CẦN CẢNH GIÁC RỦI RO PHÁP LÝ VỀ GIAO DỊCH CHO VAY TIỀN MẶT BẰNG NGOẠI TỆ

LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

Do tâm lý thực tế sợ đổi ra tiền đồng Việt Nam bị mất giá, nên trong giao dịch vay mượn lẫn nhau, một số cá nhân thường dùng ngoại tệ mặt để giao dịch. Những giao dịch như vậy nếu “trót lọt”, hai bên vay mượn giữ chữ tín với nhau thì êm, nhưng nếu xảy ra tranh chấp thì rủi ro sẽ phát sinh hậu quả “mất tiền” (đôi khi khá lớn) đối với bên cho vay.

Điển hình rủi ro pháp lý về sử dụng ngoại tệ mặt cho vay qua vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” mà bản thân người viết đã tham gia với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là thân chủ của mình. Diễn tiến của vụ tranh chấp dân sự này như sau:

Nguyên từ giữa tháng 8 năm 1997, bà S.Diễm, Việt kiều Mỹ, vì muốn giúp đỡ hỗ trợ đứa em của người bạn nối khố tên H.N qua năn nỉ thuyết phục của người bạn này, nên đã cho vay 12.000USD với lãi suất 200USD/tháng và 25 lượng vàng SJC 9999 với lãi suất qui ra tiền đồng là 2%/tháng bằng cam kết vay nợ giấy tay do bên vay viết. Do bên vay, chị H.N quá lình xình, trục trặc trong việc trả lãi và trong suốt thời gian vay chỉ trả được một phần lãi cho phần vốn vay ngoại tệ 12.000USD. Còn phần vốn vay vàng thì hầu như không được trả đồng lãi nào. Và đến ngày 10/6/2008, thì bên vay, chị H.N “tịt ngòi” luôn và bị bà S.Diễm sai cháu ruột mình đi đòi nhiều lần không được gì vì bên vay tránh mặt và khi hiếm hoi gặp được, bên vay còn ra mặt “tráo trở” nói ngang là sắp tới khi có tiền sẽ chi trả vốn từ từ, chứ không trả lãi nữa vì “sạch túi rồi”, mặc dù chị ta mới bán được căn nhà đến 600 lượng vàng SJC 9999.

Continue reading

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DÂN SỐ (NĂM 2009) CHƯA CHO BIẾT TỶ LỆ THẤT NGHIỆP

NGUYỄN VĂN SƠN

Tỷ lệ tăng dân số đáng khích lệ

Rất mừng là tỷ lệ tăng dân số bình quân trong mười năm qua (1999 – 2009) đã giảm một cách đáng kể, từ 1,7%/năm của thời kỳ 1989 – 1999 còn 1,2%/năm (dù mỗi năm dân số tăng gần một triệu người). Tỷ lệ này cho thấy sự tăng trưởng kinh tế có hiệu quả hơn vì GDP đầu người sẽ tăng cao hơn, gánh nặng xã hội sẽ nhẹ hơn.

Riêng về sự chênh lệch giới tính càng ngày càng cao thì “sự tranh đấu” của phái nam khi có vợ càng cao, phái nữ càng có “giá” hơn do khan hiếm. Nếu không có biện pháp hợp lý về kế hoạch hoá gia đình thì chắc trong vòng mười năm tới, thanh niên sẽ phải sang các nước khác để tìm vợ như Trung Quốc, Hàn Quốc… hiện nay.

Nông thôn không đô thị hoá kịp

Tiến về thành thị là một xu hướng tự nhiên của bất cứ nhân dân nào trên thế giới và chính quyền nào cũng lo “o bế” thành thị, đầu tư vào thành thị nhiều tiện nghi cho cuộc sống, sản xuất, kinh doanh, quyền lợi chính trị xã hội, từ đó lại dẫn đến tiếp tục thu hút dân từ nông thôn đến để để kiếm sống, hưởng tiện nghi, để có “tiếng nói” hơn…

Thành thị nào có tỷ lệ đô thị hoá càng cao thì tốc độ tăng trưởng dân số cũng càng cao, như Đông Nam bộ có tỷ lệ đô thị hoá đạt 57,1% thì tốc tăng dân số rất cao: TP.HCM 3,5%/năm, Bình Dương 7,3%/năm.

Sự tập trung dân số cao vào đô thị, đầu tiên sẽ dẫn đến sự “ô nhiễm do mật độ” mà chúng ta đã thấy hiện nay tại các đô thị lớn của Việt Nam như TP.HCM, TP Hà Nội, và một số đô thị loại 1, loại 2, thậm chí loại 3, trong mọi lĩnh vực: kiến trúc, giao thông, thoát nước, thải rác, giáo dục, y tế, các tệ nạn xã hội, giá cả tăng vọt, đời sống khó khăn… Nhà nước sẽ phải tiếp tục đầu tư chỉnh trang, nâng tầng cao, mở rộng đô thị, phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật – xã hội. Sự đổ xô về thành thị trong mười năm gần đây đã khiến nông thôn thiếu lao động, mặc dù giá công lao động tại nông thôn hiện nay nhiều nơi còn cao hơn giá lao động tại thành thị.

Continue reading

VĂN KIỆN NĂM 1991 CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG MỚI

(Thông qua ngày 2.12.1961, được sửa đổi tại Giơnevơ ngày 10.11.1972, 23.10.1978 và 19.3.1991)

Chương I. Các kháI niệm

Điều 1. Trong Văn kiện này:

Các khái niệm

(i) “Công ước này” dùng để chỉ Văn kiện hiện hành (năm 1991) của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới;

(ii) “Văn kiện năm 1961/1972” dùng để chỉ Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới ngày 2.12.1961, được sửa đổi theo Văn kiện ngày10.11.1972;

(iii) “Văn kiện năm 1978” dùng để chỉ Văn kiện ngày 23.10.1978 của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới

(iv) “ Nhà tạo giống ” dùng để chỉ:

– người tạo ra, hoặc phát hiện và cải tạo một giống cây,

– người thuê hoặc trả công cho những người nói trên để tạo ra, phát hiện và

cải tạo một giống cây, nếu luật pháp của các Bên ký kết liên quan quy định như vậy, hoặc

– người thừa kế hợp pháp của người nêu trên đây, tuỳ trường hợp.

