GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

TS. LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật – ĐHQGHN

Nếu như trước đây, quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động chủ yếu do Nhà nước quyết định thì nay, quan hệ này lại chủ yếu do các bên tự thương lượng, thoả thuận để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tính chất của quan hệ lao động có sự thay đổi về chất.

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động. Trong mối quan hệ này, người lao động đem sức lao động của mình làm việc cho người sử dụng lao động và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận. Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Những lợi ích đối lập này giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau. Do vậy, tranh chấp lao động xảy ra là điều dễ nhận thấy. Tranh chấp lao động bao gồm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Tuỳ theo từng loại tranh chấp mà hệ thống cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết được qui định khác nhau.

Theo qui định tại Điều 165 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2006 (BLLĐ đã SĐBS 2006) cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

– Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động

– Toà án nhân dân.

Theo quy định tại điều 166 Bộ luật Lao động (SĐBS 2006) và điểm c khoản 1, Điều 33, khoản 1 Điều 31 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn luật định, khi có đơn yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp. Những tranh chấp lao động cá nhân sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở, có thể yêu cầu Toà án nhân cấp huyện giải quyết (khoản 2 Điều 166 BLLĐSĐBS 2006):

Continue reading

SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT CẠNH TRANH CHÂU ÂU

ĐỨC QUẾ

Luật cạnh tranh Châu Âu có lịch sử ra đời và phát triển sớm hơn so với suy nghĩ của nhiều người. Điểm khởi đầu của sự ra đời là vào những năm 1890 của thế kỷ trước tại Vienna, thủ đô của của Áo, nơi mà vào thời đó được coi là một trong những trung tâm của châu Âu có nền giáo dục cao và hệ thống quản lý hành chính tiến bộ. Tại đây các nhà quản lý đã nhận ra giá trị tiềm năng to lớn của một bộ luật nhằm bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh đang bắt đầu phát triển và rất dễ bị bóp méo và do vậy một dự thảo luật đã được soạn nhằm mục đích này.

Mặc dù dự thảo luật này đã không được thông qua nhưng những nguyên tắc cơ bản của nó đã thu hút được sự chú ý của một nhóm các học giả quan trọng tại Đức nơi và vào những năm 1900 đã không thành công trong một nỗ lực ban hành các quy định về luật cạnh tranh.

Đến giai đoạn những năm 1920 thì những văn bản luật cạnh tranh hiện đại đầu tiên đã được ban hành tại vài nước Châu Âu mà trong đó quan trọng nhất phải kể đến luật cạnh tranh do Đức ban hành. Điều này đã tạo ra những giá trị hết sức có ý nghĩa đối với vấn đề cạnh tranh tại Đức cũng như một số quốc gia khác, và đến cuối thập niên đó thì tại Châu Âu đã bước đầu hình thành và phát triển một hệ thống luật cạnh tranh riêng cho mình. Rất khác so với Luật chống độc quyền của Mỹ ra đời vào khoảng thời gian trước đó (luật chống độc quyền của Mỹ ra đời vào năm 1980 với cái tên Sherman Anti-Trust Act), luật cạnh tranh phát triển tại Châu Âu trú trọng vào việc quy định cho một số cơ quan hành chính một quyền năng can thiệp trong những trường hợp mà ở đó các công ty có hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường. Nhưng thật không may sự suy thoái kinh tế vào những năm 1930 sảy ra ở các nước Châu Âu, chủ nghĩa Phát xít và sau đó là chiến tranh thế giới lần 2 đã quét sạch những quy định luật cạnh tranh đang bắt đầu hình thành và phát triển này.

Continue reading

PHÂN TÍCH NHỮNG ƯU VIỆT TRONG LUẬT CẠNH TRANH IRELAND VÀ KINH NGHIỆM CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

MINH LAN (Tổng hợp)

Như chúng ta đã biết để xây dựng được một bộ luật cạnh tranh đầy đủ thì ngoài việc cần đến sự nghiên cứu, đưa ra ý kiến của các thành viên có trình độ chuyên môn cao thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước cũng là điều vô cùng quan trọng.

Ireland – một trong số ít các nước đã áp dụng phạt hình sự trong Luật cạnh tranh sẽ đưa ra cho các nhà hoạch định, xây dựng luật cạnh tranh nhiều vấn đề cần phải quan tâm.

Ví như, trong Luật cạnh tranh của Ireland ngoài việc áp dụng các mức phạt hành chính đối với các công ty tùy thuộc vào mức độ vi phạm, ở Ireland còn quy định mức phạt đối với các giám đốc, người quản lý hay cán bộ tương đương, cá nhân khác có ý định hành động trên cương vị đó nếu chấp thuận hoặc ra lệnh cho doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị coi là phạm tội và chịu các hình phạt. Đây được xem là một điểm rất tiến độ trong Luật cạnh tranh bởi việc áp dụng khung hình phạt này sẽ góp phần răn đe ban lãnh đạo của các công ty đã vi phạm, thậm chí đang có ý định phải dè chừng. Bởi trong các trường hợp vi phạm, người quyết định các vi phạm chính là ban lãnh đạo còn nhân viên chỉ là những người chấp hành. Tuy nhiên, khi quyết định chỉ áp dụng phạt đối với riêng công ty thì có khả năng công ty sẽ bị phá sản và người chịu thiệt lại chính là nhân viên; còn khi áp dụng mức phạt đối với ban lãnh đạo – những người trực tiếp đưa ra các quyết định sẽ không chỉ có tác dụng phạt đúng đối tượng mà còn khiến họ phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định vi phạm.

