TÓM TẮT TÌNH HÌNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI NĂM 2008

Đây là một cuộc rà soát về việc thực thi các biện pháp cạnh tranh thương mại không bình đẳng và chống bán phá giá toàn cầu. Báo cáo không mang tính chất điểm tin tổng quát mà là tổng hợp lại các vấn đề nổi bật để xem xét, đánh giá một cách không chính thống. Trước khi quyết định hành động về bất kỳ vấn đề gì trong báo cáo này, hãy hỏi ý kiến chuyên gia.

1. Thực trạng bảo hộ thương mại thế giới năm 2008

Xét một cách tổng thể, hoạt động chống bán phá giá duy trì ở mức tương đối ít, mặc dù có chiều hướng tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2008.

Các hoạt động đáng chú ý trong nửa đầu năm 2008 là:

· Theo các số liệu từ WTO, Thổ Nhĩ Kỳ là nước sử dụng các biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất trong nửa đầu năm 2008. Đây là lần đầu tiên Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đầu danh sách các nước sử dụng nhiều các biện pháp chống bán phá giá nhất.

· Tỷ lệ các cuộc điều tra chống bán phá giá nhằm vào Trung Quốc có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Trong 6 tháng đầu năm 2008, 44% các cuộc điều tra chống bán phá giá mới khởi xướng có liên quan tới Trung Quốc

· Số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan tới hàng dệt may và giày da tăng mạnh, phản ảnh một thực tế là giảm các hạn ngạch đối với các mặt hàng này do hết hạn hạn ngạch MFA.

· Hoạt động tự vệ trong thương mại quốc tế ở mức trung bình, mặc dù có 2 trong số 5 vụ điều tra mới khởi xướng tính tới tháng 11/2008 có liên quan tới hàng dệt may.

Continue reading

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN CHẶN BẠO LỰC ĐANG CÓ CHIỀU HƯỚNG GIA TĂNG?

TRẦN BẢO HƯNG

Gần đây hành vi bạo lực đang có chiều hướng gia tăng. Các phương tiện thông tin đại chúng gần như ngày nào cũng phản ánh những tội ác, những hành vi bạo lực dã man xuất phát từ những nguyên nhân hết sức vô lối và vô cớ: Cổ động viên bóng đá khi đội bóng của mình bị thua sẵn sàng la ó, đập phá, gây lộn; thậm chí chống đối cả người thi hành công vụ. Không ít vụ giết người đã xảy ra chỉ vì kẻ giết người nghi nạn nhân nhìn đểu, nhìn khinh miệt mình. Lại có những tội ác do kẻ vừa được cứu giúp sát hại ân nhân, chỉ vì bị trách móc: được cứu mà không có một lời cảm ơn! Đáng buồn nhất là anh em, cha con, vợ chồng… đánh giết nhau vì một chút quyền lợi hoặc do một mâu thuẫn nào đó.

Nguyên nhân trực tiếp khiến cho các hành vi bạo lực không ngừng gia tăng là do công tác giáo dục đạo đức, giáo dục luật pháp của chúng ta còn nhiều yếu kém. Đã thế các biện pháp xử lý, xử phạt lại chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe.

Có một nguyên nhân cũng hết sức quan trọng, đó là sự đảo lộn, tâm trạng bất an của không ít người trong cơ chế thị trường. Nền kinh tế thị trường khiến không ít người phất lên, giàu có, lại có không ít người thua thiệt, cơ nhỡ khó khăn, túng quẫn, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa, khiến rất dễ xảy ra những xung đột xã hội. Rất nhiều người cảm thấy cô đơn, bị bỏ rơi và người ta rất dễ có những hành động bột phát, quá khích, như tâm sự của một nhân vật là “linh hồn” của Câu lạc bộ cổ động viên bóng đá Hải Phòng: “Vì buồn quá không biết làm gì nên tham gia câu lạc bộ cho vui, lại được thể hiện sở thích, tính cách của mình…”. Như thế có thể thấy sự thiếu hụt những sinh hoạt văn hóa, tinh thần trong cộng đồng dân cư (đặc biệt là ở đô thị) cũng là một nguyên nhân dẫn không ít người tới những việc làm lầm lạc.

