NGHỊ QUYẾT SỐ 21 – NQ/T.Ư ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÓA X VỀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA X

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðường lối đổi mới của Ðảng đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới cơ bản từ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là chủ yếu  sang nhiều  hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho khai thác tiềm năng trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế – xã hội. Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà  nước  đã  đi  vào  cuộc sống, doanh nghiệp và doanh nhân được tự chủ kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh để phát triển. Quản lý nhà nước về kinh tế được đổi mới từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh chuyển sang quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất. Việc xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai còn nhiều vướng mắc. Vấn đề sở hữu, quản lý và phân phối trong các doanh nghiệp nhà nước chưa giải quyết tốt, gây khó khăn cho sự phát triển và làm thất thoát tài sản nhà nước, nhất là khi tiến hành cổ phần hóa. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác còn bị phân biệt đối xử. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hình thành, phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt.

Continue reading

TÁC QUYỀN, TỪ NHÀ RA NGÕ

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

Nhiều đối tác nước ngoài nghĩ rằng, Việt Nam là một xứ sở lạ kỳ về tác quyền: Làm gì có một môi trường xuất bản mà sách viết chưa xong đã… lên kế hoạch đối phó sách lậu!

Chuyện hài “phá án”

Sau khi phát hiện một số đầu sách best-seller của mình bị in lậu bày bán công khai, nhà xuất bản (NXB) A nóng ruột, tự xắn tay vào cuộc. NXB nọ đã lên kế hoạch tác chiến, cho nhân viên đóng vai, giả dạng tiếp cận đối tượng và kêu cơ quan an ninh đến phục kích “bắt tận tay day tận mặt” một điểm tập kết sách lậu đang chuẩn bị tuồn ra thị trường.

Phi vụ đặc nhiệm này trở nên hy hữu trong làng xuất bản, được nhiều báo chí truyền thông hả hê vỗ tay tán thưởng. NXB A cũng thấy hài lòng, bèn đề xuất cơ quan chức năng thưởng tiền và bằng khen lập chiến công cho những cơ quan an ninh đã hợp tác nhiệt tình. Nhưng chẳng may, tại buổi tôn vinh “thành tích phá án”, các nhà báo đã liên tục đứng lên “làm khó” cơ quan an ninh bằng những câu hỏi như: cơ quan chức năng sẽ xử lý đống sách lậu bắt được như thế nào, có động thái gì liên kết với cơ quan an ninh những địa phương khác phá đường dây một cách triệt để?…

Theo nguồn tin đáng tin cậy, sau buổi tặng thưởng cho chiến công ấy, có vị lãnh đạo trong cơ quan an ninh (được nhận bằng khen) đã quay trở lại “khiển trách” NXB chỉ vì… “đã cung cấp quá nhiều thông tin cho nhà báo, để họ làm khó chúng tôi!”.

Continue reading

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG CÁC GIAO DỊCH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NGUYỄN THỊ HỒNG – Văn phòng Quốc hội

Quyền tiếp cận thông tin là một quyền quan trọng của con người, được đề cập trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. ở nước ta, quyền này của công dân cũng được thừa nhận trong Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật. Tuy nhiên, do được quy định tản mạn trong nhiều văn bản pháp luật nên quyền tiếp cận thông tin của công dân chưa được bảo đảm. Điều này có thể thấy ở nhiều lĩnh vực, trong đó có các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất.

1. Thực trạng quyền tiếp cận thông tin liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất

Có thể nói, trong giao dịch dân sự, các thông tin liên quan trực tiếp như: chủ thể, đối tượng giao dịch, các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản… là cơ sở quan trọng để các bên quyết định có tham gia giao dịch hay không. Trong các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất (QSDĐ), các bên phải (và được) cung cấp những thông tin liên quan đến thửa đất như: đất nằm trong khu quy hoạch nào, vị trí, ranh giới; diện tích; ai là người có QSDĐ; QSDĐ có liên quan tới quan hệ thừa kế, có phải là tài sản bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ nào đó hay không?…

