THỰC TRẠNG QUỐC TỊCH của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân. Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại. Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá.

Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm (khoảng từ thế kỷ thứ XIII) do nhiều nguyên nhân khác nhau, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị. Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng. Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ.

I. Khái quát tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam là “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả công dân Việt Nam (những người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ). Hiện nay, có khoảng 3,4 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu ở 21 nước thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ tuy cũng có người Việt làm ăn, sinh sống song số lượng rất ít.

Continue reading

THỰC TRẠNG QUỐC TỊCH CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân. Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại. Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá.

Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm (khoảng từ thế kỷ thứ XIII) do nhiều nguyên nhân khác nhau, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị. Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng. Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ.

I. Khái quát tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam là “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả công dân Việt Nam (những người còn quốc tịch Việt Nam) và người gốc Việt Nam (người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ). Hiện nay, có khoảng 3,4 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu ở 21 nước thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Mỹ tuy cũng có người Việt làm ăn, sinh sống song số lượng rất ít.

Continue reading

Khái quát sự phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam từ năm 1945 đến nay và GIỚI THIỆU LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề quốc tịch, Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời đã rất quan tâm và coi trọng việc soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật về quốc tịch. Trong từng thời kỳ cách mạng, nhà nước ta đều ban hành các văn bản pháp luật quy định về quốc tịch cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, cho đến nay, hệ thống các văn bản pháp luật về quốc tịch của nhà nước Việt Nam đã có một số lượng đáng kể, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của dân tộc, của nhân dân trong công cuộc giải phóng đất nước trước đây và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

1. Pháp luật quốc tịch Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến thời điểm Luật Quốc tịch năm 2008 có hiệu lực

Xét về mặt lập pháp, có thể phân sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quốc tịch thành 2 giai đoạn: từ năm 1945 đến năm 1975 và từ năm 1975 đến nay.

a) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, với chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp đất nước ta bị chia cắt thành ba miền với ba chế độ cai trị và hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề quốc tịch và công dân vì thế không được quy định một cách rõ ràng trong các văn bản pháp luật.

Cách mạng tháng 8 thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Lúc này, việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa chính trị to lớn để chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc Hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam. Chính vì thế, cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật về nhiều lĩnh vực khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 quy định quốc tịch Việt Nam.

Sắc lệnh số 53/SL ngay tại Điều 3 đã khẳng định quyền bình đẳng về quốc tịch Việt Nam giữa các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam “Những dân tộc thiểu số ở nước Việt Nam như Thổ, Mán, Mường, Nùng, Kha, Lolo,v.v…, có trụ sở nhất định trên lĩnh thổ nước Việt Nam, đều là công dân Việt Nam”.

Continue reading

KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY VÀ GIỚI THIỆU LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề quốc tịch, Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời đã rất quan tâm và coi trọng việc soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật về quốc tịch. Trong từng thời kỳ cách mạng, nhà nước ta đều ban hành các văn bản pháp luật quy định về quốc tịch cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, cho đến nay, hệ thống các văn bản pháp luật về quốc tịch của nhà nước Việt Nam đã có một số lượng đáng kể, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của dân tộc, của nhân dân trong công cuộc giải phóng đất nước trước đây và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

1. Pháp luật quốc tịch Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến thời điểm Luật Quốc tịch năm 2008 có hiệu lực

Xét về mặt lập pháp, có thể phân sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quốc tịch thành 2 giai đoạn: từ năm 1945 đến năm 1975 và từ năm 1975 đến nay.

a) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, với chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp đất nước ta bị chia cắt thành ba miền với ba chế độ cai trị và hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề quốc tịch và công dân vì thế không được quy định một cách rõ ràng trong các văn bản pháp luật.

Cách mạng tháng 8 thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Lúc này, việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa chính trị to lớn để chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc Hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam. Chính vì thế, cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật về nhiều lĩnh vực khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 quy định quốc tịch Việt Nam.

Sắc lệnh số 53/SL ngay tại Điều 3 đã khẳng định quyền bình đẳng về quốc tịch Việt Nam giữa các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam “Những dân tộc thiểu số ở nước Việt Nam như Thổ, Mán, Mường, Nùng, Kha, Lolo,v.v…, có trụ sở nhất định trên lĩnh thổ nước Việt Nam, đều là công dân Việt Nam”.

