNG

Mục tiêu các hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua bán lại (M&A) trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng có thể là để tối đa hóa lợi nhuận, đa dạng hóa và giảm rủi ro cho chủ sở hữu, hoặc gia tăng các lợi ích cho các nhà quản trị, cũng như có thể xuất phát từ mục tiêu của chính phủ nhằm tái cơ cấu lại hệ thống trong các cuộc khủng hoảng. Thực tế hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) ngân hàng và phi ngân hàng tại Việt Nam cho thấy, hoạt động M&A đã từng được thực hiện vào những năm đầu của thập niên 90 của thế kỉ XX sau cuộc đổ bể của các hợp tác xã tín dụng (HTXTD).

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương khác thì trong hoạt động M&A có liên quan đến các TCTD cần phải được thực hiện trong một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, hoàn thiện và có cơ sở khoa học.

1- THỰC TRẠNG M&A HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI

Sau bốn năm liên tục gia tăng, FDI toàn cầu đã tăng khoảng 30% trong năm 2007 đạt mức 1.833 tỉ USD. Mặc dù có các cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng bắt đầu vào nửa đầu 2007 nhưng cả ba nhóm nước chính – các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tại Đông Âu và CIS vẫn tiếp tục gia tăng dòng vốn vào. Tuy nhiên, vốn FDI vào các nước phát triển vẫn đạt 1.248 tỉ USD mà chủ yếu là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Canada và Hà Lan với nguồn vốn chủ yếu đến từ EU (chiếm khoảng 2/3).

Dòng vốn FDI toàn cầu gia tăng mạnh đã có sự đóng góp đáng kể của hoạt động M&A xuyên biên giới. Trong năm 2007, giá trị của các giao dịch M&A đạt 1.637 tỉ USD – cao hơn 21% so với mức kỷ lục trước đó vào năm 2000 (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Giá trị các vụ M&A xuyên biên giới giai đoạn 1998 – 2008 (tỉ USD)

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH BỔ SUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT, GIÁ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng. Xác định giá đất sát với giá thị trường tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được bồi thường bằng đất được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo 1 trong các hình thức:

– Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 – 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi;

– Hỗ trợ bằng 1 suất đất ở hoặc 1 căn hộ chung cư hoặc 1 suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.

Trường hợp người được hỗ trợ có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho 1 khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động. Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề phải lấy ý kiến của người bị thu hồi đất thuộc đối tượng chuyển đổi nghề.

Civillawifor tổng hợp

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; giá đất; giao đất, cho thuê đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và gia hạn sử dụng đất.

Continue reading →

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN: KIỆN NHAU. . . VÌ CÁI ĐUÔI CỨU *

HOÀNG VĂN

Nghi ngờ bị đơn chặt đuôi để lừa bán cừu giống xấu thành cừu giống tốt, nguyên đơn đã kiện ra tòa đòi bồi thường.

Cuối năm 2004, vợ chồng ông T., ngụ phường Cam Lộc, thị xã Cam Ranh (Khánh Hòa) có ý định mua cừu giống về nuôi. Qua giới thiệu, họ được biết ông B. ở phường Ba Ngòi có một bầy cừu 52 con muốn bán. Thế là vợ chồng ông T. đến gặp ông B., thỏa thuận mua bầy cừu này với giá 185 triệu đồng.

Biến cừu xấu thành cừu tốt?

Sau khi mang bầy cừu về nuôi, một hôm tắm cho chúng, vợ chồng ông T. bất ngờ phát hiện trong số 44 con cừu cái giống chỉ có sáu con là giống cụt đuôi (loại tốt, giống cừu thuần chủng của Việt Nam), một con giống dài đuôi (loại xấu), 37 con còn lại đều là giống dài đuôi nhưng đã bị… chặt cụt đuôi!

Nghi ngờ ông B. đã chặt đuôi cừu để lừa bán cừu giống xấu thành cừu giống tốt cho mình, vợ chồng ông T. yêu cầu ông B. trả lại số tiền chênh lệch 38 con cừu giống xấu với giá mỗi con 1,7 triệu đồng, tổng cộng gần 65 triệu đồng. Ông B. không chịu, bảo việc mua bán giữa hai bên diễn ra công khai. Vật mua bán là con cừu nên bên mua có thể quan sát một cách toàn diện. Cái đuôi cừu thì nằm ở bên ngoài, bên mua có thể quan sát, sờ mó được chứ không phải là đặc điểm ẩn giấu bên trong nên “đã mua là phải chịu”.