Tuy nhiên, trên thực tế, sự thiếu đồng bộ trong quản lý đất đai, trong ðóng ký, quản lý giao dịch bảo đảm, cũng như sự thiếu minh bạch trong các quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin (của người sử dụng đất và cơ quan quản lý nhà nước), quyền được cung cấp thông tin liên quan đến QSDĐ… dẫn đến việc người dân tiếp cận, tìm hiểu thông tin còn gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn này đến cả từ phía người ðang sử dụng đất và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Continue reading

VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN TRƯỜNG HỢP ĐÃ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NGUYỄN XUÂN

Pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đất đai đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế. Do ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nên có một số mâu thuẫn trong các quy định liên quan đến vấn đề khiếu kiện về đất đai. Tuy nhiên, từ khi Nghị định 181 và Nghị định 84 ra đời, việc phân định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện trong trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ)cơ bản không còn vướng mắc.

Không mâu thuẫn về thẩm quyền giải quyết

Điều 136 Luật Đất đai phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với hai trường hợp có, không có giấy chứng nhận QSDĐ. Nếu đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được giải quyết theo con đường khiếu nại hành chính. Theo quy định này, Tòa án nhân dân chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư khi có phát sinh tranh chấp đất đai với nhau, còn thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan hành chính có thẩm quyền thực hiện.   

Tuy nhiên, đối với việc thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất, Điều 42 Nghị định 181 quy định: Sở Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp; Phòng Tài nguyên và Môi trường thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp. Điều này hoàn toàn phù hợp, vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các trường hợp: cấp đổi; sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các trường hợp tại Điều 38 Luật Đất đai (bắt buộc phải thu hồi đất) thì cơ quan hành chính có thẩm quyền sẽ thu hồi vì được cấp trái pháp luật. Đây là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, không phải là tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức với nhau nên thẩm quyền giải quyết do các cơ quan hành chính thực hiện là hoàn toàn phù hợp, không mâu thuẫn pháp lý hay xung đột thẩm quyền giải quyết.

Continue reading

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (PHẦN 2)

PGS. TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công Thương

Những nỗ lực cải thiện thể chế môi trường kinh doanh được phản ánh qua việc thăng hạng đáng kể thứ bậc môi trường kinh doanh của Việt Nam dựa trên 10 tiêu chí của Công ty tài chính quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng thế giới (WB); Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI theo VCCI và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI…

Tuy nhiên, những nỗ lực cải cách thể chế MTKD như vậy là chưa đủ. So với các nước trong khu vực, thứ bậc về mức độ thuận lợi và dễ dàng trong kinh doanh ở Việt Nam thấp hơn nhiều (như Singapore đứng thứ nhất, Thái Lan 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83…), đòi hỏi Việt Nam cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ trong cải thiện thể chế MTKD để thu hẹp khoảng cách với các nước nhằm nâng cao tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, các doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, đảm bảo sự thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế. (Xin mời các bạn đọc phần 1 bài viết này tại đây – Civillawinfor)

7. Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh (MTKD) trong thời gian tới

a/ Quan điểm hoàn thiện thể chế MTKD trong thời gian tới

– Bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của thể chế MTKD.

– Thể chế MTKD phải phù hợp thực tế phát triển kinh tế đất nước.

– Đảm bảo tính khả thi của thể chế MTKD.

– Thể chế MTKD là hệ thống vận động và phát triển không ngừng.

Tóm lại, không có những thể chế cứng nhắc cố định mãi, để có một thể chế có hiệu lực, tác động có hiệu quả phải th­ờng xuyên điều chỉnh, hoàn thiện bảo đảm phát triển không ngừng, tạo ra sức sống mới cho thể chế MTKD.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 107/BXD-QLN NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC MUA BÁN CÁC DIỆN TÍCH KHÔNG PHẢI LÀ CĂN HỘ ĐỂ Ở TRONG CÁC CÔNG TRÌNH CÓ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỖN HỢP

Kính gửi: Công ty cổ phần xây dựng và phát triển nhà Hoàng Anh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 68/CV-HA.09 ngày 24/6/2009 của Công ty cổ phần xây dựng và phát triển nhà Hoàng Anh đề nghị hướng dẫn một số vấn đề liên quan đến việc mua bán các diện tích không phải là căn hộ để ở trong các công trình xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp và việc cấp giấy chứng nhận đối với các diện tích này. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

1. Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản thì hợp đồng kinh doanh bất động sản phải lập thành văn bản; việc công chứng, chứng thực hợp đồng kinh doanh bất động sản do các bên thoả thuận.