Continue reading

XUẤT KHẨU CHỨNG KHOÁN

NGUYỄN XUÂN

Câu chuyện xem ra cũng tương tự thời điểm trước Đổi mới, khi ngồi chờ viện trợ bột mì mà lại tính chuyện có ngày Việt Nam trở thành một trong những nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Hoặc cũng giống như cách đây không xa, việc gửi lao động đi nước ngoài làm việc còn có người hỏi rằng tại sao anh hùng như Việt Nam mà lại để đồng bào mình bị ngoại bang bóc lột?

Còn nay, không ai dám phủ nhận: xuất khẩu lao động đã là một kênh tạo việc làm và huy động ngoại tệ quan trọng. Chắc chắn không cần tới thời gian cả chục năm trời như vậy, việc xuất khẩu chứng khoán (CK) sẽ là một phương thức hữu hiệu không chỉ nhằm huy động vốn mà còn là một trường học cho các doanh nghiệp trong nước thử sức cạnh tranh ngoài lãnh thổ quốc gia, quảng bá hình ảnh doanh nghiệp và thương hiệu Việt Nam.

Bước đi tất yếu

Cụm từ “xuất khẩu CK” là cách hiểu nôm na việc các doanh nghiệp trong nước niêm yết và chào bán CK ở thị trường nước ngoài. Và dĩ nhiên việc niêm yết CK ở các sàn trong nước cũng là một hình thức xuất khẩu tại chỗ bởi các nhà đầu tư gián tiếp dùng ngoại tệ để sở hữu các cổ phiếu đang niêm yết trên các sàn giao dịch Việt Nam. Tuy nhiên, là một loại hàng hóa đặc thù, CK được chào bán và niêm yết ở nước ngoài phải tuân thủ nhiều quy định pháp lý và kỹ thuật khắt khe của cả trong và ngoài nước. Cũng nằm trong một quốc gia như Hong Kong nhưng với đặc thù “hai chế độ”, việc niêm yết CK của các doanh nghiệp đại lục tại Hong Kong cũng phải trải qua nhiều thủ tục phức tạp cho dù các yếu tố địa lý, tâm lý, xã hội… khá tương đồng.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUỐC TỊCH

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC  PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

1. Khái niệm về quốc tịch

Quốc tịch là một khái niệm ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa tư bản. Khái niệm này xuất hiện cùng với tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản. Thông thường, người nào cũng có một tổ quốc và từ khi sinh ra đều mang một quốc tịch nhất định. Đây không chỉ là vấn đề tình cảm và tâm lý mà còn là mối liên hệ giữa cá nhân đó với nhà nước. Mối liên hệ này xác định địa vị pháp lý của họ. Trong các xã hội khác nhau, thời kỳ lịch sử khác nhau, công dân sẽ có địa vị pháp lý khác nhau. Địa vị pháp lý đó được củng cố và hoàn thiện hơn qua từng giai đoạn phát triển của xã hội. Bởi vậy, thời điểm lịch sử thay đổi dẫn đến khái niệm về quốc tịch, pháp luật về quốc tịch thay đổi.

Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa cá nhân với một Nhà nước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Quốc tịch là căn cứ duy nhất xác định công dân của một Nhà nước, là “sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó”. Mỗi quốc gia có một chế định pháp lý khác nhau về quốc tịch, do vậy, Luật quốc tịch mỗi nước quy định cụ thể vấn đề về nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của mỗi công dân phù hợp với đặc thù của nước đó.

Pháp luật về quốc tịch của mỗi nước có những nội dung khác nhau trong đó có sự thừa nhận sự bình đẳng của các cá nhân với nhau trong mọi lĩnh vực đời sống đảm bảo thực hiện nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật phù hợp với luật quốc tế. Sự quy thuộc về mặt pháp lý trong vấn đề quốc tịch đồng nghĩa với việc một công dân nhận được các quyền lợi mà nhà nước và pháp luật nước này đảm bảo cho họ được thụ hưởng, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước đó đối với việc bảo vệ quyền lợi cho cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân, cũng như trong mối quan hệ quốc tế mà người đó tham gia nhân danh chính cá nhân họ.

Continue reading

LUẬT QUỐC TỊCH NHẬT BẢN

(Luật số 147 năm 1950, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 268 năm 1952,

Luật số 45 năm 1984 và Luật số 89 năm 1993).

CHƯƠNG I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.

Các điều kiện cần thiết để trở thành công dân Nhật Bản sẽ được quy định trong các điều khoản của Luật này.

CHƯƠNG II

NHẬP QUỐC TỊCH

Điều 2. Có quốc tịch do sinh ra.

Trẻ em được công nhận là công dân Nhật Bản nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Tại thời điểm trẻ em sinh ra, cha hoặc mẹ là công dân Nhật Bản.