Mỗi tòa một phán quyết

Không ai chịu ai nên tháng 5-2005, vợ chồng ông T. đã khởi kiện ông B. ra TAND thị xã Cam Ranh.

Continue reading →

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ANH ĐỨC

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời gian qua đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội quan trọng. Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của ta vừa qua cũng còn những tồn tại bất cập. Chính vì vậy, mục tiêu thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta những năm sắp tới được đặt ra là rất cấp bách và quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được trình bày một số tác động của việc gia nhập WTO đến việc thu hút và sử dụng ODA.

Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia được phân định thành nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Đối với nguồn vốn nước ngoài có các hình thức thu hút và sử dụng chủ yếu là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII); Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vay thương mại từ các ngân hàng nước ngoài hoặc từ thị trường tài chính quốc tế…; Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ (NGO);… Mỗi hình thức thu hút và sử dụng vốn nước ngoài đều có bản chất, đặc điểm riêng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Do những đặc điểm của mình, nguồn vốn ODA hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế của các nước kém phát triển (LDCs) rất nhiều, đặc biệt là tác động lan toả của nguồn vốn này khi được đầu tư vào các kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn này cũng đóng vai trò giúp các nước LDCs thoát ra khỏi khủng hoảng, thúc đẩy cải cách, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Continue reading →

VĂN HÓA NƠI PHÁP ĐÌNH

LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH

Văn hóa vật thể pháp đình thường đề cập đến cơ sở vật chất của tòa án, một phần không thể thiếu để tạo nên một nền văn hóa pháp đình Việt Nam mang bản sắc dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển của từng thời đại.

Văn hóa phi vật thể pháp đình thường đề cập đến việc xử lý các mối quan hệ trong tố tụng và và việc ứng xử trong phiên tòa của những người tham gia tố tụng.

Nói về văn hóa vật thể pháp đình chúng ta có thể hình dung ra được những tòa án uy nghi thể hiện tính quyền lực Nhà nước. Trước mỗi tòa án đều có gắn quốc huy, biểu tượng của quốc gia, thể hiện chế độ, hình ảnh đặc trưng của quốc gia đó. Cách bố trí các vị trí của Hội đồng xét xử, công tố (Viện kiểm sát), bồi thẩm đoàn, luật sư của các quốc gia cũng có sự khác nhau. Tòa án Việt Nam bố trí Hội đồng xét xử ngồi giữa, bên trái Hội đồng xét xử là bàn thư ký, bên phải là bàn của Viện kiểm sát, còn bàn luật sư thường được bố trí phía dưới. Với cách bố trí này, vị trí của luật sư dường như không được bình đẳng cho lắm so với Viện kiểm sát. Hiện nay, các tòa án được trùng tu, xây mới khang trang hơn thời kỳ trước. Nhưng các tòa án quận, huyện do cơ sở vật chất thiếu thốn, chẳng hạn bàn, ghế ngồi của luật sư chưa được tốt cho lắm; ghế ngồi cho người tham dự phiên tòa thường thiếu và quá cũ kỹ; hệ thống âm thanh thì không có, đèn bị hư, trần nhà thì mạng nhện giăng đầy như nhà hoang… (nhiều tòa án nhân dân quận, huyện còn lấy phòng xử làm nơi chứa đồ (!)). Chính những yếu tố này đã làm mất đi tính uy nghiêm của chốn pháp đình.

Nói về văn hóa phi vật thể pháp đình còn nhiều sự phức tạp mà ít được quan tâm đến. Chúng ta biết tòa án là nơi tôn nghiêm, tất cả mọi công dân khi đến tòa án phải có ý thức tôn trọng. Nhưng hầu như hiện nay chưa có một quy chế nào cụ thể để qui định từ tác phong, cách ăn mặc… cho người đến chốn pháp đình cả (cho dù họ đến tòa án với bất kỳ tư cách nào). Nhiều khi người đến tham dự phiên tòa ăn mặc không nghiêm túc, lòe loẹt, phản cảm… Nhiều thẩm phán phải cho dừng xét xử để yêu cầu họ “mượn” áo khoác của ai đó để mặc vào. Thiết nghĩ, phần do ý thức của mỗi cá nhân và sự thiếu sót các qui định của pháp luật về vấn đề này đã làm cho chốn pháp đình mất đi tính uy nghi, quyền lực của nó. Ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước theo hệ thống pháp luật của Anh và Mỹ (Common Law) đã chịu ảnh hưởng bởi tính truyền thống lễ nghi phong kiến sâu sắc. Tòa án là nơi tôn nghiêm như nhà thờ. Mọi công dân khi đến tòa án phải bỏ mũ và cuối đầu chào một cách nghiêm túc, không được tỏ cử chỉ khiếm nhã hay đùa cợt. Trong phòng xử án lại càng nghiêm túc hơn, khi tham gia tố tụng với bất kỳ tư cách nào công dân đó phải ăn mặc thật chỉnh tề, không được mang dép kể cả những người dự khán.