(v) “Quyền của nhà tạo giống” dùng để chỉ quyền của nhà tạo giống được quy định trong Công ước này;

(vi) “Giống cây” dùng để chỉ một nhóm cây thuộc duy nhất một cấp phân loại thực vật thấp nhất, bất kể có đáp ứng đầy đủ hay không các điều kiện để công nhận quyền của nhà tạo giống, nhóm cây có thể:

Continue reading

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỔI MỚI QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

PHẠM THÚY HẠNH

Ở tất cả các quốc gia theo chế độ nhà nước pháp quyền, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là tiền đề cho việc hình thành và phát triển hệ thống pháp luật.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế thị trường, việc xác lập và hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật không chỉ đưa hoạt động ban hành văn bản pháp luật vào khuôn khổ quy phạm chung mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn ở Việt Nam và phù hợp với xu hướng phát triển lập pháp quốc tế, cũng như thúc đẩy kinh tế – xã hội của Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn. Bài viết này xin đề cập đến một số khuyến nghị đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong bối cảnh Việt Nam cũng đang tiến hành cải cách lập pháp.

Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần bảo đảm thực hiện nhất quán nguyên tắc Nhà nước pháp quyền trong toàn bộ quy trình từ giai đoạn sáng kiến lập pháp, ban hành theo thẩm quyền và uỷ quyền, soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo trước khi ban hành cho đến ký ban hành, công bố, đăng công báo, kiểm tra, giám sát văn bản sau khi ban hành. Nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đã được khẳng định trong Điều 2 và Điều 12 của Hiến pháp hiện hành và nguyên tắc này phải được thể hiện trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đều tuân thủ nguyên tắc thống nhất của Nhà nước pháp quyền: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Một trong những yêu cầu cơ bản nhất của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định, điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước thấy cần phải có để phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính bắt buộc thực hiện của quy định quy phạm pháp luật, bảo đảm tính công bằng, tính nhất quán và tính ổn định của hệ thống pháp luật.

Continue reading

VĂN KIỆN HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Ký ngày 15.4.1994

Các thành viên, Với mong muốn giảm bớt những lệch lạc và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế, lưu ý tới sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí tuệ, và bảo đảm rằng các biện pháp và thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp;

Thừa nhận rằng để đạt được mục tiêu nói trên cần phải có các quy định và nguyên tắc mới liên quan đến:

a) khả năng áp dụng các nguyên tắc cơ bản của GATT 1994 và của các Thoả ước, Công ước quốc tế thích hợp về sở hữu trí tuệ;

b) việc quy định các tiêu chuẩn và nguyên tắc đầy đủ liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi và việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại;

c) việc quy định các biện pháp hữu hiệu và phù hợp nhằm thực thi các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, có tính đến sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật quốc gia;

d) việc quy định các thủ tục hữu hiệu và nhanh chóng nhằm ngăn ngừa và giải quyết đa phương các tranh chấp giữa các chính phủ; và

e) các quy định chuyển tiếp nhằm đạt được sự tham gia đầy đủ nhất vào kết quả của các cuộc đàm phán;

Thừa nhận sự cần thiết phải có một cơ cấu đa phương các nguyên tắc, quy tắc và trật tự nhằm xử  lý hoạt động thương mại quốc tế liên quan đến hàng giả;

Thừa nhận rằng các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền tư hữu;

Continue reading

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ XÂY DỰNG
CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG

Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2009.

I. Sự cần thiết phải ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai

Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật nhà ở (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006). Theo quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc 2 nhóm đối tượng sau thì được sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

– Nhóm đối tượng thứ nhất: được sở hữu nhà ở tại Việt Nam không hạn chế về số lượng, bao gồm 5 loại đối tượng:người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; người có công đóng góp với đất nước; nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước; người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định;

– Nhóm đối tượng thứ hai: được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam là: những người không thuộc đối tượng nêu tại nhóm thứ nhất mà đã về Việt Nam và được phép cư trú với thời hạn từ 06 tháng trở lên.

Như vậy, theo quy định trên thì có 06 loại đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Có thể nói rằng, Luật nhà ở đã có những quy định thông thoáng và cởi mở hơn cả về đối tượng, điều kiện, hình thức tạo lập nhà ở, cũng như số lượng nhà ở được sở hữu tại Việt Nam so với các quy định trước đây. Tuy nhiên, so với thực tế thì quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở vẫn còn nhiều hạn chế, chưa khuyến khích được nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia cống hiến, xây dựng cho đất nước, đặc biệt là đối với những người vẫn còn quốc tịch Việt Nam và cũng chưa thể chế đầy đủ chủ trương của Đảng nêu tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Continue reading

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số 12/2009/L – CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ.

I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

1. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ:

Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản pháp luật cũng đã được ban hành kịp thời bao gồm 06 Nghị định của Chính phủ, 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 04 Thông tư cùng 04 Quyết định của các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Về cơ bản, đã kế thừa được các giá trị của các văn bản pháp luật được thể nghiệm trong thực tiễn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, gồm người sáng tạo, nhà sử dụng, công chúng hưởng thụ, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia, góp phần quan trọng kết thúc quá trình đàm phán để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Continue reading