HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – QUẢN LÝ VỐN NƯỚC NƯỚC VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG

CIVILLAWINFOR (Lược trích từ Công văn số 4586/BTC-VP ngày 27 tháng 3 năm 2009 của Bộ Tài chính về việc trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII)

1. Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong thời gian vừa qua được triển khai từng bước vững chắc, theo đúng Nghị quyết của Đảng và quy định của Nhà nước. Mục tiêu của cổ phần hoá là:

– Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

– Nhà nước rút vốn ra khỏi các lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ hoặc không cần chi phối (các thành phần kinh tế khác có khả năng thực hiện) để tập trung vốn đầu tư cho các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế hoặc lĩnh vực các thành phần kinh tế khác không có điều kiện thực hiện đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.

– Đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá hoạt động theo Luật doanh nghiệp, được điều hành bởi Hội đồng quản trị có sự tham gia của các thành phần kinh tế, tạo sự công khai, minh bạch hơn, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên phần vốn góp của minh. Việc kiểm tra, giám sát của các cổ đông nhất là cổ đông là nhà đầu tư chiến lượcvà người lao động trong doanh nghiệp đã có ý nghĩa thiết thực trong đổi mới về phương thức quản lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Continue reading

ĐỔI MỚI BIÊN CHẾ, CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC CHẾ ĐỘ KHÁC CỦA THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN CHO PHÙ HỢP VỚI TRÁCH NHIỆM KHI TĂNG THẨM QUYỀN XÉT XỬ

CIVILLAWINFOR (Lược trích từ Công văn số 51/CV-TA ngày 29 tháng 4 năm 2009 của Tòa án nhân dân tối cao về việc trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII)

1. Vấn đề biên chế của Toà án nhân dân cấp huyện:

Căn cứ vào biên chế được Uỷ ban th­ường vụ Quốc hội giao trong hai năm 2004 và 2005 cho ngành Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao đã phân bổ biên chế cho các Toà án nhân dân địa phương trên cơ sở số l­ượng án phải giải quyết hàng năm, các điều kiện về địa lý, dân cư,… Với số lượng biên chế trước đây, các Toà án nhân dân địa phư­ơng về cơ bản đáp ứng đư­ợc yêu cầu nhiệm vụ đ­ược giao, kể cả đối với việc các Toà án nhân dân cấp huyện thực hiện thẩm quyền xét xử mới theo quy định tại Khoản 1 Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự. Năm 2009, Tòa án nhân dân tối cao đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê duyệt bổ sung hơn 1500 biên chế cho toàn ngành. Căn cứ vào biên chế bổ sung,Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị với các Tòa án nhân dân các tỉnh để nắm bắt tình hình biên chế ở từng đơn vị. Trên cơ sở ý kiến của Toà án nhân dân các tỉnh, Tòa án nhân dân tối cao phân bổ biên chế cho phù hợp với nhu cầu của từng Tòa án địa phương, đặc biệt bổ sung biên chế (là Thẩm phán) cho các Tòa án cấp huyện để đáp ứng tốt hơn việc tăng thẩm quyền xét xử về hình sự và dân sự.

2. Vấn đề l­ương của Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện chư­a phù hợp với vai trò, vị trí, trách nhiệm của Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện nhất là hiện nay Toà án nhân dân được giao thực hiện thẩm quyền xét xử về hình sự và dân sự

Theo quy định hiện nay bảng l­ương của Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện có 9 bậc lương, trong đó bậc khởi điểm (bậc 1) có hệ số là 2,34 và bậc cuối cùng (bậc 9) có hệ số là 4,98 (giống các ngạch chuyên viên). Do đặc thù của ngành nên Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện được hưởng thêm 30% phụ cấp trách nhiệm. Nhưng với qui định về lương như hiện nay nh­ư vậy vẫn bộc lộ những điểm bất hợp lý, cụ thể là:

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 35/2009/QH12 NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 5 VỀ CHỦ TRƯƠNG, ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI MỘT SỐ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM HỌC 2010 – 2011 ĐẾN NĂM HỌC 2014 – 2015

QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Luật tổ chức Quốc hội, Luật giáo dục;
Trên cơ sở xem xét Tờ trình số 89/TTr-CP ngày 20 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ về Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 – 2014; Báo cáo thẩm tra số 717/BC-VHGDTTN ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội; Báo cáo tiếp thu, giải trình số 252/BC-UBTVQH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ

Điều 1. Mục tiêu của việc đổi mới cơ chế tài chính:

Xây dựng một số cơ chế tài chính mới cho giáo dục và đào tạo, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và bảo đảm công bằng trong giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao.

Điều 2. Chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính:

1. Nhà nước bảo đảm vai trò đầu tư chủ yếu cho giáo dục và đào tạo; đồng thời huy động sự đóng góp theo khả năng thực tế của gia đình người học; khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân; tạo điều kiện thuận lợi thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập; hỗ trợ các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập đào tạo nâng cao trình độ giáo viên và cán bộ quản lý.