Continue reading →

THÔNG TƯ SỐ 161/2009/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CHUYỂN NHƯỢNG, NHẬN THỪA KẾ, NHẬN QUÀ TẶNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

Người nộp thuế thu nhập là người được thụ hưởng bất động sản từ giao dịch;

Tạm thời chưa thu thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân, hộ gia đình có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà khi góp vốn bằng bất động sản để thành lập doanh nghiệp hoặc tăng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi chia lợi nhuậnhoặc chuyển nhượng lại vốn thì cá nhân góp vốn sẽ phải nộp thuế TNCN đối với lợi nhuận hoặc thu nhập có được từ vốn góp.

Các khoản thu nhập từ nhận tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi đất hoặc do tổ chức kinh tế bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được miễn thuế hoặc tạm thời chưa thu. Người chuyển nhượng BĐS nếu có duy nhất một nhà ở, QSDĐ ở thì khi chuyển nhượng phải khia và đề nghị được miễn thuế TNCN và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khai này.

Civillawinfor tổng hợp

* * * * * *

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007;
Căn cứ Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Continue reading →

THÔNG TƯ SỐ 160/2009/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 32/2009/QH12 NGÀY 19/6/2009 CỦA QUỐC HỘI

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12  ngày 21/11/2007;
Căn cứ Điều 4 của Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội điều chỉnh mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu kinh tế, ngân sách Nhà nước, phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ năm 2009 và miễn thuế thu nhập cá nhân năm 2009;
Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu tại công văn số 5048/VPCP-KTTH ngày 27/7/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về thuế thu nhập cá nhân;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân theo Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội như sau:

Điều 1. Đối tượng được miễn thuế thu nhập cá nhân và thời gian miễn thuế thu nhập cá nhân:

1. Đối tượng được miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày 31/12/2009 bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập từ đầu tư vốn; từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại.

Từ ngày 01/01/2010 cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập từ đầu tư vốn; từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.

2. Đối tượng được miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày 30/6/2009 bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh; từ tiền lương, tiền công; từ nhận thừa kế; từ nhận quà tặng.

Từ ngày 01/7/2009 cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh; từ tiền lương, tiền công; từ nhận thừa kế; từ nhận quà tặng nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.

Continue reading →

TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ Ở VIỆT NAM

VŨ THỊ NGỌC HÀ

Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án cần bắt đầu từ thẩm phán, những người đại diện cho công lý, bảo vệ công lý. Thẩm phán phải độc lập trong hoạt động xét xử theo nguyên tắc Hiến định: “…Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử

Nguyên tắc: “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã được đề cập một cách manh nha trong Bộ luật Hồng Đức. Điều 672 Bộ luật này quy định: “Các quan kể trên phải xét xử cho công bằng và đúng pháp luật”. Điều 720 cũng qui định: “Không ai được cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theo”. Tuy nhiên, đấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử độc lập.

Nguyên tắc khi xét xử: Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được qui định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946. Lịch sử phát triển của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 04 bản Hiến pháp được ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy có sự thay đổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc độc lập của các thẩm phán trong hoạt động xét xử đều được qui định trong các bản hiến pháp và các đạo luật khác được ban hành như Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không được can thiệp vào các hoạt động xét xử của tòa án. 

Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã nâng cao trách nhiệm của các thẩm phán, buộc họ nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, không bị lệ thuộc vào những lý do của những người tham gia tố tụng hay những kết luận của Viện Kiểm sát đưa ra.

Continue reading →

CẦN CÓ ĐỊNH CHẾ CHO PHÉP XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ NHƯ LÀ NGUỒN BỔ SUNG LUẬT PHÁP TRONG XÉT XỬ

LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

Án lệ (tiếng pháp là Jurisprudence) được định nghĩa là: “Đường lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trong các trường hợp tương tự”.

