KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VỚI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

TRUNG ĐỨC

Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm đảo lộn nhiều hoạt động kinh tế – xã hội; lao động, việc làm, thu nhập và ổn định đời sống đã trở thành mối quan tâm, lo lắng hàng đầu của toàn nhân loại. Trong bối cảnh này, chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm ở Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp sau chịu những sức ép, chứa đựng nhiều rủi ro, đòi hỏi phải có cách nhìn toàn diện để vượt qua trở ngại nhằm đạt được mục tiêu mong muốn…

Thách thức và vấn đề đặt ra

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, tổ chức Lao động Thế giới (ILO) dự báo, khoảng 51 triệu lao động sẽ mất việc làm. Tại Mỹ, số người thất nghiệp tháng 3/2009 vượt qua 80 vạn; tính đến đầu tháng 5, nước này đã có 6,56 triệu người thất nghiệp. Ở châu Âu, những quốc gia sử dụng đồng euro, tháng 1/2009 có 25 vạn người mất việc. Theo Eurostat, cuối tháng 2/2009, EU có trên 13,3 triệu người thất nghiệp và dự báo thất nghiệp còn tiếp tục gia tăng nếu đà suy thoái kinh tế không dừng. Tình trạng sa thải lao động, ngay cả lao động trình độ cao cũng đứng trước nguy cơ mất việc gia tăng chưa từng có, đã đặt châu Âu ở tình trạng báo động nghiêm trọng nhất so với những lần khủng hoảng trước đây. Tại châu Á, Ấn Độ, nước có tốc độ tăng trưởng hàng đầu, quý IV năm 2008 đã mất đi trên 50 vạn việc làm. Với việc đóng cửa nhiều nhà máy, đến tháng 3 năm 2009, số người thất nghiệp tại Trung Quốc đã vượt qua con số 23 triệu.

Trong xu thế cắt giảm việc làm đang lớn cả về quy mô và địa bàn thì lĩnh vực chịu tác động lớn là xây dựng, sản xuất chế biến và dịch vụ là những ngành được coi là thế mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam. Thực tế ở nhiều nước nguy cơ mất việc khiến người lao động phải trở về nước trước thời hạn là điều khó tránh. Đầu năm 2009, Hàn Quốc, Đài Loan, Malayxia, Quata, Singapore, CH Sec… đã không chỉ ngừng tiếp nhận mà còn tìm mọi lý do để đưa lao động Việt Nam trở về trước hạn.

Continue reading

Kinh nghiệm của Pháp và EU về BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được “chính trị hoá” ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được “ưu ái”, thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

– Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

– Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA PHÁP VÀ EU VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được "chính trị hoá" ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được "ưu ái", thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

– Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

– Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Continue reading

ĐỘT BIẾN RÚT TIỀN GỬI – THÁCH THỨC LỚN TRONG THỜI KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

TS. NGUYỄN THỊ KIM OANH & NGUYỄN THỊ HỒNG NGUYÊN – Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Chi nhánh khu vực Hà Nội

Hơn 4.000 ngân hàng phải đóng cửa trong nửa đầu năm 1933, 61 ngân hàng đóng cửa tính từ 2008 tới 5/2009 ở Mỹ; ngân hàng cho vay tín chấp lớn thứ năm tại Anh (2007), nhiều ngân hàng danh tiếng khác trên thế giới đã trải nghiệm khó khăn và khó khăn đã bị trầm trọng gấp bội, dẫn đến kết cục phải đóng cửa. Đó là những gì mà hiện tượng được đặt tên “đột biến rút tiền gửi” đã góp phần gây nên. “Đột biến rút tiền gửi ngân hàng” có thể hiểu là hiện tượng người gửi tiền ồ ạt rút tiền tại ngân hàng do họ lo sợ rằng, ngân hàng mà mình gửi tiền có thể bị đổ vỡ và tiền gửi của họ có thể bị thiệt hại.

Với tiến trình phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng trên toàn cầu, sự đóng góp lớn lao của kinh doanh ngân hàng cho thịnh vượng của các ngành và nền kinh tế, đồng thời sự “ra đi” của không ít ngân hàng đã gây nên nhiều hệ lụy cho nhiều đối tác, thôi thúc chúng ta tìm hiểu về hiện tượng đột biến rút tiền gửi và mối nguy hại khôn lường của nó.

