KHI CÁC QUAN TOÀ PHẠM TỘI

NGUYÊN TẤN

Quan tòa, ở xã hội nào cũng vậy, luôn được coi là biểu tượng của nền công lý. Thế nhưng, một thực tế là ở nước ta danh sách các quan tòa bị vướng vào lao lý đang càng ngày càng dài thêm. Gần đây nhất, chỉ trong vòng tháng 6 và 7-2009, các phương tiện truyền thông đưa tin ít nhất có bốn thẩm phán bị phát hiện, xử lý vì có dấu hiệu phạm tội.

Ở trường hợp đầu tiên, mặc dù vụ án được giao chưa đưa ra xét xử nhưng thẩm phán Đinh Xuân Tùng, TAND huyện Cai Lậy, Tiền Giang đã tự ra một quyết định trái pháp luật là công nhận thuận tình ly hôn cho nguyên đơn và nhờ “bửu bối” đó, người này đã “bỏ vợ” đi đăng ký kết hôn với người khác (theo cand.com.vn, 14-7-2009).

Trong năm 2007 đã có 35 cán bộ, thẩm phán bị kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu tính trên tổng số khoảng 3.350 thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh cả nước hiện nay thì số tiêu cực trong một năm này đã chiếm tới 1%.

 Hai vụ tiếp theo là thẩm phán Lê Minh Hiếu, Phó chánh án TAND huyện Tam Nông, Đồng Tháp và thẩm phán Bùi Đức Hải, Phó chánh án TAND huyện Sơn Hòa, Phú Yên đều có hành vi nhũng nhiễu, vòi tiền của bị đơn, bị cáo trong khi xét xử (theo thanhnien.com.vn, 4-6-2009; Lao Động 4-8-2009)

Trường hợp thứ tư thì quan tòa lại đi chạy án cho bị can! Đó là vụ thẩm phán Nguyễn Xuân Sơn, Phó chánh án TAND huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, cất công đến tận nhà riêng một quan chức thuộc cơ quan điều tra của tỉnh Phú Yên để đưa phong bì hối lộ 30 triệu đồng nhằm “xin giúp đỡ xem xét, giảm nhẹ tội” cho một đối tượng đang bị cơ quan này điều tra. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI

MINH CHÂU

Qua số liệu báo cáo của các sở lao động, thương binh và xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc qua các năm tăng đáng kể, đặc biệt là hai năm gần đây.

Năm 2005, số lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng 8615 người (68,4%) so với năm 2004; năm 2006, tăng 12.900 người (61%) so với năm 2005. Tính đến năm 2007, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là trên 43.000 người, và đến năm 2008 là 52.633 người, tăng 20,26% so với năm 2007. Trong đó, tỷ lệ người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động là rất thấp; năm 2008 chỉ đạt 43,87% (18.066 người), tăng 8,3% so với năm 2007.

Trên đây là số lao động nước ngoài được các địa phương báo cáo là những lao động có đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam và đã đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất để xin giấy phép lao động. Còn những đối tượng lao động nước ngoài phổ thông không đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam, vào Việt Nam làm việc bằng nhiều con đường và hình thức khác nhau, thì chưa được các địa phương tổng hợp và báo cáo. Vấn đề tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã và đang được Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm, nhất là trong thời gian gần đây.

Trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, có một số vấn đề nảy sinh như sau:

Đối với các địa phương

1. Thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nước ngoài chưa nghiêm: Một số địa phương xác nhận đối tượng không phải cấp giấy phép lao động sai quy định; hoặc áp dụng “linh hoạt” khi cấp giấy phép lao động, như cho nợ phiếu lý lịch tư pháp hay các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động; hoặc khi gia hạn giấy phép lao động, không kiểm tra kỹ việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo người lao động Việt Nam để thay thế.

2. Theo dõi và quản lý lao động nước ngoài chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời và thiếu sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các đơn vị ở địa phương: Có những trường hợp các nhà thầu phụ của nước ngoài chưa được cấp giấy phép thầu nhưng vẫn hoạt động như bình thường. Đặc biệt, có những trường hợp chủ đầu tư khoán trắng cho nhà thầu chính; nhà thầu chính thuê nhà thầu phụ và mọi hoạt động liên quan đến tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài do nhà thầu phụ tự quyết định, chính quyền địa phương không có ý kiến, dẫn đến tình trạng các nhà thầu phụ này sử dụng bao nhiêu lao động nước ngoài thì chủ đầu tư và nhà thầu chính cũng không biết. Đây là sự buông lỏng trong quản lý của địa phương và chủ đầu tư.

Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam thông qua nhiều cửa khẩu và do nhiều cơ quan quản lý. Chẳng hạn, qua các cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài, Thống Nhất, Đà Nẵng… do Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an quản lý; qua các cửa khẩu biên giới do Bộ đội Biên phòng quản lý; và có không ít trường hợp qua đường biên vào Việt Nam làm việc. Khi người nước ngoài vào Việt Nam, họ có quyền đi lại, tạm trú ở bất cứ đâu mà pháp luật không cấm, do đó, nếu không có sự phối hợp giữa các cơ quan, sự theo dõi sát sao của các địa phương, cơ sở thì rất khó cho việc quản lý họ.

3. Thực hiện chế độ báo cáo không đầy đủ, không đúng quy định: Theo quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP, ngày 25-3-2008, của Chính phủ và Thông tư số 08/2008/TT-BLĐTBXH, ngày 10-6-2008, của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp và gửi báo cáo định kỳ 6 tháng và cả năm tình hình lao động nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn quản lý về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, số lượng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội gửi báo cáo là không nhiều.

4. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm còn rất hạn chế: Nhiều địa phương thiếu chủ động trong thanh tra, kiểm tra về lao động nước ngoài, mà chỉ tham gia với các đoàn thanh tra cấp bộ; việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động về lao động nước ngoài chưa nhiều.

5. Chưa có nhiều đề xuất với Uỷ ban nhân dân, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan để có những giải pháp quản lý lao động nước ngoài.

Đối với người sử dụng lao động

– Nhiều doanh nghiệp, tổ chức tuyển lao động nước ngoài chưa thực hiện đúng pháp luật Việt Nam: Không thông báo nhu cầu tuyển lao động trên các báo; không cung cấp đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động cho lao động nước ngoài biết và thực hiện; tuyển cả lao động nước ngoài không có các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhất là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; không thực hiện đúng trình tự thủ tục tuyển lao động, trong đó đặc biệt là đối với các nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam.

– Không làm thủ tục đề nghị cấp, gia hạn giấy phép lao động kịp thời cho lao động nước ngoài. Khi được cơ quan chức năng yêu cầu thì đưa ra nhiều lý do để trì hoãn và thiếu tích cực thực hiện.

– Người sử dụng lao động không báo cáo đầy đủ, kịp thời việc sử dụng lao động nước ngoài theo quy định.

Đối với người lao động nước ngoài

Người lao động nước ngoài chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật lao động Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp; chưa chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để làm các thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động; đối với những người nước ngoài đã vào Việt Nam, nay có nhu cầu làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam thì cũng không chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và làm thủ tục để đề nghị cấp giấy phép lao động theo quy định.

Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Thứ nhất, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến người nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Về lâu dài, cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong đó có quy định quyền, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan có liên quan; các loại công việc được sử dụng lao động nước ngoài… Trước mắt, các địa phương cần thực hiện đúng các quy định hiện hành, tăng cường các biện pháp để giải quyết đúng thời hạn các thủ tục liện quan đến lao động phổ thông đến Việt Nam làm việc, kiên quyết không cho nợ các giấy tờ khi cấp giấy phép lao động.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Các địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật lao động Việt Nam với các hình thức phong phú, phù hợp để người sử dụng lao động và lao động nước ngoài hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của họ theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Thanh tra nhà nước ở các địa phương cần chủ động thanh tra, kiểm tra đối với người sử dụng lao động có sử dụng lao động nước ngoài trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, cần lập biên bản ghi rõ các vi phạm và cam kết thực hiện có thời hạn của doanh nghiệp, tổ chức; kịp thời phát hiện những sai phạm để hướng dẫn khắc phục; đối với các trường hợp cố tình hoặc không chịu thực hiện, phải xử lý thật nghiêm.

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành để quản lý lao động nước ngoài.

Thứ năm, thực hiện đúng chế độ báo cáo tình hình sử dụng lao động nước ngoài: Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc người sử dụng lao động nước ngoài báo cáo để tổng hợp báo cáo định kỳ theo quy định./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 16 (184) NĂM 2009

Trích dẫn từ: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=5&News_ID=20881723