Continue reading

4 NGUYÊN TẮC GIẢI CỨU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY GIẢM KINH TẾ TOÀN CẦU

NGUYỄN MINH PHONG

Thế giới đang đối diện với ngày càng nhiều cuộc khủng hoảng đủ loại mang tính toàn cầu, liên đới nhiều nước khác nhau, dù là phát triển nhất thế giới hay đang và chậm phát triển. Những nỗ lực giải cứu cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện đang được soạn thảo và bàn cãi trong các nghị trường quốc gia, cũng như trên diễn đàn kinh tế thế giới… Mặc dầu còn chưa rõ ràng và còn cần hoàn thiện thêm, song có thể nhận dạng một số thông điệp và nguyên tắc sau:

Một là, phối hợp hài hoà sử dụng bàn tay Nhà nước và bàn tay thị trường trong một mô hình Nhà nước kiểu mới

Đại suy thoái kinh tế thế giới 1929-1933 đã ghi nhận sự thất bại của học thuyết “tự điều tiết” của trường phái kinh tế học cổ điển cũ và mới với lý thuyết “bàn tay vô hình” của A.Xmit và “cân bằng tổng quát” của L.Uôn-rát (L.Walras); còn cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính thế giới hiện nay đã hạ bệ không thương tiếc “Chủ nghĩa tự do mới” của Ph.A.Hay-éc vốn chủ trương phản đối mọi sự can thiệp của nhà nước đối với sự vận hành tự do của cơ chế thị trường, bởi những rào cản do Nhà nước dựng lên chẳng những ảnh hưởng đến tự do kinh tế mà còn tiềm ẩn những mối đe doạ về chính trị và nó chỉ muốn có một Nhà nước tối thiểu, hay nói đúng hơn, là Nhà nước với quy mô do thị trường định đoạt, vận hành theo yêu cầu của thị trường, các tập đoàn tư bản phải được hoàn toàn tự do; cá nhân phải được coi trọng hơn tập thể; phải kiềm chế các công đoàn…

Tuy nhiên, thực tiễn khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 70 và 80 của thế kỷ XX cũng làm rạn vỡ học thuyết của G.M.Kên-xơ, cũng như những luận thuyết thiên tả đã từng chi phối tư duy chính trị và chính sách kinh tế của đa số quốc gia trên toàn cầu trong nhiều thập niên sau Đại chiến Thế giới thứ hai, cho rằng Nhà nước phải can thiệp trực tiếp sâu vào nền kinh tế để có thể tối đa hoá sản lượng tiềm năng và toàn dụng lao động, giải quyết tận gốc nạn thất nghiệp và tạo động lực mạnh, hiệu quả cao cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước…

Continue reading

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

VÕ ANH TUẤN*

Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hiệp quốc (LHQ) kéo dài 9 năm (1973-1982) đã soạn thảo một công ước quốc tế về luật biển đồ sộ, bao quát tất cả các vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của Biển và Đại dương, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của mọi loại quốc gia (có biển cũng như không có biển, có trình độ phát triển khác nhau) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như những vùng biển thuộc phạm vi quốc tế.

Công ước LHQ về luật biển năm 1982 (UNCLOS) được đánh giá là bộ luật biển hoàn chỉnh nhất từ trước tới nay và là văn kiện pháp lý quốc tế hậu chiến quan trọng nhất sau Hiến chương LHQ. Phần mở đầu Công ước nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Công ước như “một cống hiến quan trọng vào việc gìn giữ hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới”.

Hiện nay các nước đều căn cứ vào UNCLOS để giải quyết bất đồng và tranh chấp về các vùng biển quốc gia cũng như về khai thác đáy Đại dương – “di sản chung của thế giới” (Điều 136).

Về các vùng biển quốc gia

Theo UNCLOS các nước ven biển có quyền quy định:

Đường cơ sở là những đoạn đường thẳng nối liền các “ngấn nước thấp nhất, nhô ra xa nhất” dọc theo bờ biển (Điều 7).

Lãnh hải không quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở. Nước ven biển có chủ quyền quốc gia “được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này” (Điều 2). Như vậy là chấm dứt tình trạng các nước nhỏ và yếu bị ép buộc quy định lãnh hải của mình không quá 3 hải lý.

Vùng tiếp giáp “không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở”. Nuớc ven biển có quyền kiểm soát hải quan, y tế, nhập cư, trừng trị tội phạm (Điều 33).

Vùng đặc quyền kinh tế “không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở”. Nước ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên và sinh vật của vùng nước trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bảo vệ môi trường (Điều 56). Các nước khác được 4 quyền: tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm (Điều 58).

Continue reading

LÃNH ĐẠO DOANH NGHIỆP: CẦN VÀ THIẾU

LAN ANH

Thị trường lao động bậc cao của Việt Nam đã cải thiện rất nhiều trong những năm qua và về cơ bản, nhưng thực tế con số những nhà lãnh đạo chuyên nghiệp vẫn rất thiếu. Các công ty buộc lòng phải trả giá rất cao để “giành giật” người giỏi về với mình

Tại một hội nghị đầu tư gần đây, ông Nguyễn Nam Sơn, giám đốc điều hành ngân hàng đầu tư Việt Nam Capital Partner, cung cấp một thông tin khiến không ít doanh nghiệp đang tìm cơ hội bán và sáp nhập công ty ngạc nhiên: yếu tố quan trọng nhất mà nhà đầu tư nước ngoài xem xét khi quyết định mua cổ phần ở một công ty Việt Nam, là quản trị doanh nghiệp.