Đột biến rút tiền gửi

Đột biến rút tiền gửi đầu tiên xuất hiện như một phần của chu kỳ phát triển tín dụng và sự suy thoái sau đó. Từ thế kỷ thứ XVI, đã có hiện tượng đột biến rút tiền khi thợ kim hoàn Anh phát hành kỳ phiếu. Tại Anh, một trong hai cuộc đổ vỡ ngân hàng lớn nhất thế kỷ XIX đã xảy ra tại ngân hàng Overend Gurney (OG) vào thời điểm năm 1865, khi ngân hàng này có báo cáo khoản lỗ 3-4 triệu bảng Anh. Một năm sau đó, một loạt hãng lớn làm ăn với OG bị phá sản, dẫn đến sự khủng hoảng lòng tin của người gửi tiền, giá cổ phiếu bị sụt giảm nghiêm trọng, và cuối cùng OG bị phá sản. Sự kiện này đã kéo theo nhiều ngân hàng, công ty tài chính và doanh nghiệp có liên quan, hoạt động tốt lẫn yếu kém, đều bị đổ vỡ (1).

Continue reading

TÀI SẢN THUỘC SỞ CHUNG: GIAN NAN CHUYỆN CƯỠNG CHẾ

T. HẰNG – H. HẢI

Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định chấp hành viên được quyền cưỡng chế đối với các tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác, kể cả quyền sử dụng đất. Mặc dù vậy, trên thực tế câu chuyện cưỡng chế này không ít gian nan.

Tài sản chung của vợ chồng: kê biên cũng khó.

Theo bản án số 134 ngày 3/2/1999 của TANDTC ngoài việc phải chấp hành hình phạt 9 năm từ giam, Bùi Thị H. phải bồi thường cho ngân hàng nông nghiệp huyện Thanh Miện – Hải Dương số tiền gần 179 triệu đồng. Cả án phí dân sự và hình sự bị cáo này phải nộp là trên 186 triệu đồng. Để đảm bảo cho quá trình THA, Tòa án đã kê biên ngôi nhà mái bằng 3 gian là tài sản của vợ chồng H.

Xác minh điều kiện THA của H, THADS huyện Ân Thi – Hưng Yên xác định: H đang thụ hình trong trại còn chồng của H là anh Ngô Văn T đang phải nuôi 2 con nhỏ, thu nhập chính là làm ruộng nên chỉ đủ ăn, các tài sản khác không có gì. Cuối 2006, H mãn hạn tù về địa phương. Phần dân sự trong bản án chưa được thi hành thì tháng 7/2008 H mất. Khối tài sản tòa đã kê biên anh T vẫn quản lý và sử dụng.

Trước tình huống này, THADS huyện Ân Thi dự kiến kê biên ngôi nhà của vợ chồng H theo biên bản kê biên của Tòa án trước đó để đảm bảo THA. Tuy nhiên, vụ việc này có hai quan điểm khác nhau: Một luồng ý kiến cho rằng, phải thông qua Tòa án để xác định người thừa kế của H, từ đó yêu cầu người thừa kế gánh chịu nghĩa vụ. Quan điểm thứ hai lại cho rằng Tòa đã kê biên ngôi nhà nên tài sản đó do nhà nước quản lý và quyết định. Do vậy, THA cứ theo bản án mà làm.

Continue reading

TÌNH HÌNH TRẢ LƯƠNG QUA TÀI KHOẢN GIAI ĐOẠN 2

PHẠM THỊ ÁNH HÒA – Vụ Thanh toán, NHNNVN

Giai đoạn 1 của việc triển khai trả lương qua tài khoản đã hoàn thành và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Việc triển khai trả lương qua tài khoản đã vượt mức về phạm vi địa bàn (63/63 tỉnh đã triển khai) và chuẩn bị sơ kết vào năm 2009. Để tiếp tục triển khai thực hiện có kết quả giai đoạn 2 Chỉ thị 20 (từ năm 2009), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có công văn chỉ đạo yêu cầu NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT): đặt trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản, phát huy những kinh nghiệm tốt và khắc phục những điểm còn bất cập trong giai đoạn 1 vừa qua.

Giai đoạn 2 đã được triển khai theo hướng tích cực nhưng chặt chẽ và thận trọng, đúng đối tượng và chỉ mở rộng ở những nơi mà TCCUDVTT có khả năng đáp ứng việc trả lương qua tài khoản theo đúng tinh thần Chỉ thị 20 đã nêu. Mặc dù, còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung giai đoạn 2 đã có nhiều chuyển biến tích cực đặc biệt là chất lượng cung ứng dịch vụ. Một số kết quả đã đạt được như sau:

1. Công tác triển khai của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố

Sau 6 tháng đầu năm 2009, triển khai thực hiện giai đoạn 2 Chỉ thị 20, hầu hết các địa phương đã bám sát tình hình thực tế để tổ chức triển khai trên địa bàn của mình. Các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai trong giai đoạn 2. Đồng thời, NHNN cũng đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có công văn chỉ đạo Kho bạc Nhà nước, các Sở, ban, ngành, các cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn phối hợp cùng các TCCUDVTT triển khai trả lương qua tài khoản cho cán bộ, công chức phù hợp với năng lực cung ứng thực tế của các TCCUDVTT trên địa bàn. Bên cạnh đó, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cũng thường xuyên theo dõi đôn đốc, nắm bắt các thông tin, tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai dịch vụ trả lương qua tài khoản theo Chỉ thị 20 trên địa bàn thông qua các báo cáo hàng tháng và theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Continue reading

