LIỆU CÓ THỂ “CHỨNG KHOÁN HÓA” TÀI SẢN SỞ HỮU TRÍ TUỆ?

LÊ MINH dịch*

Hiện nay, tại một số quốc gia phát triển và một vài thị trường chuyên biệt trên thế giới đang diễn ra hiện tượng “cho thuê mượn ” một phần hoặc toàn phần đối với tài sản sở hữu trí tuệ. Một câu hỏi đặt ra là liệu tài sản trí tuệ có khả năng bị “chứng khoán hoá” hay không?

Hiểu một cách đơn giản nhất, “chứng khoán hoá” là một quá trình tài chính cơ cấu trong đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu. Theo nguyên tắc, tài sản ở đây có thể là các tài khoản với dòng tiền được xác định trước hoặc các khoản thu dài hạn. Như vậy, “chứng khoán hoá” có thể chấp nhận các khoản thanh toán dài hạn từ việc cấp bằng sáng chế, chứng nhận thương hiệu hay bí mật thương mại, hoặc ngay cả việc sử dụng bản quyền thu âm, sáng tác của một nhạc gia. Việc ca sĩ người Mỹ David Bowie trong những năm gần đây đã có các khoản thanh toán tiền bản quyền là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất cho khái niệm “chứng khoán hoá”.

Có thể nói ở thời điểm hiện tại, thị trường về các chứng khoán tài sản tài chính liên quan đến sở hữu trí tuệ chưa thực sự bùng nổ, mà một trong những nguyên nhân chính của thực trạng này là do khan hiếm nguồn cung và nguồn cầu. Nhìn chung, trên thị trường hiện nay loại tài sản hữu hình vẫn dành được nhu cầu cao hơn so với các loại tài sản vô hình. Một nguyên nhân khác cho vấn đề này là do các thị trường còn hạn hẹp, các kĩ năng đánh giá bằng sáng chế không đủ chính xác, dẫn đến việc thiếu tự tin khi nhận định về giá trị của một bằng sáng chế. Thông thường, để đánh giá được giá trị của bằng sáng chế thì phải cần đến các chuyên gia trong một lĩnh vực khoa học công nghệ nhất định, đã có thâm niên trong việc nghiên cứu, nhận định và những hiểu biết đúng đắn về bằng sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, các bên nhận cấp phép hoặc bán các bằng sáng chế lại “vắng bóng” các chuyên gia như vậy.

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam

TS. LÊ THỊ THU THỦY

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Ở Việt Nam, TTCK chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 – bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán T.P Hồ Chí Minh. Khác với TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được “sinh sôi, nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ – CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006, đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK. Các văn bản này là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Chúng tôi xin được bàn về sự cần thiết và nêu những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THỊ THU THỦY

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh, đặc biệt là ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn năm thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế.

Ở Việt Nam, TTCK chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 – bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán T.P Hồ Chí Minh. Khác với TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được “sinh sôi, nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ – CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006, đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK. Các văn bản này là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Chúng tôi xin được bàn về sự cần thiết và nêu những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

Continue reading

LAO ĐỘNG CHUI VÀ CẠNH TRANH

HUY ĐỨC

Con số lao động “chui” người Trung Quốc không chỉ là hàng trăm như báo chí rụt rè lên tiếng mấy tháng trước đây mà lên tới 35.000, theo công bố của bộ Công an. Tuy rằng, đây vẫn là một “thống kê chưa đầy đủ”. Một quan chức của bộ, thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cho biết: “một số doanh nghiệp Trung Quốc đưa người lao động vào cả khu vực biên giới…” Theo ông Giáp, tình trạng này “tiềm ẩn các phức tạp về an ninh trật tự”.

Mặc dù những thông tin mà bộ Công an công bố là rất đáng lo ngại nhưng, liền sau đó, bà bộ trưởng bộ Lao động thương binh và xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhanh chóng trấn an: “Chúng tôi chưa thể đưa số lao động này về nước trong ngày một, ngày hai. Chúng tôi phải làm việc với các doanh nghiệp… giải thích cho họ biết”. Hồi tháng 6.2009, bà Kim Ngân đã tránh các chất vấn ở Quốc hội bằng những câu trả lời khéo léo của mình. Tuy nhiên, trước những cảnh báo của bộ Công an về tình trạng lao động chui, pháp luật cần phải được thực thi ngay chứ không chỉ là ăn nói sao cho mềm mỏng.

