BÁO CÁO SỐ 45/BC-CP NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

Kính gửi: Uỷ ban thường vụ Quốc hội

A. TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM (VSATTP) TỪ 2004 – 2008

1. VIỆC BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THEO THẨM QUYỀN; BAN HÀNH, ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN, QUY CHUẨN KỸ THUẬT.

1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL ) (Biểu số 1 và số 2)

Trong giai đoạn 5 năm từ 2004 đến 2008, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP theo thẩm quyền đã thực hiện tương đối tốt, với tổng số 134 văn bản, cụ thể:

– Luật: 8

– Pháp lệnh: 2

– Nghị định của Chính phủ: 35

– Quyết định của Chính phủ: 12

– Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: 7

– Thông tư hướng dẫn của các Bộ: 28

– Thông tư liên tịch: 15

– Quyết định của các Bộ: 27

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 45/BC-CP NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

Kính gửi: Uỷ ban thường vụ Quốc hội

A. TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM (VSATTP) TỪ 2004 – 2008

1. VIỆC BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THEO THẨM QUYỀN; BAN HÀNH, ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN, QUY CHUẨN KỸ THUẬT.

1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL ) (Biểu số 1 và số 2)

Trong giai đoạn 5 năm từ 2004 đến 2008, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP theo thẩm quyền đã thực hiện tương đối tốt, với tổng số 134 văn bản, cụ thể:

– Luật: 8

– Pháp lệnh: 2

– Nghị định của Chính phủ: 35

– Quyết định của Chính phủ: 12

– Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: 7

– Thông tư hướng dẫn của các Bộ: 28

– Thông tư liên tịch: 15

– Quyết định của các Bộ: 27

Continue reading

Báo cáo Thẩm tra số 1343/BC-UBXH12 ngày 11 tháng 5 năm 2009 của Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Kính gửi:  Các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban về các vấn đề xã hội thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Để thực hiện nhiệm vụ này, Ủy ban đã làm việc với các bộ, ngành, địa phương, tiến hành các hoạt động giám sát, khảo sát, nghiên cứu, tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về bình đẳng giới…

Ngày 23 tháng 4 năm 2009, tại phiên họp toàn thể lần thứ tám, Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành thẩm tra Báo cáo số 56/BC-CP này 22 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới[1].

Tham dự phiên họp thẩm tra có Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Bộ trưởng Bộ lao động – thương binh và xã hội, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Liên đoàn lao động Việt Nam, đại diện lãnh đạo Ủy ban pháp luật, đại diện Văn phòng Quốc hội và một số cơ quan khác.

Sau đây, Ủy ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số ý kiến của Ủy ban như sau[2] :

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Đây là lần đầu tiên Chính phủ Báo cáo với Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về theo quy định của Luật bình đẳng giới. Uỷ ban hoan nghênh việc nghiêm túc chấp hành của Chính phủ và nhất trí về cơ bản với những đánh giá của Chính phủ đối với việc thực hiện chính sách, mục tiêu bình đẳng giới trong thời gian qua. Theo đó, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và phát triển quyền con người. Kết quả của các nỗ lực này đã được cộng đồng quốc tế nhìn nhận Việt Nam như một “điểm sáng” về việc thực hiện bình đẳng giới, nâng cao quyền con người, xóa đói giảm nghèo… Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hợp quốc cho thấy, Việt Nam hiện có chỉ số phát triển con người (HDI)[3] là 0,733, xếp ở vị trí 105 trong tổng số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 4 bậc so với năm 2006/2007). Với chỉ số phát triển giới (GDI)[4] là 0,732 – bằng 99,9% giá trị của HDI, Việt Nam cũng được Liên hợp quốc đánh giá là nước có nhiều tiến bộ trong cải thiện công bằng giới.

Continue reading

BÁO CÁO THẨM TRA SỐ 1343/BC-UBXH12 NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI – QUỐC HỘI KHÓA XII VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Kính gửi:  Các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban về các vấn đề xã hội thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Để thực hiện nhiệm vụ này, Ủy ban đã làm việc với các bộ, ngành, địa phương, tiến hành các hoạt động giám sát, khảo sát, nghiên cứu, tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về bình đẳng giới…

Ngày 23 tháng 4 năm 2009, tại phiên họp toàn thể lần thứ tám, Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành thẩm tra Báo cáo số 56/BC-CP này 22 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới[1].

Tham dự phiên họp thẩm tra có Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Bộ trưởng Bộ lao động – thương binh và xã hội, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Liên đoàn lao động Việt Nam, đại diện lãnh đạo Ủy ban pháp luật, đại diện Văn phòng Quốc hội và một số cơ quan khác.

Sau đây, Ủy ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số ý kiến của Ủy ban như sau[2] :

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Đây là lần đầu tiên Chính phủ Báo cáo với Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về theo quy định của Luật bình đẳng giới. Uỷ ban hoan nghênh việc nghiêm túc chấp hành của Chính phủ và nhất trí về cơ bản với những đánh giá của Chính phủ đối với việc thực hiện chính sách, mục tiêu bình đẳng giới trong thời gian qua. Theo đó, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và phát triển quyền con người. Kết quả của các nỗ lực này đã được cộng đồng quốc tế nhìn nhận Việt Nam như một “điểm sáng” về việc thực hiện bình đẳng giới, nâng cao quyền con người, xóa đói giảm nghèo… Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hợp quốc cho thấy, Việt Nam hiện có chỉ số phát triển con người (HDI)[3] là 0,733, xếp ở vị trí 105 trong tổng số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 4 bậc so với năm 2006/2007). Với chỉ số phát triển giới (GDI)[4] là 0,732 – bằng 99,9% giá trị của HDI, Việt Nam cũng được Liên hợp quốc đánh giá là nước có nhiều tiến bộ trong cải thiện công bằng giới.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Bản quy định này quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội trên cơ sở Luật Đất đai 2003, các quy định của pháp luật liên quan và các văn bản hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp trên.