Theo luật gia Trần Thúc Linh, cũng là cựu thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ trước ngày giải phóng, trong hệ thống tòa xét xử ở các nước tư bản cũng như của chế độ Sài Gòn trước đây thì: “Sở dĩ có được án lệ là nhờ ở Tòa Thượng thẩm (Cour d’appel) và Tòa Phá án (Cour de cassation) là những cơ quan kiểm soát lại các bản án tòa dưới, tòa phá án bảo đảm một sự thống nhất trong việc giải thích luật pháp vì lâu dần các tòa án sẽ hướng theo các án lệ của Tòa Phá án.”

Trong thế kỷ 20 và hiện nay, trong công tác xét xử và kiểm soát xét xử, các tòa án thuộc hệ thống tư pháp các nước châu Âu đã vận dụng xây dựng án lệ để phục vụ cho việc xét xử được linh hoạt, vừa đảm bảo việc áp dụng luật pháp gắn với thực tiễn cuộc sống mà chỉ có đội ngũ thẩm phán xét xử mới nắm bắt kịp thời các sơ hở, thiếu sót của các văn bản luật pháp, trong khi các nhà lập pháp không có điều kiện để xâm  nhập tìm hiểu thực tiễn, hoặc muốn sửa đổi bổ sung những khiếm khuyết của các văn bản luật cũng đòi hỏi một quá trình tu chỉnh, sửa đổi khá lâu lắc, trong khi thân phận những đối tượng bị điều chỉnh bởi luật pháp lại mang tính tức thời trong các vụ án đang đăng đàn xét xử.

Continue reading →

ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI CHỖ – HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM QUAN TRỌNG TRONG HỘI NHẬP

TS. BÙI THỊ LÝ – Trưởng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức kết hợp giữa lao động trong nước với vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng phát triển mạnh, nên xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức tạo việc làm đang có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, để hoạt động này đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội cao, đòi hỏi phải chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, nhất là cần có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, kể cả các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và bản thân người lao động…

1 – Lợi ích của hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) nói chung thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu là XKLĐ trực tiếp và XKLĐ tại chỗ. XKLĐ trực tiếp là hình thức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc có thời hạn theo các hợp đồng hay các thỏa thuận hợp tác lao động giữa các tổ chức và các quốc gia. XKLĐ tại chỗ là hình thức người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho các doanh nghiệp hay tổ chức nước ngoài hoạt động ngay trên đất nước của người lao động, trong đó chủ yếu là sản xuất, kinh doanh.

Hoạt động XKLĐ trực tiếp của Việt Nam đã thu được những lợi ích to lớn về mặt kinh tế – xã hội, góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong nước. Thực tế nhiều năm thực hiện XKLĐ trực tiếp cho thấy, bên cạnh những mặt lợi, việc đưa người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cũng nảy sinh nhiều tồn tại và bộc lộ nhiều hạn chế, như: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, bỏ ra ngoài làm việc bất hợp pháp, vi phạm luật pháp của nước sở tại, xung đột về văn hóa và nhiều tác động tiêu cực khác…. Việc quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài cũng gặp rất nhiều khó khăn. Do công tác chuẩn bị chưa chu đáo, chặt chẽ, nên rất nhiều trường hợp, trước khi đi XKLĐ, người lao động không được biết rõ công việc mình sẽ làm, không được nghiên cứu kỹ hợp đồng, bị lừa gạt, phải làm những công việc không đúng như các công ty môi giới đã cam kết. Hậu quả là xẩy ra nhiều vụ tranh chấp, kiện tụng ở nước sở tại, gây nên những thiệt hại không chỉ đối với Nhà nước, các doanh nghiệp XKLĐ mà cả người lao động Việt Nam…

Continue reading →

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: MỘT CHỨNG CỨ, HAI CÁCH XỬ

HOÀNG LAM

Cùng loại chứng cứ nhưng các cấp tòa lý giải khác nhau khiến tranh chấp kéo rê nhiều năm.

Năm 2004, bà H. nộp đơn kiện đòi ông bà L. trả gần 90 m2 đất ở quận 8, TP.HCM. Bấy giờ, phía bị đơn cho rằng vào năm 2000, nguyên đơn đã lăn tay vào “bản cam kết ưng thuận” và “bản xác nhận tái sử dụng đất” (có xác nhận của UBND phường) để đồng ý cho họ được sử dụng và hợp thức hóa phần đất trên. Phản đối, nguyên đơn bảo mình không lăn tay vào giấy tờ nào cả. Năm 1988, bà chỉ cho bị đơn cất một căn chòi nhỏ để ở trên 20 m2 đất. Sau đó, bị đơn đã dần dần lấn thêm và mở rộng diện tích lên gần 90 m2, lại còn tự ý đi hợp thức hóa nhà.