Trong năm 2008, Trung Quốc có đội quân thất nghiệp lên tới hơn 20 triệu người. Không có gì ngạc nhiên khi “đội quân” này được tạo điều kiện tối đa đi sang Việt Nam. Theo thiếu tướng Đặng Thái Giáp: “Nhiều người không đủ tiêu chuẩn lao động, có người chỉ là lao động phổ thông nhưng phía Trung Quốc vẫn cấp hộ chiếu công vụ”. Khi đã nhập cảnh Việt Nam bằng visa ba tháng thì, đúng như lời bà Ngân, những người này có thể đi vào bất kỳ nơi đâu.

Bà Ngân nói điều đó để giải thích với Quốc hội rằng, vấn đề “lao động chui người nước ngoài” không chỉ có bộ Lao động thương binh và xã hội chịu trách nhiệm mà phải cả Công an, Ngoại giao, Biên phòng. Đúng là trách nhiệm không chỉ “đổ” cho bộ Lao động thương binh và xã hội. Nhưng, việc Công an, Biên phòng cho phép một người có visa hợp pháp nhập cảnh và đi lại trên lãnh thổ Việt Nam và việc những người ấy sử dụng visa du lịch rồi ở lại làm việc là hai vấn đề hoàn toàn khác.

Continue reading

HÀNH VI ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN LẠI TỐI THIỂU GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH HÀNG

NGUYỄN NGỌC SƠN

Nhằm đảm bảo sự lành mạnh các quan hệ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Luật Cạnh tranh năm 2004 (LCT) quy định ngăn cấm đối với một số hành vi liên quan đến giá cả, trong đó có quy định về hành vi ấn định giá bán lại (khoản 2 Điều 13). Tác giả bài viết dưới đây sẽ phân tích bản chất kinh tế, pháp lý của dạng vi phạm về hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng. Trên cơ sở đó, tác giả bình luận, đưa ra những yêu cầu cần thiết trong việc việc áp dụng LCT, góp phần hướng dẫn thi hành hiệu quả LCT, đưa LCT đi vào thực tiễn.

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường[1], mọi hành vi làm sai lệch diện mạo bằng bất cứ thủ đoạn nào để bóc lột khách hàng, hoặc để củng cố, duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thương trường đều đáng lên án và phải bị loại bỏ. Trong cấu trúc pháp luật của thị trường mà nhà nước ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện, luôn có sự hiện diện của một bộ phận cấu thành quan trọng là lĩnh vực pháp luật quản lý giá cả. Pháp lệnh giá năm 2002 quy định nhiều biện pháp kinh tế -hành chính trong việc quản lý trật tự giá trên thị trường, và ngăn cấm những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh về giá.

Song song với việc xây dựng mảng pháp luật quản lý các quan hệ thị trường, các nhà làm luật Việt Nam cũng đang nỗ lực hoàn thiện một lĩnh vực pháp luật đặc thù của thị trường là pháp luật cạnh tranh, với nhiệm vụ đấu tranh chống các tiêu cực, bảo đảm sự lành mạnh trong quan hệ cạnh tranh. Trong các biểu hiện bị cấm đoán, các hành vi liên quan đến giá cả cũng được luật cạnh tranh (LCT) mô tả với nhiều dạng, nhiều mức độ vi phạm khác nhau, như: định giá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ; áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, định giá bán lại tối thiểu… Phần tiếp theo sau đây sẽ phân tích bản chất kinh tế,pháp lý của một dạng vi phạm cụ thể là hành vi ấn định giá bán lại[2], được quy định tại khoản 2 Điều 13 LCT năm 2004. Từ đó, đặt ra những yêu cầu cần thiết để các văn bản hướng dẫn LCT góp phần đưa LCT đi vào thực tiễn,đồng thời dự liệu một số tình huống có thể xảy ra khi thực thi pháp luật cạnh tranh.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HỒNG SƠN – Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng

Với tiềm năng sẵn có, ngành kinh tế hàng hải nước ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Suốt chiều dài trên 3.260 km đường bờ biển của Tổ quốc, nhiều vị trí phù hợp để xây dựng các nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu biển, tạo điều kiện cho công nghiệp đóng tàu phát triển, hơn 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó một số nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển và cảng cửa ngõ quốc tế. Những cảng biển này là tiền đề căn bản để phát triển đội tàu biển quốc gia lớn mạnh trong khu vực và trên thế giới. Đội tàu biển và công nghiệp đóng tàu, lĩnh vực dịch vụ hàng hải cũng có thêm nhiều lợi thế mới. Nhưng hiện tại ngành chưa tận dụng triệt để những lợi thế này.

