CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. PHAN THANH HÀ

Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lập pháp là một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Pháp luật cũng như hoạt động lập pháp không có mục đích tự thân mà luôn hướng tới điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ các giá trị xã hội, các chuẩn mực và lợi ích xã hội. Trên cơ sở đó, pháp luật mới thực sự trở thành công cụ đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển.

Có thể nói, trong giai đoạn hội nhập, với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh dân chủ và phát huy vai trò xã hội của Nhà nước hiện nay, việc tôn trọng và bảo đảm thích đáng những nhân tố làm nên cơ sở xã hội lại càng trở nên bức thiết, góp phần khiến cho hoạt động lập pháp ngày càng chất lượng hơn, làm cho Quốc hội nước ta ngày càng bảo đảm vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta.

1. Khái niệm cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp

Tư tưởng về những nhân tố làm cơ sở xã hội cho hoạt động lập pháp đã hình thành từ rất sớm[1]. Đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này, nhưng tựu trung có thể thấy rằng, các tư tưởng có liên quan trong lịch sử luôn xoay quanh việc xem xét pháp luật, hoạt động lập pháp trong những điều kiện nhất định của xã hội. Các nhà tư tưởng đều hướng tới sự đòi hỏi hoạt động lập pháp phải dựa trên những nền tảng kinh tế – xã hội nhất định, tuân theo các quy luật xã hội riêng biệt trong những "điều kiện bên ngoài thích hợp".

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP KHI ÁP DỤNG ĐIỀU 17 CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty luật Phước & Partners

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ rơi vào tình trạng khó khăn. Vì vậy, việc cắt giảm chi phí hoạt động nói chung và chi phí lao động nói riêng là một trong những việc cấp thiết phải làm của các doanh nghiệp để có thể duy trì hoạt động. Việc cắt giảm chi phí lao động có nhiều cách, như không ký lại hợp đồng lao động sắp hết hạn, không tăng lương và trợ cấp, không thưởng thành tích, cắt giảm các khoản vui chơi, giải trí cho người lao động, cắt giảm các khoản phúc lợi không cam kết trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể.

Tuy nhiên, những cắt giảm này thường không thể triển khai nhanh, nhiều và đồng bộ được. Cái có thể đạt mục đích nhanh nhất mà người sử dụng lao động thường nhắm tới là chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động và chấp nhận trả trợ cấp mất việc theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007).

Bộ luật Lao động (BLLĐ) hiện hành – văn bản luật được ban hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như người sử dụng lao động đã quy định về chấm dứt hợp đồng với người lao động và trả trợ cấp mất việc tại Điều 17 như sau: “Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trợ cấp mất việc làm…”. Cụm từ do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ được Chính phủ giải thích thêm tại Điều 11 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm bao gồm một trong các trường hợp sau:

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM

THS. LÊ KIM GIANG – Công ty thông tin VMS

Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Đảng ta đã có định hướng phát triển khoa học và công nghệ cụ thể là: “Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, hiện đại” (1). Đồng thời Đảng ta xác định, phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thực hiện những định hướng quan trọng trên đây, từ những năm cuối thập kỷ trước, ngành bưu chính viễn thông đã liên doanh được với nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông. Có được thành công này chính là nhờ “công cụ pháp lý” quan trọng là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) trong lĩnh vực viễn thông.

1. Nguyên lý chung trong hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông

Hợp đồng liên kết kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông là một hình thức hợp đồng cụ thể ghi nhận nội dung những cam kết, thỏa thuận; ghi nhận quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên.

Là một hợp đồng, nên hợp đồng liên kết kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông cũng phải tuân theo nguyên tắc về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại Điều 4 của Bộ luật Dân sự năm 2005: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”.

Continue reading

HỆ THỐNG KIỂM TOÁN VIỆT NAM THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GS.TS. VƯƠNG ĐÌNH HUỆ – Tổng Kiểm toán Nhà nước

Hệ thống kiểm toán ở VN – một trong những công cụ quản lý kinh tế – tài chính hữu hiệu, sản phẩm của nền kinh tế thị trường, của hội nhập kinh tế quốc tế đã được hình thành và có những bước phát triển đáng ghi nhận. Hệ thống kiểm toán gồm 3 phân hệ cấu thành là Kiểm toán Nhà nước (KTNN), kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. Các phân hệ có vị trí, vai trò và phạm vi hoạt động khác nhau, nhưng cùng thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động kinh tế – tài chính, có sự tương đồng nhất định về phương pháp chuyên môn nghiệp vụ.

