LÒNG DÂN LÀ GỐC, PHÁP LUẬT LÀ TỐI THƯỢNG

NGUYỄN VĂN AN

Dân là gốc, thuộc phạm trù vĩnh viễn. Đảng và Nhà nước thuộc phạm trù lịch sử. Lòng Dân là điểm xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của ý Đảng và pháp luật. Đó cũng chính là một số bài học kinh nghiệm mà nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nhấn mạnh trong phạm vi bài báo này.

Không ai độc quyền chân lý

Như chúng ta thường nói, ý kiến khác nhau là chuyện bình thường, là tự nhiên. Không có ý kiến khác nhau mới là chuyện không bình thường, không tự nhiên. Ý kiến khác nhau không phải bao giờ cũng mâu thuẫn nhau, mà nhiều khi chỉ phản ảnh những góc nhìn và những nhận thức khác nhau.
Trong điều kiện nước ta chỉ do một đảng duy nhất lãnh đạo; Nhà nước ta là Nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân; quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân công, phối hợp, không phân lập;… thì về nguyên tắc quyền lực nhà nước được phân công là không mâu thuẫn nhau, càng không có mâu thuẫn đối lập, đối kháng, mà phải thống nhất với nhau và chỉ có ý kiến khác nhau ban đầu của các cơ quan chức năng được phân công mà thôi.

Chúng ta có thể nêu ra một số trường hợp cụ thể có ý kiến khác nhau lớn giữa Chính phủ (CP) với các cơ quan của QH đã được QH xử lý trong nhiệm kỳ QH khóa XI để phân tích, rút kinh nghiệm. Ví dụ như việc Chính phủ trình QH hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đề nghị đưa xe máy vào danh mục hàng hoá đánh thuế tiêu thụ đặc biệt; đề nghị kéo dài thời gian quản lý số đối tượng nghiện hút thêm 2 năm sau cai nghiện; đề nghị khen thưởng danh hiệu anh hùng mà pháp luật chưa có quy định danh hiệu đó. Lý lẽ của các cơ quan của QH về những vấn đề nêu trên cũng khác nhau và khác với đề nghị của CP.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ÐỀ VỀ QUYỀN TÀI SẢN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Mở đầu
Ðịnh nghĩa của luật theo BLDS Ðiều 188 (BLDS năm 1995, Đ 181 BLDS năm 2005 – Civillawinfor), quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Phần thứ hai của Bộ luật này. Có thể rút ra được gì từ định nghĩa đó ? Rõ ràng, một mặt, quyền tài sản là tài sản; mặt khác, một quyền tài sản phải có đủ hai yếu tố: trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Song, nếu chỉ có chừng đó quy tắc, thì ta có kết luận: các quyền không thể được chuyển nhượng trong giao lưu dân sự, do gắn liền với nhân thân của người có quyền, dù trị giá được bằng tiền (như quyền được cấp dưỡng, quyền hưởng trợ cấp hưu trí,…), không phải là tài sản. Kết luận đó đúng không?

Thực ra, cái gọi là tính chất tài sản của quyền dân sự có các cấp độ khác nhau: đầy đủ, không đầy đủ và không có. Quyền tài sản nói tại Ðiều 188 là quyền có đầy đủ tính chất tài sản. Quyền bầu cử, quyền đi lại, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm không trị giá được bằng tiền và cũng không thể chuyển nhượng, do đó, không có tính chất tài sản, goi là quyền nhận thân. Còn các quyền được thực hiện dưới hình thức thu nhận các lợi ích vật chất, nhưng lại không chuyển nhượng được, thì chỉ có tính chất tài sản không đầy đủ (đúng ra là không hoàn hảo).

Tóm lại, quyền trị giá được bằng tiền là tài sản. Ðiều 188 BLDS chỉ nói về các quyền tài sản được coi như tài sản tự do lưu thông. Ðịnh nghĩa của luật do đó không đầy đủ và phải được bổ sung. Nhưng bổ sung như thế nào?