2. Đối với công trình xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp được xây dựng theo dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người mua các diện tích không phải là nhà ở (các diện tích này được cơ quan có thẩm quyền cho phép bán) sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ; thời hạn sở hữu công trình xây dựng là thời hạn đã quy định trong giấy chứng nhận đầu tư công trình đó và được ghi rõ trên giấy chứng nhận.

3. Về đối tượng được mua bán công trình xây dựng thì pháp luật hiện hành chưa có quy định cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu công trình xây dựng mà chỉ cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu công trình xây dựng thông qua hình thức đầu tư xây dựng công trình đó.

Continue reading

VỀ THẨM QUYỀN CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG NHÀ GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

NGUYỄN XUÂN

Hiện nay, có nhiều văn bản quy định thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã và cấp huyện, dẫn đến một số quy định vênh nhau. Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng hiệu lực của văn bản thì thẩm quyền chứng thực các loại hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất và nhà ở không vướng mắc.

Không rối khi chứng thực hợp đồng có nhà và đất

Nghị định 75 về công chứng, chứng thực quy định UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản theo thẩm quyền địa hạt. Như vậy các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản sẽ do UBND huyện chứng thực, UBND xã không có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản nêu trên. Khi Luật Đất đai, Thông tư liên tịch số 04 được ban hành thì lại giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất cho UBND cấp xã và Phòng Công chứng. Tuy nhiên, Điều 174 Bộ luật Dân sự quy định bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó. Quy định này cho thấy, bất động sản không chỉ đất đai mà còn có nhà gắn liền với đất, nên UBND cấp huyện vẫn có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan. Mặt khác, tại Khoản 3, Điều 93 Luật Nhà ở quy định hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn. Điều 11 Luật Nhà ở cũng quy định, Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở được cấp cho chủ sở hữu theo quy định: Trường hợp chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất ở, chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư thì cấp một giấy chứng nhận là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở thì cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, quy định tại khoản này được gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Như vậy, nếu sử dụng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì theo quy định của Luật Nhà ở chắc chắn sẽ có thông tin về quyền sử dụng đất, vì nhà ở luôn gắn liền với đất. Do đó các hợp đồng, giao dịch của người dân liên quan đến quyền sở hữu nhà ở, trong đó có cả quyền sử dụng đất thì UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 18/2009/TT-NHNN NGÀY 14 THÁNG 8 NĂM 2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG MUA, THUÊ MUA NHÀ Ở THU NHẬP THẤP TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ

Căn cứ Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị;
Căn cứ Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định chi tiết việc cho vay của các ngân hàng thương mại đối với các công tác mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp tại khu vực đô thị như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Áp dụng pháp luật

Các ngân hàng thương mại cho vay đối với người được mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp tại khu vực đô thị thực hiện theo các quy định của pháp luật về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, các quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Cho vay đối với người mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp tại khu vực đô thị (sau đây gọi tắt là cho vay đối với người mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp): là việc các ngân hàng thương mại cho vay các đối tượng có thu nhập thấp tại khu vực đô thị, đủ điều kiện được mua, thuê nhà ở thu nhập thấp theo chính sách của nhà nước.

2. Mua nhà ở thu nhập thấp trả góp: Là việc người có thu nhập thấp được mua nhà ở thu nhập thấp và phải trả tiền mua nhà thành nhiều kỳ hạn.

3. Thuê mua nhà ở thu nhập thấp: Là việc người có thu nhập thấp được thuê mua nhà thu nhập thấp theo chính sách và người thuê mua trở thành chủ sở hữu toàn bộ căn nhà sau khi thanh toán hết tiền thuê mua theo hợp đồng thuê mua.

Continue reading