Hoạt động kiểm toán độc lập được hình thành từ năm 1991, KTNN từ năm 1994, kiểm toán nội bộ  từ năm 1997. Từ đó đến nay, các phân hệ kiểm toán đã dần khẳng định được vị trí, vai trò và có những đóng góp tích cực đối với quá trình quản lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực tài chính và tài sản trong xã hội; góp phần làm lành mạnh các quan hệ tài chính – tiền tệ; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường ở VN.

1. Những thành tựu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN

Có thể khẳng định những thành tựu chủ yếu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN như sau:

Một là, pháp luật về kiểm toán sớm hình thành (văn bản quy phạm pháp luật về KTNN và về kiểm toán độc lập được ban hành vào năm 1994, về kiểm toán nội bộ năm 1997), đã tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán. Đến nay, Nhà nước đã ban hành Luật KTNN, Nghị định về kiểm toán độc lập, quy định của Bộ Tài chính về quy chế kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho sự phát triển hệ thống kiểm toán ở VN. Bên cạnh đó, KTNN đã ban hành được hệ thống chuẩn mực KTNN và nhiều quy trình kiểm toán chuyên ngành áp dụng cho đối tượng kiểm toán cụ thể, Bộ Tài chính cũng đã ban hành 38 chuẩn mực kiểm toán để áp dụng trong hoạt động kiểm toán độc lập và kiểm soát chất lượng kiểm toán;

Continue reading

KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC HÀNH CHÍNH Ở CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH

Bắt nguồn từ Chương trình "Nhà nước hiện đại – Nền hành chính hiện đại" của Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức năm 1999, pháp luật về hợp tác hành chính luôn là tâm điểm của tiến trình hiện đại hóa nhà nước và nền hành chính theo mẫu hình của nhà nước năng động.

1. Sự hợp tác giữa hành chính và tư nhân trong một nhà nước năng động

Bắt nguồn từ Chương trình "Nhà nước hiện đại – Nền hành chính hiện đại" của Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức năm 1999, pháp luật về hợp tác hành chính luôn là tâm điểm của tiến trình hiện đại hóa nhà nước và nền hành chính theo mẫu hình của nhà nước năng động. Khái niệm "nhà nước năng động" được hiểu là sự khởi đầu của một nhà nước và nền hành chính hiện đại[2]. Nó định hướng cho quá trình hiện đại hóa sự liên kết mang tính hợp tác giữa nhà nước và xã hội nhằm phát huy tính năng động của mỗi công dân khi tham gia hoạt động quản lý nhà nước trong những trường hợp nhất định[3]. Một nhà nước năng động sẽ tạo ra động lực cho sự liên kết này thông qua việc khuyến khích, hỗ trợ việc đảm nhận các nhiệm vụ quản lý vì lợi ích của cộng đồng[4]. Nó bao hàm cả khía cạnh phát huy tính năng động và có định hướng của công dân, sự phân chia trách nhiệm và nhiệm vụ quản lý trong các cấp độ quản lý khác nhau cũng như tái cấu trúc các lĩnh vực hợp tác hành chính trong tổng thể các mục tiêu chung của một chương trình hành động.

Theo đó, công dân không chỉ là người yêu cầu, là người thụ hưởng các dịch vụ công mà còn là người gánh vác trách nhiệm từ các nguồn lực quyết định và dịch vụ hành chính. Bảo đảm tính năng động của các nguồn lực này thông qua sáng kiến, hỗ trợ và điều khiển của nhà nước đã đem lại không gian cho sự phân chia trách nhiệm giữa nhà nước và công dân. ở đó, sự sẵn sàng gánh vác trách nhiệm của công dân và yêu cầu hiện đại hóa nhà nước có mối liên hệ nội tại. Nhà nước không chỉ chấp thuận sự gánh vác trách nhiệm của xã hội mà hơn thế, còn phải khuyến khích và phát huy được tiềm năng tự quản của xã hội[5]. Việc"giảm tải" cho nhà nước bằng cách mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ công của tư nhân luôn thống nhất với nghĩa vụ định hướng theo nhiệm vụ của nhà nước và khai thông khả năng đảm nhận trách nhiệm quản lý nhà nước của tư nhân. Nhằm hiện đại hóa sự cân bằng trách nhiệm này cần phải tạo lập các điều kiện pháp lý khung cho nhà nước có nền hành chính hiệu quả thông qua sự hợp tác hành chính và định hướng phục vụ công dân.