I. Xác định lại quan niệm về quyền tài sản trong khoa học luật

Tài sản, vật và quyền. Theo nghĩa thông dụng và hầu như không có tính pháp lý, thuật ngữ tài sản dùng để chỉ một vật được con người sử dụng, một vật hữu hình, như cái bàn, cái ghế, chiếc xe máy,… nghĩa là vật mà ta có thể nhận biết bằng giác quan tiếp xúc. Tuy nhiên, không phải vật hữu hình nào cũng là tài sản. Tất cả mọi người đều sử dụng không khí, nhưng cho đến nay, không khí chưa bao giờ được coi là tài sản theo nghĩa của luật dân sự. Suy cho cùng, chỉ có thể được coi là tài sản những vật mà trên vật đó chủ thể của quan hệ pháp luật xác lập được các quyền cho phép khai thác lợi ích vật chất từ vật và lợi ích đó có giá trị tiền tệ. Bởi vậy, ta nói rằng một vật hữu hình là tài sản trong điều kiện nó là đối tượng của các quyền định giá được bằng tiền. Nói cách khác, vật hữu hình trở thành tài sản một khi nó được pháp lý hoá thành các quyền định giá được bằng tiền.

Continue reading

TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Công ty CP nhựa Bình Minh (CP Bình Minh) hoạt động hợp pháp từ năm 1994. ống nước nhựa và phụ kiện mang nhãn hiệu Bình Minh là nhãn hiệu được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 23374 từ ngày 12.12.1996 và đang trong thời gian hiệu lực, được bày bán ở nhiều nơi.

Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ – Sản xuất nhựa ống Bình Minh (TNHH Bình Minh) được cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh ngày 15.2.2008, dù có tên rất dài nhưng tên riêng trùng với nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ.

Do vậy, trên sản phẩm ống nhựa các loại của Công ty CP Bình Minh và Công ty TNHH Bình Minh đều có dấu hiệu Bình Minh. Chính điều đó đã gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng khi mua sản phẩm của hai công ty này. Sản phẩm nào cũng có dấu hiệu Bình Minh, mặc dù là của hai công ty khác nhau trên cùng địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, dấu hiệu Bình Minh đã được Công ty CP Bình Minh đăng ký làm nhãn hiệu từ trước khi Công ty TNHH Bình Minh sử dụng làm tên riêng để đăng ký hoạt động nên Bình Minh thuộc về Công ty CP Bình Minh. Trong khi đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư lại cho rằng Bình Minh thuộc về Công ty TNHH Bình Minh vì đã được cấp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.

Để tránh nhầm lẫn, Công ty CP Bình Minh đã gửi đơn khiếu nại, thuê văn phòng luật sư đấu tranh cho quyền lợi hợp pháp của mình, nhưng đến nay, sự việc vẫn chưa được giải quyết. Vậy trong trường hợp này, việc sử dụng dấu hiệu Bình Minh thuộc về quyền của bên nào?

(Nguồn: Web SGGP online, ngày 9.4.2008; dddn.com, ngày 25.9.2008)

Lời bình

1. Luật SHTT xác định tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh và khu vực kinh doanh. Kết cấu của tên thương mại gồm hai phần: Phần mô tả và phần phân biệt (tên riêng). Để được công nhận là tên thương mại của tổ chức, cá nhân cần phải đáp ứng 3 điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 78 Luật SHTT về khả năng phân biệt. Đó là: 1) Chứa thành phần tên riêng để phân biệt; 2) Không trùng và tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước đó; 3) Không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã sử dụng trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Continue reading

TIÊU CHÍ NÀO NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN?