2. Các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nếu việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo yêu cầu của nhà tài trợ khác với quy định của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ và được Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hoặc trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Điều ước đó.

Điều 2. Đối tượng áp dụng (Thực hiện Điều 2 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP)

1. Cơ quan, cán bộ công chức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai, về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản lý đất đai, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

2. Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi (sau đây gọi chung là người bị thu hồi đất).

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 17 /2008/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Quy định này quy định về bồi th­ường, hỗ trợ và tái định cư­ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại Điều 36 (trừ điểm đ khoản 1 và điểm b khoản 2) Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP); khoản 3 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (gọi là Nghị định số 17/2006/NĐ-CP) và Điều 33, 34, 35, 38, 39, 40 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP).

2. Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ.

3. Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Quy định này:

a) Cộng đồng dân cư­ xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ;

Continue reading

THỰC TIỄN QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: XIN ĐƯỢC CHẾT . . . ĐÚNG NGÀY, GIỜ TỐT

HOÀNG YẾN

Bị ung thư giai đoạn cuối, xem bói xong, bệnh nhân đã xin chính quyền cho được chết vào đúng ngày giờ tốt để con cháu… hưởng phúc về sau.

Mới đây, ông L.H.A (hơn 70 tuổi, Việt kiều Mỹ, ngụ quận 3, TP.HCM) đã làm đơn gửi chính quyền địa phương nơi ông đang sinh sống để xin… được chết đúng ngày giờ tốt.

Vì phúc đức lâu dài cho con cháu?!

Ông A. trình bày rằng mình đang mang căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, không thể chữa trị. Bác sĩ riêng dự đoán ông chỉ còn sống chừng ba tháng. Qua một thời gian dài làm lụng ở xứ người, hiện ông đã gầy dựng được một cơ ngơi trị giá khoảng 100 triệu USD. Nay ông quay trở về quê cha đất tổ để sống cuối đời. Vừa qua, ông có đi xem tử vi và phong thủy. Thầy tử vi đã chọn được cho ông giờ và ngày đẹp để ra đi. Nếu vĩnh biệt thế gian vào đúng ngày giờ này, con cháu ông sẽ có được phúc đức lâu dài về sau. Tin lời thầy, ông muốn được chết êm ái vào đúng giờ ngày tốt đó vì con cháu.

Tuy nhiên, dự định cuối đời của ông A. đang gặp nhiều khó khăn. Sợ chết đau đớn, ông “nhức đầu” phân vân là nên lựa cách tiêm thuốc hay uống thuốc độc để ra đi được nhẹ nhàng. Đồng thời, ông còn phải sắp xếp làm sao cho việc chết tự nguyện không gây phiền phức cho bất kỳ ai. Trong khi đó, bác sĩ của ông thì từ chối tiêm thuốc, còn những người thấu hiểu tâm tình ông lại không chịu giúp ông mua thuốc độc dù trước đó họ cứ nói “Mua rất dễ”. Quá bức bách, ông đành phải làm đơn xin chính quyền địa phương xác nhận để bác sĩ có điều kiện hợp pháp giúp đỡ ông chết.

Continue reading

Nâng cao trách nhiệm của gia đình và xã hội trong BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM

PGS.TS. CAO DUY HẠ –    Học viện Chính trị-Hành chính QG Hồ Chí Minh

Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc. Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội và của mọi gia đình. Khẩu hiệu “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” đã và đang trở thành phương châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới và của Việt Nam.

Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm. Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta. Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng đau lòng khi nạn bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và cơ sở nuôi dạy trẻ. Một khảo sát vào tháng 3-2006 do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện ở 5 địa điểm: Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình cho thấy có đến 58,3% số trẻ em nói rằng, người lớn dùng các phương pháp quát mắng, chửi, sỉ nhục, đánh tát, phạt úp mặt vào tường… để răn dạy khi các em mắc lỗi, thật là không văn hóa và không có tác dụng giáo dục trẻ thơ. Trong các năm 2006, 2007 và đầu năm 2008, các vụ bạo lực, xâm hại đối với trẻ em được phát hiện và phản ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng không ít, khiến cho xã hội không thể không quan tâm và lo ngại.

Continue reading

NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM

PGS.TS. CAO DUY HẠ -    Học viện Chính trị-Hành chính QG Hồ Chí Minh

Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc. Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội và của mọi gia đình. Khẩu hiệu “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” đã và đang trở thành phương châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới và của Việt Nam.

Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm. Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta. Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng đau lòng khi nạn bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và cơ sở nuôi dạy trẻ. Một khảo sát vào tháng 3-2006 do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện ở 5 địa điểm: Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình cho thấy có đến 58,3% số trẻ em nói rằng, người lớn dùng các phương pháp quát mắng, chửi, sỉ nhục, đánh tát, phạt úp mặt vào tường… để răn dạy khi các em mắc lỗi, thật là không văn hóa và không có tác dụng giáo dục trẻ thơ. Trong các năm 2006, 2007 và đầu năm 2008, các vụ bạo lực, xâm hại đối với trẻ em được phát hiện và phản ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng không ít, khiến cho xã hội không thể không quan tâm và lo ngại.

Continue reading