Continue reading

HỘI NHẬP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ KỶ 21: NHỮNG BÀI HỌC TỪ ẤN ĐỘ

PHILLIP G. ALTBACH  VÀ N. JAYARAM (Phạm Thị Ly dịch )

Ấn Độ đang nỗ lực tạo ra 30 trường đại học “đẳng cấp quốc tế”, 8 Viện Khoa học Công nghệ mới, và 7 Viện Khoa học Quản lý trong vòng năm năm tới; đồng thời có kế hoạch đầu tư lớn để nâng cấp và mở rộng hệ thống giáo dục đại học. Nhưng trong quá trình thực hiện “tham vọng” này dựa trên mô hình đại học Mỹ, họ đã gặp không ít trở ngại.

Kết quả xếp hạng quốc tế cho thấy, Ấn Độ không có trường nào trong số 348 trường đại học được xếp hạng trong top 100 của thế giới, và giới giảng viên Ấn Độ được trả lương khá thấp khi so sánh với các nước khác. Sinh viên cũng phải chịu đựng tình cảnh thiếu chỗ học trong những trường hàng đầu của Ấn và cả trong hệ thống giáo dục đại học. Vì vậy khi Ấn Độ cải cách giáo dục đại học, họ đã bỏ qua các trường đại học hiện có và khởi sự những trường hoàn toàn mới như các Viện Khoa học Công nghệ – nơi có những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, khi Ấn Độ đầu tư những số tiền lớn và nguồn nhân lực mạnh cho việc nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo, mà không có những chiến lược nhằm bảo đảm kết quả của những đầu tư ấy, các nguồn lực sẽ bị lãng phí và thất bại là điều cầm chắc. Cho dù đã có một cuộc thảo luận về việc tổ chức một vài trường đại học theo mô hình Mỹ, cho đến nay vẫn chưa có một ý tưởng hay nguồn tài chính nào đủ lớn để thực hiện. Thế mà một tờ báo đã tường thuật phát ngôn của một quan chức với quan điểm cho rằng: “Không nên có sự phân biệt tôn ti thứ bậc hay cách biệt trong tiêu chuẩn giữa các trường đại học, cũng như những cải cách thay đổi đối với các trường đại học đẳng cấp quốc tế, cần được áp dụng cho tất cả các trường đại học”. Thái độ này cho thấy một sự hiểu lầm hoàn toàn vì hệ thống các trường Hoa Kỳ có sự phân biệt tôn ti thứ bậc rất rõ giữa các trường công.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: HẠNH PHÚC CẦN BÁNH MÌ VÀ HOA HỒNG

HOÀNG YẾN

TAND quận X (TP.HCM) vừa giải quyết một vụ ly hôn mà cả tòa lẫn những người trong cuộc đều thấy khó xử. Lý do chia tay chỉ là sự không hòa hợp về tâm hồn: Người vợ sống nội tâm, nhạy cảm trong khi người chồng lại khô khan, ít quan tâm đến cảm xúc của vợ…

Lòng tốt thôi chưa đủ

Theo hồ sơ, bà T. là giáo viên, còn ông V. là tài xế. Họ đều đã hơn 40 tuổi, kết hôn từ 11 năm nay và có với nhau ba mặt con. Tháng 3-2009, bà T. nộp đơn ra tòa xin được ly hôn.

Bà trình bày rằng ông V. tính tình hiền lành, chịu khó làm lụng nên được mọi người quý mến. Đó cũng là ưu điểm lớn nhất để bà đồng ý kết hôn với ông. Trong quá trình chung sống, ông V. là người chồng tốt, người cha tốt, chịu khó giúp đỡ vợ chăm sóc con. Ông đi làm về giao hết tiền lương cho vợ, còn bản thân tiêu xài tằn tiện, ít mua sắm cho bản thân, không ăn chơi, tụ tập ăn nhậu. Nói chung, ông V. có những điểm tốt cơ bản.