Đa số doanh nghiệp Việt Nam, từ những công ty quản lý kiểu gia đình đến những doanh nghiệp nhà nước lớn đều đang gặp một thách thức chung: thiếu đội ngũ quản trị chuyên nghiệp và mô hình quản trị tiên tiến. Thách thức này đang gây một sức ép lớn lên thị trường nhân lực quản trị bậc cao. Việt Nam vẫn thiếu trầm trọng đội ngũ những nhà quản trị có năng lực lãnh đạo, khả năng dẫn dắt và truyền cảm hứng cao. Điều trớ trêu là sự thiếu hụt này đang xảy ra khi chỉ có rất ít doanh nghiệp thực sự nhìn nhận vai trò của quản trị một cách nghiêm túc.

“Có lẽ chỉ có khoảng 1% doanh nghiệp Việt Nam đang thực sự nhìn nhận quản trị như một đề tài quan trọng”, ông Jonathan McGhie, giám đốc vùng phụ trách việc tìm kiếm và lựa chọn lãnh đạo doanh nghiệp của công ty nhân lực Navigos cho biết. “Chỉ cần 10% công ty thực sự coi trọng vấn đề quản trị, mà 10% thực sự không phải là lớn, thì thị trường sẽ gặp rắc rối to về vấn đề nhân lực. Lạm phát lương sẽ tăng vọt”.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ THU HỒI ĐẤT, GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT, CHUYỂN MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THU HỒI ĐẤT, GIAO ĐẤT LÀM NHÀ Ở NÔNG THÔN TẠI ĐIỂM DÂN CƯ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2008/QĐ-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi áp dụng

1. Quy định này áp dụng đối với việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư; thu hồi đất, giao đất, làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội.

2. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp sau:

a. Sử dụng đất phù hợp với quy hoạch được duyệt và đang được xét công nhận quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định hoặc các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép theo quy định của Luật đất đai và Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ.

b. Thu hồi đất đối với tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất.

c. Thu hồi đất đối với trường hợp cá nhân chết mà không có người thừa kế.

d. Thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.

đ. Thu hồi đất đối với trường hợp được Nhà nước giao, cho thuê đất có thời hạn mà không được gia hạn.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐĂNG KÝ BIẾN ĐỘNG VỀ SỬ DỤNG ĐẤT CHO CÁC TỔ CHỨC ĐANG SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND ngày 23 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định này quy định về việc công nhận quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận) và đăng ký biến động về sử dụng đất cho các tổ chức đang sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Trường hợp tổ chức xin công nhận quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đăng ký biến động về sử dụng đất gắn với việc chuyển mục đích sử dụng đất thì thực hiện theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư; thu hồi đất, giao đất làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn Thành phố.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ.

2. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo.

3. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 47/2008/QĐ-UBND NGÀY 09/6/2008 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUYẾT ĐỊNH SỐ 118/2007/QĐ-UBND NGÀY 10/9/2007 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ về phương thức mua, bán căn hộ chung cư hoàn chỉnh và chuyển nhượng nền đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để bố trí tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Kinh doanh bất động sản ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản;
Căn cứ Quyết định số 118/2007/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố về
phương thức mua, bán căn hộ chung cư hoàn chỉnh và chuyển nhượng nền đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính tại Tờ trình số 5259/TTr-STC-BVG ngày 28 tháng 5 năm 2008,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/2007/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố về phương thức mua, bán căn hộ chung cư hoàn chỉnh và chuyển nhượng nền đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố (Có kèm theo văn bản ở bài này – Civillawinfor), như sau:

1. Sửa đổi tiêu đề của Quyết định như sau:

“Về phương thức mua, bán căn hộ chung cư và nhận chuyển nhượng nền đất ở để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố”.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 47/2008/QĐ-UBND NGÀY 09 THÁNG 6 NĂM 2008 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUYẾT ĐỊNH SỐ 118/2007/QĐ-UBND NGÀY 10 THÁNG 9 NĂM 2007 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ PHƯƠNG THỨC MUA, BÁN CĂN HỘ CHUNG CƯ HOÀN CHỈNH VÀ CHUYỂN NHƯỢNG NỀN ĐẤT Ở ĐÃ CÓ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỂ BỐ TRÍ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Kinh doanh bất động sản ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản;
Căn cứ Quyết định số 118/2007/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố về
phương thức mua, bán căn hộ chung cư hoàn chỉnh và chuyển nhượng nền đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính tại Tờ trình số 5259/TTr-STC-BVG ngày 28 tháng 5 năm 2008,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/2007/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố về phương thức mua, bán căn hộ chung cư hoàn chỉnh và chuyển nhượng nền đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố (Có kèm theo văn bản ở bài này – Civillawinfor), như sau:

1. Sửa đổi tiêu đề của Quyết định như sau:

“Về phương thức mua, bán căn hộ chung cư và nhận chuyển nhượng nền đất ở để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố”.

Continue reading