NGUYỄN NGỌC VINH

Trải qua hơn hai mươi năm hình thành và phát triển, thị trường bất động sản (BĐS) nước ta được đánh giá là rất giàu tiềm năng, nhưng đã qua 3 lần biến động mạnh về giá [1]1, trong suốt thời gian từ cuối năm 2003 đến hết năm 2006 và từ đầu năm 2008 đến nay, sự đóng băng cục bộ trên thị trường nhà, đất đã làm sụt giảm vai trò chiến lược của toàn bộ hệ thống thị trường BĐS. Sự trì trệ của khu vực thị trường này đã gây thất thu lớn cho nguồn ngân sách nhà nước, lãng phí nguồn tài nguyên đất, hạn chế phát triển thị trường vốn và chậm tiến trình hội nhập…

Việc phân tích về những nguyên nhân gây ra sự đóng băng cũng như những giải pháp tháo gỡ luôn được các chuyên gia kinh tế, nhà hoạch định chính sách quan tâm. Trong phạm vi bài viết dưới giác độ người làm công tác nghiên cứu xin đề xuất một số tiêu chí nhằm phát triển bền vững thị trường BĐS trong tương lai, với kỳ vọng thị trường này sẽ phát triển ổn định hơn, góp phần thúc đẩy kinh tế nước ta hội nhập nhanh vào nền kinh tế toàn cầu và phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực.

1. Tại sao cần phải phát triển thị trường bất động sản theo hướng bền vững?

– Tài nguyên đất trong cơ cấu BĐS nói riêng và thị trường BĐS nói chung là tài sản đặc biệt của quốc gia vì tài nguyên đất không chịu tác động quy luật hao mòn vô hình, không thể thay thế được, có diện tích hữu hạn nhưng nhu cầu sử dụng thì vô hạn, sử dụng cho nhiều mục đích và là tài sản có giá trị lớn trong cơ cấu vốn của chủ thể sở hữu hoặc sử dụng nó [2]2. Mặt khác tài nguyên đất gắn liền với các yếu tố chủ quyền, an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia do đó tài nguyên đất luôn được quan tâm và quản lý chặt chẽ bằng các chính sách nhà nước nhằm tạo sự phát triển bền vững vừa thoả mãn nhu cầu của người sử dụng vừa đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng.

– Sự khác biệt của các công trình xây dựng trên đất (tuỳ vào mục đích sử dụng) khi tham gia giao dịch đã tạo ra tính đa dạng hàng hoá của thị trường BĐS như thị trường đất nông nghiệp, đất công nghiệp, nhà xưởng, nhà ở, BĐS dịch vụ, BĐS thương mại… mà chúng ta thường gọi chung là thị trường BĐS. Trong các năm qua thị trường nhà và đất, hai thị trường quan trọng của hệ thống thị trường BĐS phát triển không ổn định, không những làm giảm sút vai trò chiến lược của kinh tế BĐS mà còn chậm phát trong việc an sinh xã hội, do đó mấu chốt cơ bản để giải quyết căn bệnh trầm kha lúc nóng, lúc lạnh nhằm tạo sự ổn định trong tăng trưởng của từng khu vực bằng chiến lược phát triển bền vững thị trường BĐS là việc quan tâm hàng đầu của các chủ thể tham gia thị trường.

Continue reading

CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VỀ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

LÊ VĂN KIỀU  – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Trên thị trường tân dược xuất hiện sản phẩm mang nhãn hiệu Thekan & Hình của Công ty DTH. Ngay sau khi phát hiện trên thị trường xuất hiện loại thuốc mang nhãn hiệu này, Công ty Dược MEDIPLANTEX đã có thông báo, khuyến cáo Công ty DTH về tình trạng thể hiện nhãn hiệu và bao bì mang các chỉ dẫn thương mại trùng với các chỉ dẫn thương mại của MEDIPLANTEX. Tuy nhiên, Công ty DTH không chấp nhận các khuyến cáo này và vẫn cho lưu hành các sản phẩm của mình trên thị trường.