1 – Thực trạng ngành kinh tế hàng hải Việt Nam

Để biến những tiềm năng đó thành hiện thực, tinh thần và quyết tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của ngành kinh tế hàng hải đã được thể hiện trong Chiến lược biển Việt Nam. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09-02-2007 của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định rõ, ngành kinh tế hàng hải được ưu tiên thứ hai trong thứ tự phát triển kinh tế biển, chỉ đứng sau khai thác, chế biến dầu khí (đứng trên khai thác và chế biến hải sản; du lịch biển và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển). Vận tải biển được coi là một trong những ngành dịch vụ mũi nhọn và trước mắt cùng với công nghiệp đóng tàu cần được tập trung đầu tư phát triển.

Tại Thông báo số 188-TB/TW ngày 07-10-2008 của Ban Bí thư, ngành kinh tế hàng hải cũng được yêu cầu tập trung đầu tư xây dựng nhanh một số cảng biển hiện đại, đồng thời phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng sau cảng, xây dựng các nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu biển, phát triển nhanh, mạnh đội tàu biển Việt Nam theo quy hoạch đã được phê duyệt.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐẢM BẢO THỰC HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS. TS. LÊ BỈNH – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Bản chất giai cấp và vai trò xã hội của nhà nước được thể hiện trực tiếp ở chức năng của nhà nước. Chức năng của nhà nước có thể xem xét dưới những góc độ khác nhau. Khi xem xét nhà nước từ góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng là công cụ thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội. Dưới góc độ khác, với tính cách là tổ chức đại biểu chủ quyền quốc gia, nhà nước có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại. Giữa các chức năng của nhà nước có sự tác động qua lại nhau. Việc thực hiện chức năng xã hội là phương thức và điều kiện để thực hiện chức năng thống trị chính trị của giai cấp.

Đối với nước ta trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN cần thực hiện những nguyên tắc cơ bản sau:

1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị của xã hội XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh của Nhà nước. Thông qua nhà nước XHCN Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với các quá trình phát triển của xã hội. Thực chất của sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là lãnh đạo chính trị mang tính định hướng.

Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bao gồm nhiều mặt. Trước hết, Đảng vạch ra đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và phương hướng hoạt động cho Nhà nước, Đảng lãnh đạo bằng giáo dục, thuyết phục; bằng tổ chức, hướng dẫn kiểm tra, giám sát cơ quan nhà nước thực hiện đường lối của Đảng. Bằng việc thông qua chương trình, kế hoạch hoạt động, bằng pháp luật và các chế độ ban hành của Nhà nước mà biến đường lối chính trị của Đảng thành ý chí và hành động cách mạng của quần chúng. Cán bộ, đảng viên của Đảng thông qua sự lựa chọn và tín nhiệm của quần chúng mà đảm đương các chức vụ trong bộ máy nhà nước.

Continue reading

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG KHU VỰC CÔNG TẠI VIỆT NAM

THS. BÙI QUANG TIÊN – Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN

Trong những năm gần đây, sự bùng nổ của khoa học công nghệ cùng với xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa tài chính đã thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển. Ngày nay, TTKDTM đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến và được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn. Với xu thế và định hướng đó, ngày 29/12/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020” (Quyết định 291).

Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 161/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định về Thanh toán bằng tiền mặt (Nghị định 161), trong đó bao gồm các quy định về hạn mức thanh toán bằng tiền mặt, phí giao dịch tiền mặt và việc rút tiền mặt với số lượng lớn bằng Đồng Việt Nam trong giao dịch, thanh toán tại Việt Nam. Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy hoạt động TTKDTM và một trong các giải pháp đang được triển khai thực hiện đó chính là phát triển TTKDTM trong khu vực công.

1. Tình hình TTKDTM trong khu vực công thời gian qua

Thời gian gần đây, Thanh toán dùng tiền mặt tại Việt Nam có xu hướng giảm dần, tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán theo thống kê năm 2008 là 14,6% (năm 2007 là 16,36%, năm 2001 là 23,7% và năm 1997 là 32,2%). Điều này phản ánh TTKDTM đang được Hệ thống Ngân hàng mở rộng và phát triển, góp phần giảm đáng kể lượng tiền mặt trong thanh toán. Cơ sở hạ tầng phục vụ TTKDTM được chú trọng đầu tư phát triển mạnh. Ngày 28/2/2009, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã khai trương Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2, đánh dấu một giai đoạn mới của hệ thống thanh toán ngân hàng với những thay đổi cơ bản về kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiệu năng xử lý và quy trình nghiệp vụ hiện đại theo thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời và dung lượng ngày càng cao của đất nước.

Continue reading