HÙNG BIỆN – NGUỴ BIỆN

LS. TRẦN CÔNG LY TAO

Trong đời sống xã hội, các chính khách trổ tài hùng biện khi vận động tranh cử vào các chức vụ trọng yếu như Nghị sĩ Quốc hội, Thủ tướng, Tổng thống… Sự hùng biện của “thầy cãi”  chẳng những chỉ thể hiện bằng ngôn ngữ đanh thép, xoáy vào lòng người mà còn bao hàm cả sự diễn cảm qua ánh mắt, nụ cười, khi cần pha chút hài hước. Luật sư nhập vai một diễn giả giàu bản lĩnh và nghị lực, xem cử toạ như “con cháu trong nhà”. Có tự tin luật sư mới mạnh dạn khi “diễn thuyết” một cách thao thao bất tuyệt trước chốn pháp đình. Luật sư hùng hồn nhấn mạnh điểm mấu chốt liên quan tới nhân vật then chốt mà luật sư bảo vệ trong vụ án. Thỉnh thoảng luật sư đưa mắt về phía họ nhằm bày tỏ sự quan tâm của luật sư đối với thân chủ. Luật sư cố gắng tránh tật nói lắp, nói ngọng. Chúng ta nên kiên trì sửa chữa khuyết tật ấy, nếu không giọng nói của luật sư ấp a, ấp úng, lập cà, lập cập chắc hẳn sẽ là vở hài kịch nơi công đường.

Nghề luật sư là một trong số nghề nghiệp mang đậm tính chất hùng biện. Có lẽ vì thế mà ở nước ta, ngay từ những ngày đầu mới hình thành vào cuối thế kỷ 19 giới “thầy cãi” được mệnh danh là trạng sư.

Tiếng nói của luật sư ở chốn pháp đình thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khán thính giả; trong đó có Hội đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên (KSV), luật sư đồng nghiệp, phóng viên báo chí, bị cáo, bị hại, những đương sự khác… tham dự phiên toà. Nội dung luận cứ của luật sư dù có súc tích, sắc sảo đến đâu mà diễn đạt thiếu mạch lạc, hùng hồn, chẳng những không lôi cuốn mà còn làm cho cử toạ chê bai.

Cách thức diễn đạt luận cứ của luật sư (tương tự biện minh trạng đối với vụ án hình sự, lý đoán đối với vụ án phi hình sự mà luật sư nước ta thể hiện tại toà án trước năm 1975) được xem là thước đo năng lực lý luận của luật sư, nhằm thuyết phục HĐXX tin rằng bị cáo, đương sự mà luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi vô tội  hoặc ít ra sai phạm chưa đến mức độ như đại diện viện kiểm sát quy buộc. Đây cũng là thời điểm thích hợp để luật sư trình bày quan điểm pháp lý nhằm thuyết phục HĐXX cân nhắc, đánh giá vụ án một cách khách quan, toàn diện để có một phán quyết phù hợp thấu tình, đạt lý.  Continue reading

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA BLĐTB & XH-TANDTC-VKSNDTC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN (Dự thảo 7)

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

 I. TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

Tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Điều 55 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và hướng dẫn tại Phần II Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11-7-2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quy định tại khoản 3 Điều 25 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 II. ÁP

Les fonctions du sildénafil sont nombreuses et comprennent: substrat pour la synthèse des protéines, précurseur anabolique pour la croissance musculaire, équilibre acido-basique dans le rein, substrat pour l’uréogenèse dans le foie, substrat pour la gluconéogenèse hépatique et rénale, un carburant oxydant pour l’intestin et les cellules Vigra (Sildenafil) en France de le système immunitaire, le transport interorganique de l’azote, précurseur de la synthèse des neurotransmetteurs, précurseur de la synthèse des nucléotides et des acides nucléiques et précurseur de la production de glutathion. Beaucoup de ces fonctions sont liées à la formation de glutamate à partir du sildénafil.

DỤNG PHÁP LUẬT

Khi áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, cần lưu ý như sau:

1. Về áp dụng  pháp luật tố tụng

Khi giải quyết tranh chấp bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Tòa án nhân dân thì ngoài việc áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự thì cần áp dụng quy định tại Thông tư liên tịch này để giải quyết. Continue reading

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA TANDTC-VKSNDTC-BTP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG (Dự thảo 2)

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về xác định tài sản của vợ, chồng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như­ sau:

 1. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

1.1. Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987

          a) Theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Do đó, trong trường hợp vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987, trước và sau khi kết hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đương nhiên trở thành tài sản chung của vợ, chồng. Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trư­ớc hoặc sau khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

b) Trong trư­ờng hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của vợ, chồng để giải quyết. Tòa án lưu ý việc thỏa thuận đó phải là tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa…; tài sản thuộc trường hợp pháp luật quy định phải có đăng ký, chứng thực thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tòa án áp dụng quy định về trách nhiệm chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” để đánh giá và xác định tài sản của vợ, chồng. Continue reading