Căn cứ của khuyến cáo trên là do sản phẩm mang nhãn hiệu Thekan & Hình có cách trình bày các chỉ dẫn trên bao bì, kể cả màu sắc và phần hình lá cây Ginkgo cách điệu tương tự với bao bì sản phẩm thuốc Superkan & Hình của Công ty Dược MEDIPLANTEX. Đây là nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ tại Văn bằng số 44906 ngày 20.1.2003 cho nhãn hiệu Superkan & Hình đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: Thuốc và dược phẩm các loại. Nhãn hàng hóa của MEDIPLANTEX đăng ký với Cục quản lý Dược từ ngày 21.10.2001 và được lưu hành từ ngày 25.2.2002. Còn nhãn hàng của Công ty DTH được lưu hành từ năm 2004.

Từ các so sánh trên, cơ quan có thẩm quyền kết luận bao bì 2 sản phẩm được sản xuất bởi hai đơn vị khác nhau nhưng: Về tổng thể cách trình bày dấu hiệu Thekan & Hình trên vỏ hộp thuốc của Công ty DTH tương tự như cách trình bày dấu hiệu Superkan & Hình trên vỏ hộp thuốc của MEDIPLANTEX. Các sản phẩm thuốc mang dấu hiệu Superkan & Hình và Thekan & Hình đều có chỉ định điều trị các chứng bệnh về rối loạn tuần hoàn não và mạch máu ngoại biên như: Suy tuần hoàn não cấp và mạn tính, giảm chú ý tập trung, nhức đầu, giảm trí nhớ, mất trí do xơ cứng động mạch não và các tình trạng xảy ra sau đột qụy, sau chấn thương sọ não, rối loạn tuần hoàn máu và thần kinh tai, thần kinh mắt…

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN

PHẠM DÂN

Khi xét xử có Hội thẩm nhân dân (HTND) tham gia, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán… Đó là những chế định đã được quy định trong Hiến pháp, các bộ luật tố tụng hình sự, dân sự nhằm tăng cường tính dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, công dân. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, hoạt động của HTND còn hình thức.

Là một trong những người tiến hành tố tụng, HTND có vị trí pháp lý khá quan trọng. Số lượng HTND chiếm 2/3 trong thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm; đối với những vụ án phức tạp, tính chất nghiêm trọng, số lượng HTND có thể lên đến 3 người trong tổng số 5 thành viên của Hội đồng xét xử. Như vậy, trong thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm, số lượng HTND bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao hơn so với Thẩm phán. Đây là một lợi thế để các HTND thể hiện “ngang quyền” và “quyết định theo đa số” trên tinh thần dân chủ. Tuy nhiên, phải thẳn thắn nhìn nhận, khi trình độ, điều kiện giữa HTND và Thẩm phán có một khoảng cách quá xa thì việc thực hiện nguyên tắc “ngang quyền” và “quyết định theo đa số” của HTND khi tham gia xét xử cũng chỉ mang tính tượng trưng, hình thức.

Trên thực tế, một thẩm phán phải có trình độ thấp nhất là Cử nhân Luật, được bồi dưỡng tại Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, có thời gian làm công tác pháp luật từ 4 năm trở lên (đối với cấp huyện), từ 6 năm trở lên (đối với cấp tỉnh). Thẩm phán có nhiệm vụ thụ lý hồ sơ vụ án, có quyền tiến hành các hoạt động theo tố tụng như: Ghi lời khai, thu thập chứng cứ và tiếp xúc với các đương sự trong thời gian khá dài… Đó là những điều kiện để đưa ra những quyết định đúng đắn về vụ án. Hầu như tất cả các vụ án trước khi xét xử đã được thẩm phán dự kiến kết quả và định hướng bằng bản thảo bản án. Còn HTND chưa được đào tạo bài bản, chỉ qua một số buổi tập huấn đơn giản nên khó có đủ điều kiện đánh giá hết các chứng cứ trong hồ sơ để có quyết định đúng đắn về vụ án. Trong thực tế, rất ít HTND nghiên cứu hồ sơ trong thời gian 3 ngày trước khi xét xử theo quy định. Mặt khác, quy định chế độ nghiên cứu hồ sơ cũng là sự đánh đố các HTND, nhất là đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp như án dân sự về tranh chấp đất đai, thừa kế; án hình sự có nhiều bị cáo tham gia, hồ sơ dày đến hàng trăm bút lục…