2. Cha của trẻ em đã chết trước khi đứa trẻ sinh ra, có quốc tịch Nhật Bản ở thời điểm người cha chết.

3. Trẻ em không xác định được cha mẹ là ai hoặc cha mẹ là người không quốc tịch sinh ra trên lãnh thổ Nhật Bản thì mang quốc tịch Nhật Bản.

Continue reading

LUẬT QUỐC TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ HÀN QUỐC

(Luật số 5431, ngày 13-12-1997)

Điều 1. Mục đích

Luật này quy định các thủ tục để trở thành công dân nước Cộng hoà Hàn Quốc.

Điều 2. Có quốc tịch do sinh ra.

(1) Người nào đáp ứng một trong các điều kiện sau đây sẽ được công nhận là công dân nước Cộng hoà Hàn Quốc tại thời điểm sinh ra:

1. Cha hoặc mẹ người đó là công dân nước Cộng hoà Hàn Quốc tại thời điểm người đó sinh ra;

2. Người có cha đã từng là công dân nước Cộng hoà Hàn Quốc tại thời điểm chết, nếu như chết trước khi người đó sinh ra;

3. Người được sinh ra trên lãnh thổ nước Cộng hoà Hàn Quốc, không xác định được cha mẹ là ai hoặc cha mẹ là người không quốc tịch.

(2) Trẻ em bị bỏ rơi được tìm thấy trên lãnh thổ nước Cộng hoà Hàn Quốc được xem như là sinh ra trên lãnh thổ nước Cộng hoà Hàn Quốc.

Điều 3. Có quốc tịch do được thừa nhận.

(1) Người không có quốc tịch nước Cộng hoà Hàn Quốc được công nhận bởi cha hoặc mẹ là công dân nước Cộng hoà Hàn Quốc và theo quy định sau đây, người đó có thể được nhập quốc sau khi gửi thông báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Continue reading

LUẬT QUỐC TỊCH NĂM 1996 CỦA VƯƠNG QUỐC CAM PU CHIA

CHƯƠNG I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.

Mục đích của Luật này là xác định quốc tịch Khơ me cho những người sống trên lãnh thổ Vương quốc Campuchia hoặc ở nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định trong Luật này.

Điều 2.

Công dân Khơ me là người có quốc tịch Khơ me.

Công dân Khơ me không bị tước quốc tịch, bị trục xuất hay dẫn độ sang nước khác, trừ khi có thoả thuận song phương.

Điều 3.

Công dân Khơ me sống ở nước ngoài sẽ:

Được Nhà nước bảo hộ ngoại giao.

Không tự động mất quốc tịch.

CHƯƠNG II

CÓ QUỐC TỊCH KHƠ ME DO SINH RA

Điều 4.

1. Có quốc tịch phụ thuộc vào nơi sinh trong các trường hợp sau:

– Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Khơ me.

Continue reading

LUẬT QUỐC TỊCH THÁI LAN

Điều 1. Luật này được gọi là “Luật quốc tịch B.E. 2508”.

Điều 2. Luật này có hiệu lực chính thức từ ngày đăng Công báo Chính phủ.

Điều 3. Những Luật sau đây sẽ được bãi bỏ:

(1) Luật quốc tịch B.E. 2495;

(2) Luật quốc tịch (số 2), B.E. 2496;

(3) Luật quốc tịch (số 3), B.E. 2499;

(4) Luật quốc tịch (số 4), B.E. 2503).

Điều 4. Trong Luật này:

"Người nước ngoài" có nghĩa là một người không có quốc tịch Thái Lan;

"Cán bộ có thẩm quyền" nghĩa là người được Thủ tướng chỉ định để thực thi Bộ luật này;

"Bộ trưởng" nghĩa là Bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý và điều hành việc thực thi Bộ luật này.

Điều 5. Việc được công nhận quốc tịch Thái Lan theo Điều 9 hoặc 12, tước quốc tịch Thái Lan quy định tại Chương II, hay việc trở lại quốc tịch Thái Lan quy định tại Chương III, có hiệu lực bắt đầu từ thời điểm đăng công báo và có hiệu lực riêng.

Điều 6. Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm quản lý và điều hành việc thực hiện Luật này và có quyền chỉ định những cán bộ có thẩm quyền và ban hành những qui định cấp Bộ qui định các mức phí không vượt quá hạn mức theo Phụ lục của Luật này, và miễn phí cho bất kỳ ai đáp ứng đủ yêu cầu trong những trường hợp sau:

Continue reading