Vân tay không thể giám định

Năm 2005, bà H. mất. Các con bà thay mẹ tiếp tục theo đuổi vụ kiện, kéo dài đến nay vẫn chưa xong.

Trong công văn gửi UBND TP.HCM vào năm 2001, Sở Địa chính nhà đất khẳng định nhà đất của ông bà L. đủ điều kiện để được cấp chủ quyền. Căn nhà này tuy có một phần phía sau chưa hợp lệ vì xây dựng trên đất của bà H. nhưng bà H. đã điểm chỉ vào giấy ưng thuận cho họ được hợp thức hóa phần đất này.

Do bà H. phủ nhận dấu vân tay nên để giải quyết vụ án, TAND quận 8 đã quyết định trưng cầu giám định dấu vân tay trong hai văn bản này. Tháng 11-2004, Phân viện Khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận điểm chỉ trong hai văn bản này “bị mờ nhòe, không xác định được dạng chung nên không đủ yếu tố giám định”.

TAND quận 8 quyết định trưng cầu giám định lại. Tháng 7-2005, Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an khẳng định không thể giám định lại. Bởi lẽ các mẫu vân tay dùng để so sánh in mờ nhòe, tờ khai chứng minh nhân dân đứng tên bà H. chỉ in vân ngón trỏ phải và trỏ trái. Trong khi đó, hai dấu vân tay điểm chỉ cần giám định lại không ghi rõ vân ngón nào.

Continue reading →

TRÍ THỨC VÀ NHẬN THỨC PHÁP QUYỀN

B. A. KISTIAKOVSKI * (Phạm Nguyên Trường dịch và chú thích)

Pháp quyền không thể đặt bên cạnh các giá trị về tinh thần như chân lý khoa học, sự tận thiện về đạo đức hay kinh bổn của tôn giáo. Nó chỉ có ý nghĩa tương đối, nội dung của nó một phần nào đó được quyết định bởi những điều kiện kinh tế và xã hội luôn luôn biến đổi. Ý nghĩa tương đối của pháp quyền đã tạo cớ cho một số lý thuyết gia đánh giá nó quá thấp.

Một số người cho rằng pháp luật chỉ có giá trị tối thiểu về đạo đức, một số khác lại cho rằng cưỡng chế, nghĩa là bạo lực, là thành tố không thể tách rời của pháp luật. Nếu đúng là như thế thì chẳng có cơ sở nào để chê trách giới trí thức của chúng ta trong việc coi thường pháp quyền hết. Giới trí thức của chúng ta luôn hướng tới những lý tưởng tuyệt đối và trên đường đi của mình nó có thể bỏ qua cái giá trị thứ cấp này.

Nhưng văn hóa tinh thần bao gồm không chỉ một loại giá trị. Các đặc điểm mang tính hình thức của hoạt động trí tuệ và hoạt động ý chí là thành phần chủ yếu của văn hóa tinh thần. Mà trong các giá trị mang tính hình thức thì pháp luật, một hình thức phát triển hoàn hảo nhất và gần như có thể cảm nhận được một cách cụ thể nhất, đóng vai trò quan trọng nhất. Pháp luật đưa người ta vào khuôn phép nhanh hơn là tư duy lô gich và phương pháp luận hay những biện pháp rèn luyện ý chí một cách có hệ thống khác. Điều quan trọng là, khác với những hệ thống kỷ luật mang tính cá nhân nói trên, pháp luật là hệ thống mang tính xã hội và lại là hệ thống xã hội duy nhất ép người ta vào kỷ luật. Kỷ luật xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ pháp luật; xã hội có kỷ cương và xã hội có trật tự pháp luật phát triển là những khái niệm tương đồng.

Nhìn theo cách đó thì nội dung của pháp quyền đã có một ý nghĩa khác. Nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của pháp quyền chính là tự do. Nói cho ngay, đấy là tự do ngoại tại, tự do tương đối, được quy định bởi môi trường xã hội. Nhưng tự do nội tại, tự do tinh thần, tự do có tính bền vững hơn, lại chỉ có thể hiện hữu khi có sự hiện hữu của tự do ngoại tại, cái sau là trường học tuyệt vời cho cái trước.

Continue reading →