Continue reading

BAN HÀNH LUẬT VỀ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC LÀ CẤP BÁCH

GS. TS. NGUYỄN VÂN NAM

Trước hết cần hiểu chính xác công ty độc quyền và công ty có vị trí thống lĩnh thị trường (TLTT). Theo Điều 11 Luật Cạnh Tranh (LCT), „doanh nghiệp được coi là có vị trí TLTT nếu có thị phần từ 30%…“. Điều 12 LCT: „Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.“ Khi „Nhà nước không cho phép bất kỳ một công ty tư nhân nào cạnh tranh“ thì đó là độc quyền Nhà nước (ĐQNN). Vì vậy khái niệm ĐQNN không phải là khái niệm „để chỉ các công ty có vị trí thống lĩnh hoặc sức mạnh thị trường nhờ các hạn chế về cạnh tranh do Nhà nước tạo ra“.

Doanh nghiệp độc quyền là một trường hợp đặc biệt của doanh nghiệp có vị trí TLTT. Thêm vào đó, độc quyền tự nhiên- độc quyền có được bằng quá trình phát triển, cạnh tranh hợp pháp của doanh nghiệp chứ không phải bằng các biện pháp của Nhà nước- ngày nay hầu như không tồn tại trong thực tiễn kinh doanh (chống hình thành các công ty độc quyền cũng là mục tiêu của Luật chống hạn chế CT), nên EU và Luật chống hạn chế cạnh tranh (CHCCT) của các nước phát triển không còn dùng khái niệm độc quyền, mà chỉ dùng „có vị trí thống lĩnh thị trường“. Do đó thường không có qui định về độc quyền trong luật CHCCT. Độc quyền ngày nay chỉ có thể là ĐQNN, là ngoại lệ đặc biệt và vì vậy nó phải được kiểm soát một cách đặc biệt. Cũng nên phân biệt rõ giữa doanh nghiệp ĐQNN, doanh nghiệp do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ, doanh nghiệp do Nhà nước nắm vốn có quyền chi phối; cũng như lãnh vực do Nhà nước nắm độc quyền. Không thể nói „19 lĩnh vực do NN nắm giữ 100% vốn điều lệ là những ngành, lĩnh vực độc quyền nhà nước“.

Vừa là doanh nghiệp hoạt động trên thị trường, doanh nghiệp ĐQNN dĩ nhiên phải tuân thủ Luật CT (bao gồm Luật CHCCT và Luật CCTKLM). Nhưng là một ngoại lệ đặc biệt do NN tạo ra, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp này không lọt vào phạm vi kiểm soát, điều chỉnh của Luật CT. Chẳng hạn:

Continue reading

CƠ CHẾ KHIẾU NẠI TRỰC TIẾP CỦA NẠN NHÂN TRONG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM BẮT BUỘC: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN TIẾN HÙNG

Chế độ bảo hiểm bắt buộc trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại

Thị trường bảo hiểm là nơi gặp nhau giữa một bên là những người có nhu cầu đảm bảo cho các rủi ro mà họ có thể gặp trong quá trình sinh hoạt, sản xuất với một bên là các doanh nghiệp bảo hiểm – người cung cấp loại hình dịch vu tài chính đặc biệt này. Về nguyên tắc, mối quan hệ này diễn ra trên cơ sở thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện của hai bên. Thế nhưng, trong lĩnh vực bảo hiểm thuơng mại, người ta ngày càng thấy nhiều hơn những loại hình bảo hiểm bắt buộc, đặc biệt, là những loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS), với toàn bộ các nội dung của hợp đồng bảo hiểm là do pháp luật quy định.