CHÍNH SÁCH DI CƯ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU: BẢO VỆ NGƯỜI DI CƯ HỢP PHÁP

HOÀNG THƯ

Vài thập niên trở lại đây, cùng với sự dịch chuyển của các dòng tư bản, đầu tư nước ngoài và sự phát triển không ngừng của khoa học – công nghệ, chúng ta chứng kiến những làn sóng di cư, hay là sự dịch chuyển nguồn nhân lực mạnh mẽ trên khắp thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó và Liên minh châu Âu chính là một điểm đến tiềm năng của người di cư Việt Nam. Tuy nhiên, lao động Việt Nam hiện chỉ chiếm một số lượng ít ỏi trên thị trường lao động các nước EU.

Một chính sách di cư toàn diện

Năm 1999, Hội nghị nguyên thủ quốc gia và chính phủ các nước EU tại Tampere (Phần Lan) đã thống nhất yêu cầu phải thiết lập Chính sách di cư chung và Cơ chế cư trú chính trị chung châu Âu. Từ đó, vấn đề di cư và cư trú chính trị được đặt dưới sự quản lý của EU. Trong Chương trình Hague 2004-2009, Cộng đồng chung châu Âu kêu gọi phát triển sâu rộng hơn nữa Chính sách di cư và cư trú chính trị của EU. Tiếp đến, tháng 10/2008, Hiệp ước châu Âu về di cư và cư trú chính trị được Ủy ban châu Âu thông qua. Bằng Hiệp ước này, quan điểm của EU là hướng tới một nhận thức chung cho chính sách quản lý di cư hiệu quả của các nước thành viên EU. Đồng thời khẳng định vị thế và vai trò của người di cư với tư cách là nhân tố phát triển và đối tác.

Hiệp ước khuyến nghị, công dân các nước thứ 3 cần được trang bị những thông tin cần thiết để nắm được yêu cầu, thủ tục về nhập cảnh và cư trú hợp pháp tại các nước EU. Đáng lưu ý, mặc dù cho phép các nước thành viên có thẩm quyền quyết định về phương thức lựa chọn quốc tịch, quyết định số lượng người được phép di cư… nhưng Hiệp ước nhấn mạnh, công dân các nước thứ 3 cư trú hợp pháp trên lãnh thổ các nước thành viên sẽ được đảm bảo đối xử công bằng, có tư cách pháp nhân tương tự như công dân quốc tịch EU.

Continue reading

MỘT DỰ LUẬT NHIỀU KỲ VỌNG

HỒNG PHÚC

Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin vừa được Bộ Tư pháp trình Chính phủ và đang thu thập ý kiến từ các cơ quan, tổ chức. Dự luật này ra đời nhằm thực thi quyền hiến định “được thông tin” của người dân, “bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và góp phần phòng, chống tham nhũng”, như dự thảo nêu.

Thừa quy định, thiếu thông tin

Theo Bộ Tư pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều văn bản quy định về quyền được tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ (thông tin về môi trường, về quy hoạch, xây dựng, đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toàn thực phẩm, chi tiêu ngân sách…).

Tuy nhiên, hệ thống văn bản này còn chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống; chưa có một cơ chế pháp lý cụ thể, đơn giản để bảo đảm thực hiện quyền này một cách có hiệu quả, nên việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn hạn chế.

Hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước cũng như quyền tự do thông tin mang tính nguyên tắc, tính khái quát hơn là tính thực tiễn.

Các quy định về tiếp cận thông tin chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó phụ trách và kết quả là mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin.

Continue reading

DỰ THẢO BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA BỘ TƯ PHÁP

 
Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ Bản thuyết minh chi tiết về các điều, khoản của Dự thảo Luật như sau:

I. Về Chương I – Những quy định chung (gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8 )

– Về Điều 1: Mục đích của Luật

Tương tự như Luật tiếp cận thông tin của nhiều quốc gia trên thế giới, Điều 1 Dự thảo Luật xác định mục đích của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin. Dự thảo Luật xác định hai mục đích chính, cơ bản và quan trọng nhất của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin, đó là (1) bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; và (2) tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Về mục đích bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức: quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, đã có một số luật, pháp lệnh quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin do mình nắm giữ (Luật phòng, chống tham nhũng, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật bảo vệ môi trường, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Luật ngân sách, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định hoặc có quy định nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin; ngoài ra, phạm vi thông tin mà người dân được tiếp cận cũng chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống. Như vậy, trên thực tế, chưa có một cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm bảo đảm quyền được thông tin của người dân được thực thi trong thực tiễn, và vì vậy, việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn nhiều hạn chế.

Continue reading