Continue reading

KHÓ KIỆN KHI NGƯỜI VAY NỢ BỎ TRỐN

XUÂN ĐỒNG

Vay tài sản là một trong những giao dịch phổ biến của người dân trong đời sống xã hội. Pháp luật dân sự có những quy định cụ thể cho việc ký kết các hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân với nhau. Nhưng, thông thường các bên vay nợ chỉ thỏa thuận lập giấy viết tay với nhau và pháp luật dân sự cũng không bắt buộc đối với hợp đồng vay phải được lập thành biên bản; cũng không bắt buộc hợp đồng vay phải được công chứng hay chứng thực… Vì thế, dẫn đến những rắc rối và người cho vay có khi không bảo đảm được quyền lợi của mình.

Trên thực tế, các Tòa án xét xử tranh chấp về hợp đồng vay tiền cũng chỉ căn cứ vào biên nhận nợ và sự thỏa thuận về nội dung vay giữa các bên để làm cơ sở cho việc xét xử và tuyên án. Vì thế, cũng như các vụ án ly hôn, khi đương sự bỏ nơi cư trú, không tìm thấy nơi cư trú của bị đơn thì người yêu cầu ly hôn không thực hiện được quyền ly hôn của mình- trong hợp đồng vay tiền cũng vậy, khi người vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay và bỏ đi khỏi nơi cư trú, người cho vay không còn quyền khởi kiện tại Tòa án và có nguy cơ “mất trắng” số tiền đã cho vay. Điển hình là trường hợp bà Phạm Thị K. ngụ tại số 382, khóm1, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, Đồng Tháp cho vợ chồng ông Cao Văn T. và bà Lượng Thị C. vay số tiền là 38.000.000 đồng bằng biên nhận nợ viết tay giữa bà và vợ chồng ông T. Để tạo lòng tin cho bà K. vợ chồng ông T. đưa cho bà giữ một giấy chứng nhận quyền sử dụng 150 m2 đất như một tài sản thế chấp. Đầu tháng 5.2008, Bà K. khi phát hiện vợ chồng ông T. bỏ nơi cư trú và hiện nay không biết ở đâu vội làm đơn khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông T. thanh toán số tiền vay của mình. TAND huyện Lai Vung không thụ lý hồ sơ và trả lại đơn khởi kiện, vì bà K. không tìm được nơi cư trú của bị đơn. Khi bà K. đến khiếu nại Tòa án nhân dân huyện Lai Vung thì Chánh án cho biết, vụ kiện không thể thụ lý vì không tìm thấy nơi cư trú của bị đơn và theo pháp luật, còn phải bảo đảm quyền được biết bị khởi kiện của bị đơn thì vụ án mới được giải quyết. Do đó, Tòa án chỉ giải quyết khi bị đơn trở về nơi cư trú của mình, hoặc người khởi kiện tìm thấy nơi cư trú mới của bị đơn. Khi đó, Tòa án nơi cư trú mới của bị đơn sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Mặc dù có trong tay tài sản mà vợ chồng ông T. để lại nhưng bà K. không thể sử dụng cũng như chuyển nhượng, vì chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên vợ chồng ông T.

Continue reading

CHÚ TRỌNG NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP

PHAN HỒNG MẪN

Tranh tụng tại phiên tòa là việc Hội đồng xét xử chủ trì để các bên tranh tụng, trong đó chủ yếu Người bào chữa tranh tụng với công tố viên. Trên thực tế, qua các phiên tòa xét xử và qua giám sát của Ban pháp chế HĐND tỉnh Gia Lai cho thấy, lực lượng Người bào chữa còn thiếu và yếu, nhưng chưa được đào tạo, đầu tư đúng mức.

Người bào chữa chưa được quan tâm đúng mức

Theo quy định tại Chương 4, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Người bào chữa có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt. Người bào chữa có thể là Luật sư, Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân… Luật Trợ giúp pháp lý cũng quy định Trợ giúp viên pháp lý được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa… Khoản 3 Điều 57 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: UBMTTQVN, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình. Bộ Luật Tố tụng hình sự còn quy định Người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.Tuy nhiên trên thực tế, trong một thời gian dài chúng ta chưa chú trọng đến việc xây dựng lực lượng Người bào chữa. Các tỉnh miền núi, trong đó có Gia Lai chưa thật sự quan tâm và cũng rất khó khăn trong việc xây dựng 3 lực lượng: Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý, Bào chữa viên nhân dân. Trong khi đó, theo lộ trình đã đề ra, từ ngày 1.7.2009 tất cả các Toà án cấp huyện được tăng thẩm quyền xét xử- Như vậy sẽ không đủ nhân lực để thực hiện nhiệm vụ.

Continue reading