Chế độ bảo hiểm bắt buộc trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại xuất hiện đầu tiên và rất sớm ở các nước châu Âu. Ví dụ: Loại hình bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới bị bắt buộc đầu tiên ở Anh từ năm 1930. Đến nay, trên thế giới, có đến hơn 90 loại hình hoạt động nghề nghiệp mà người thực hiện nó bắt buộc phải mua bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệp của mình. Phân tích danh mục các hoạt động đó, chúng ta có thể nhận thấy có ba nhóm chính sau:

– Những hoạt động mà chỉ những sơ suất cá nhân nhỏ, đơn giản có thể dẫn đến những thiệt hại về con người trầm trọng. Vi dụ: sử dụng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ, hoạt động săn bắn, hoạt động điều trị y tế,…

– Những hoạt động dịch vụ, sản xuất có nguy cơ gây ra tổn thất cho nhiều nạn nhân trong cùng sự cố. Ví dụ: kinh doanh vận chuyển hành khách, tổ chức thi đấu, biểu diễn thể thao nguy hiểm, hoạt động khai thác đường ống dẫn khí đốt – nhiên liệu,…

– Những hoạt động cung cấp “dịch vụ trí tuệ” có thể gây thiệt hại lớn về tài chính. Ví dụ: tư vấn thiết kế, giám sát thi công xây lắp, kiểm toán, tư vấn luật,…

Continue reading

YÊU NƯỚC VÀ NHÀ NƯỚC

HUY ĐỨC

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là để “nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước”. Không chỉ “đẩy mạnh công tác tuyên truyền”, thật cần thiết khi Bộ Chính trị nhấn mạnh rằng, phải “rà soát, bổ sung luật pháp và cơ chế…” Lòng yêu nước trong mỗi người dân có thể tồn tại vô điều kiện, nhưng muốn giá trị mà người dân chưa bao giờ toan tính ấy có thể tập hợp thành sức mạnh quốc gia thì ứng xử của nhà nước lại đóng vai trò quyết định.

“Ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một mục tiêu chừng mực. Bởi ngoài lợi ích quốc gia, người dân còn phải cân nhắc cho gia đình mình từng chi phí. Người dân không thể tiếp tục “chi tiêu lòng yêu nước” cho những món hàng kém chất lượng mà lại đắt hơn. Vấn đề là trong khuôn khổ các cam kết ở WTO, Nhà nước phải làm hết trách nhiệm của mình để hàng Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng nước ngoài, trên “sân nhà”, với cùng điều kiện.

Mặt hàng trái cây, rau quả, nhập về trong thời gian qua vẫn tăng. Các vựa lớn ở các chợ đầu mối TP.HCM thường nhập mỗi lần hàng chục tấn trái cây Trung Quốc. Theo các chủ vựa: “Các cửa hàng bán lẻ chuộng trái cây Trung Quốc vì chúng có thể để cả chục ngày sau vẫn còn tươi nguyên, thậm chí để gần cả tháng vẫn cứ tươi roi rói”. Trong khi đó, cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã từng phát hiện trong mẫu táo, lê của Trung Quốc dư lượng hoá chất bảo quản lên tới 45,8%; chưa kể trong 24 mẫu táo, lê Trung Quốc kiểm nghiệm, có đến 75% số mẫu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Thế nhưng, trong khi trái cây Trung Quốc cứ “tươi rói” khắp các chợ Việt Nam thì lúc nào cũng có thể nhìn thấy từng đoàn xe chở trái cây từ Việt Nam bị chặn lại trước từng cửa khẩu. Năm loại trái cây: dưa hấu, nhãn, vải, chuối và thanh long khi xuất sang Trung Quốc buộc phải kê khai nguồn gốc (nơi trồng và đóng gói). Đây là một thoả thuận song phương, và cần thiết, nhưng nếu xếp trong thứ tự ưu tiên thì nó chỉ có giá trị “hàng rào” ngăn phía Việt Nam vì phần lớn trái cây Trung Quốc từ lâu đã được “đóng gói” và “ghi xuất xứ”. Một “hàng rào” kỹ thuật về kiểm nghiệm gắt gao lượng hoá chất sử dụng trong trái cây nhập lẽ ra phải được sớm đặt ra, bởi nó không chỉ “bình đẳng” với trái cây Việt Nam mà còn bảo vệ sức khoẻ cho người dân Việt.