Thế nhưng, theo bà T., giữa vợ chồng có những điểm khác biệt không thể dung hòa về quan niệm sống, cách giáo dục con cái… Bà T. bảo mình là người sống nội tâm, nhạy cảm và lãng mạn, còn ông V. thì bàng quan, lạnh lùng, khô khan, không cần biết cảm xúc của vợ, càng không biết âu yếm hay chiều chuộng vợ. Tính bà chu đáo, thích quan tâm đến người thân, còn chồng thì hời hợt, vô tâm. Bà nói mình cực nhọc suốt ngày để cùng chồng nuôi con cũng được nhưng phải có sự âu yếm lẫn trân trọng của chồng để làm nguồn động viên.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 330/BC – BGDĐT NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CƠ CHẾ TÀI CHÍNH GIÁO DỤC 2009-2014

Kính gửi:  Quốc hội

I. Những bất hợp lý của cơ chế tài chính giáo dục mà đề án phải giải quyết

Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục 2009-2014 trình Quốc hội đã phân tích sâu và chỉ rõ 8 tồn tại của cơ chế tài chính giáo dục hiện nay và đó cũng chính là các bất hợp lý mà đề án phải giải quyết nhằm đạt được 2 mục tiêu tổng quát của Đề án. Để có thể đánh giá tác động của Đề án khi được triển khai, Bộ Giáo dục và Đào tạo xin báo cáo Quốc hội thêm về các bất hợp lý trong cơ chế tài chính giáo dục hiện nay như sau:

1. Ngành giáo dục không có điều kiện đánh giá hiệu quả chi của nhà nước cho giáo dục, các cơ quan quản lý giáo dục và nhân dân không đánh giá được chất lượng giáo dục trong tương quan với chi của nhà nước và người dân cho giáo dục, nhất là đào tạo nghề nghiệp:

– 74% ngân sách nhà nước dành cho giáo dục do các UBND tỉnh quản lý, 21 % do các Bộ ngành khác quản lý, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý 5%. Không có quy định về chế độ báo cáo sử dụng ngân sách cho giáo dục do các địa phương và Bộ ngành khác quản lý cho Bộ Giáo dục và Đào tạo.

– Các trường không công khai cam kết chất lượng giáo dục, không công bố đánh giá thực tế chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục, không công bố nguồn lực thực tế của nhà trường phục vụ đào tạo (giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo …), không công khai tài chính của nhà trường để nhà nước và người dân dễ dàng kiểm tra, giám sát.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 234/BC- UBTVQH12 NGYAF 10 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA UBTVQH KHÓA 12 VỀ TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT Ý KIẾN, KIẾN NGHỊ CỦA CỬ TRI TỪ KỲ HỌP THỨ 4, QUỐC HỘI KHÓA XII ĐẾN NAY

Kính thưa:  Các vị đại biểu Quốc hội

Việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri là vấn đề quan trọng, luôn được cử tri và Quốc hội quan tâm. Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về tình hình giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri từ kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đến nay như sau:

1/ Về việc tiếp nhận và chuyển ý kiến, kiến nghị của cử tri đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết

Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII, thông qua báo cáo của 63 Đoàn đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã nhận được 2466 ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước gửi tới kỳ họp. Ủy ban thường vụ Quốc hội đã phối hợp với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trình bày báo cáo này tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội. Đồng thời, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Ban Dân nguyện tập hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri để gửi đến các vị đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội. Tất cả các ý kiến, kiến nghị của cử tri đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Sau khi phân loại những ý kiến, kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan nhà nước ở địa phương, những ý kiến, kiến nghị đã được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết từ trước kỳ họp thứ 4, còn lại 651 ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc trách nhiệm xem xét, giải quyết của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cụ thể là: 94 ý kiến, kiến nghị của cử tri có nội dung liên quan đến hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; 547 ý kiến, kiến nghị với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ; 09 ý kiến, kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; 01 ý kiến, kiến nghị với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Continue reading