Điểm đặc biệt là đối với các cá nhân điều hành công ty bị tình nghi vi phạm có thể bị bắt và giữ để thẩm vấn tới 12 giờ; tùy theo mức độ còn có thể bị phạt tù tối đa 5 năm. Quy định này khắc phục điểm yếu của văn bản pháp luật cạnh tranh ở rất nhiều nước khi không quy định quyền hạn khả thi để thẩm vấn các cá nhân và tăng tính răn đe lên cao hẳn so với các quy định chỉ phạt hành chính.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

VÕ DUY THÁI

Độc quyền hoặc khống chế thị trường là mơ ước của hầu hết các nhà doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đều có ước muốn tồn tại và phát triển mà không phải đương đầu với những cuộc cạnh tranh. Vì vậy lịch sử của các hành vi hạn chế cạnh tranh có một bề dày gần tương đương với lịch sử của kinh tế thị trường. Thông thường người ta chia ra 3 loại hành vi hạn chế cạnh tranh khác nhau là: hành vi thoả thuận, hành vi cản trở và hành vi tập trung.

Như vậy, hành vi thoả thuận là một trong 3 loại hành vi có thể dẫn đến nguy cơ hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thoả thuận phối hợp hành động với nhau (bằng văn bản và không bằng văn bản) giữa các doanh nghiệp độc lập để nâng cao vị thế của mình, cản trở cạnh tranh mà không cần phải có sự nỗ lực trên thị trường. Trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, người ta chia các hành vi thoả thuận ra 2 nhóm: thoả thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc:

Thoả thuận theo chiều ngang: là hình thức cartel để khống chế giá, phân chia thị trường,… hoặc sự thoả thuận phối hợp hành động nào đó trong một thời gian nhất định để cản trở cạnh tranh từ doanh nghiệp khác.

Thoả thuận theo chiều dọc: thoả thuận có thể được thực hiện ở 3 hình thức như định giá, thương lượng giá và các thoả thuận license. Tuỳ theo từng mục tiêu, mức độ, các thoả thuận này có tác động khác nhau, thậm chí một số thoả thuận hoàn toàn có ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế và cho xã hội.

Theo Luật Cạnh tranh của Việt nam (ban hành 2004), thoả thuận cạnh tranh được xác định như sau:

Continue reading

ĐẤU GIÁ TÀI SẢN CÒN NHIỀU VƯỚNG MẮC

DÂN HÙNG

Sau khi có Nghị định 05 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành các văn bản, nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, bảo đảm cho hoạt động bán đấu giá tài sản thực hiện đúng pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động này còn rất nhiều vướng mắc.

Từ khi Nghị định 05 có hiệu lực, hoạt động bán đấu giá tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng ổn định và đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, vẫn có những bất cập gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp, trung tâm bán đấu giá tài sản và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Theo quy định tại Mục 9 Thông tư 03/2005/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 05, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bán đấu giá tài sản tại địa phương, nhưng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản lại do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đăng ký kinh doanh. Vì vậy, việc thanh, kiểm tra về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp bán đấu giá trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn về bán đấu giá hiện nay không quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa Ngành Tư pháp và Kế hoạch – Đầu tư trong việc kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp cũng như cung cấp thông tin về doanh nghiệp bán đấu giá tài sản tại địa phương. Chính vì vậy, cơ quan chuyên môn của UBND thành phố tiến hành thanh tra, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản mà chưa kiểm tra được hoạt động của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 38 Nghị định 05 “ Định kỳ hàng năm, trung tâm và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (nơi Trung tâm, doanh nghiệp đặt trụ sở chính) và Bộ Tư pháp về tổ chức và hoạt động của mình”. Song, thực tế chỉ có Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thực hiện nghiêm túc quy định này; các doanh nghiệp bán đấu giá, khi đăng ký kinh doanh dịch vụ bán đấu giá không nghiên cứu văn bản pháp luật liên quan, không tuân thủ các quy định về báo cáo và cũng không được cơ quan cấp Giấy đăng ký kinh doanh hướng dẫn nên không thực hiện quy định về báo cáo tổ chức và hoạt động.

Continue reading

TỪ CẢI CÁCH TIỆM TIẾN ĐẾN XÂY DỰNG CƠ CHẾ CHẤT LƯỢNG CAO: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

TRẦN VĂN THỌ – Giáo sư  Đại học Waseda và Visiting Scholar Đại học Harvard

Mở đầu

Kinh tế Việt Nam đang đứng truớc một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh tóan quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đọan phát triển sắp tới.

Nếu chúng ta muốn giai đọan sắp tới phải là giai đọan tăng truởng bền vững (sustained growth)[1] thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng truởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay mặc dù đây không phải là tiêu điểm của bài viết.

Bài viết nầy xuất phát từ một số nhận xét, suy nghĩ về hiện thực Việt Nam, về kinh nghiệm các nước và về các gợi ý từ lý thuyết liên quan đến các giai đọan phát triển kinh tế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Việt Nam tăng truởng khá cao trong một thời gian tương đối dài. Thu nhập bình quân đầu người sắp vượt ngưỡng cửa 1000 USD, các chỉ tiêu về đói nghèo đã được cải thiện nhiều. Việt Nam cũng đưa ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp. Thời gian từ khi thực hiện đổi mới thực sự (1989) cho đến nay có thể xem là một giai đọan (trên căn bản thóat khỏi nguy cơ đói nghèo) và từ nay trở đi là một giai đọan khác về chất, giai đọan hướng đến việc phát triển bền vững. Vậy giai đọan khác về chất nầy có nội dung như thế nào?

Continue reading