Continue reading

NỢ VÀ VẤN ĐỀ PHÁ SẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

Một cấu trúc vốn thâm dụng nợ có thể là một cấu trúc vốn hướng tới mục tiêu tối đa hoá giá trị DN nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Một khi sử dụng nợ không dựa trên những phân tích phù hợp với chu kỳ sống, đặc điểm công ty….cộng với đầu tư vào những dự án kém hiệu quả thì có khả năng DN bị phá sản. Một DN khi đã có đầy đủ dấu hiệu của phá sản thiết nghĩ cũng nên nhanh chóng xử lý theo luật, nhằm hạn chế những tổn thất rủi ro cho các nhà đầu tư vào DN, hạn chế những tác đông xấu mang tính phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế

1. Nợ, cấu trúc vốn và vấn đề phá sản của DN

Trên thực tế sử dụng nợ không những đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của DN mà đối với quản trị tài chính DN thì đây còn là một vấn đề mang tính “nghệ thuật” trong việc họach định cấu trúc vốn nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hoá giá trị DN với những phân tích để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế . Theo lý thuyết về cấu trúc vốn của MM, một DN nên gia tăng nợ cho đến khi giá trị từ hiện giá của tấm chắn thuế vừa đủ để dược bù trừ bằng gia tăng trong hiện giá của các chi phí kiệt quệ tài chính. Đôi khi kiệt quệ tài chính có thể đưa đến tình trạng phá sản, nhưng đôi khi nó chỉ có nghĩa là công ty đang gặp khó khăn, rắc rối về tài chính tạm thời. Ở các mức nợ trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính không đáng kể, và chi phí kiệt quệ tài chính khá nhỏ làm cho lợi thế của tấm chắn thuế trở nên vượt trội. Nhưng tại một thời điểm nào đó, kiệt quệ tài chính sẽ tăng nhanh với việc doanh nghiệp vay nợ thêm; chi phí kiệt quệ tài chính cũng lớn lên nhanh chóng, làm cho lợi ích thu được từ tấm chắn thuế của vay nợ giảm đi và cuối cùng biến mất. Khi một DN sử dụng nợ cũng đồng nghĩa với những rủi ro về tài chính. Một DN có tỷ lệ nợ cao đôi khi rơi vào tình trạng “thiếu tự tin”, thận trọng quá mức khi thực hiện quyết định đầu tư, dễ bỏ qua những cơ hội đầu tư tốt, đi ngược lại tiêu chí tối đa hoá giá trị DN. Một vấn đề khác của DN khi sử dụng cấu trúc vốn thâm dụng nợ đó chính là tình trạng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư không vì mục tiêu tối đa hoá giá trị DN, hậu quả tất yếu là DN sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng khó khăn trong thực hiện các nghĩa vụ nợ.

Continue reading

Ý KIẾN: CHÓ VÀ LUẬT

CAO TỰ THANH

Từ cuối thế kỷ XIX, trong việc quản lý đô thị ở Sài Gòn, chính quyền thuộc địa Pháp đã để ý tới việc nuôi chó của người dân. Vài tư liệu dưới đây tuy chưa đầy đủ nhưng cũng có thể cho người ta một ý niệm về cung cách làm việc của họ.

Gia Định báo ngày 7-4-1882, mục Công vụ có đăng một nghị định của Toàn quyền Nam kỳ với tiêu đề Lời nghị thành phố cấm không cho thả chó ra đường, toàn văn như sau:

Vì các điều 34, 35 chỉ dụ ngày mồng 8-1-1877, nói về việc thành phố Sài Gòn,

Xét vì lợi ích chung, phải dùng phép nghiêm về những chó thả luông,

Định lệ khoản như sau này:

Khoản thứ nhứt. Từ ngày mồng 1-6 năm nay, hễ có gặp chó thả luông trong thành phố Sài Gòn, không có niệt cổ đề tên chủ nuôi, thì phải bắt mà đem vào chỗ nhốt, lại nếu chủ nuôi không nhìn, để quá 48 giờ, thì phải đập chết.

Khoản thứ hai. Các lời nghị trước, nói về chó thả phóng đều phải bãi đi.

Khoản thứ ba. Phú cho ông Tổng quản việc tuần phòng lo cho lời nghị này thi hành.

Sài Gòn, ngày 22-5-1879

Đưa lên cho quan Khâm mạng phê:

Le Directeur de l’intérieur p.i., Signé: Béliard

Ông Đốc lý vắng mặt, Ông phó nhứt quyền việc, Signé: A. Mayer

Phê chuẩn: Le Contre-amiral, Gouverneur et Commandant en chef, Signé: Lafont.

Continue reading

QUYỀN VĂN HOÁ – CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ QUAN TRỌNG TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TS. PHẠM TUẤN KHẢI – PTB, Ban Xây dựng Pháp luật – VPCP

Quyền về văn hoá ở Việt Nam được ghi nhận như một tuyên ngôn trong hoạt động của nhà nước Việt Nam. Cùng với các quyền và lợi ích khác của công dân như quyền chính trị (bầu cử, ứng cử), quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền học tập, quyền được bảo vệ sức khoẻ….quyền văn hoá được Đảng và Nhà nước ta đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong đó, quyền văn hoá là nhân tố hàng đầu cho nhận thức và thực hiện các quyền khác.

Văn hoá nói chung và quyền văn hoá nói riêng được vận dụng trong thực tế như một định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn, hành động của người Việt Nam nhằm hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan hệ giữa người và người, giữa các dân tộc và với môi trường tự nhiên xã hội.Về mặt pháp lý, quyền văn hoá, trong mối quan hệ với các quyền khác là tiền đề, là nhân tố nội sinh cho sự tồn tại và phát triển trong hệ thống pháp luật Việt nam.

Quan điểm xây dựng quyền văn hoá (một trong những chế định pháp lý về quyền con người) ở Việt Nam, ngoài việc đề cao quyền con người, đề cao tự do cá nhân và những bảo đảm của Nhà nước cho việc thực hiện quyền đó, còn có yếu tố rất quan trọng là đặt quyền văn hoá trong mối quan hệ chặt chẽ với các quyền khác, tạo thành một hệ thống các qui định hết sức chặt chẽ về quyền con người trong điều kiện chúng ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Các mối quan hệ này bao gồm: giữa kinh tế với văn hoá; giữa tự do của con người với sáng tạo, vun đắp tài năng văn hoá; giữa việc tính thống nhất đa dạng của văn hóa với việc phát huy bản sắc dân tộc, tôn trọng truyền thống văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc và việc chống lại việc lợi dụng văn hoá, tín ngưỡng để đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân, của Tổ quốc; giữa kế thừa các giá trị văn hoá dân tộc với việc mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, tiếp thu tinh hoa nhân loại và đấu tranh ngăn chặn sự xâm nhập các loại văn hoá độc hại, bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữa việc khẳng định nhân tố mới, những giá trị cao đẹp của dân tộc ta với việc phê phán cái sai, lên án cái ác, cái xấu, đấu tranh không khoan nhượng với các luận điệu độc hại của các thế lực thù địch.

Continue reading