QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

NGUYỄN HỒNG ANH

Khi một cá nhân hoặc một pháp nhân bỏ tiền hoặc tài sản để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, họ trở thành nhà đầu tư và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 (“Luật Đầu Tư”). Cũng theo Luật Đầu Tư, nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư thông qua hai hình thức: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Ở hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư thực hiện việc mua cổ phiếu, trái phiếu các giấy tờ có giá khác, đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà không tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Ngược lại, ở hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư tham gia vào việc quản lý hoạt động đầu tư. Ta tạm quy ước gọi nhà đầu tư theo hai loại hình đầu tư nêu trên là nhà đầu tư gián tiếp và nhà đầu tư trực tiếp. Các phân tích về nhà đầu tư gián tiếp và các quyền của họ, sẽ được thực hiện, tốt hơn, tại một đề tài khác và liên quan tới thị trường chứng khoán. Các quyền của nhà đầu tư trực tiếp theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO và BT cũng sẽ được phân tích riêng tại một chuyên đề khác. Trong khuôn khổ bài viết này, ta thử tìm hiểu về các quyền của nhà đầu tư trực tiếp, lần lượt theo các giai đoạn của quá trình đầu tư: chuẩn bị đầu tư (1), triển khai thực hiện dự án đầu tư (2), và kết thúc đầu tư (3).

1. Chuẩn bị đầu tư

Về nguyên tắc, Luật Đầu Tư ghi nhận nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh. Nhà đầu tư có quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này, nhà đầu tư phải tuân theo một số thủ tục nhất định. Liên quan tới việc đăng ký đầu tư hoặc thẩm định đầu tư đối với các dự án, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải thực hiện các thủ tục không giống nhau.
Đối với các dự án không có vốn đầu tư nước ngoài, có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm tỷ đồng Việt Nam đến dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh. Và nếu nhà đầu tư trong nước có dự án gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì việc thực hiện đăng ký kinh doanh trước theo quy định của Luật Doanh Nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu Tư.

Continue reading →

HIỆP ƯỚC LUẬT NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

(Thông qua tại Geneva ngày 27.10.1994)

Điều 1. Thuật ngữ viết tắt

Với các mục đích của Hiệp ước này, trừ khi có tuyên bố khác một cách rõ ràng:

(i) "Cơ quan" là cơ quan được một Bên ký kết giao trách nhiệm về việc đăng ký nhãn hiệu;

(ii) "đăng ký" là đăng ký nhãn hiệu do một Cơ quan thực hiện; (iii) "đơn" là đơn đăng ký;

(iv) sự đề cập đến một "người " phải được hiểu là sự đề cập đến cả thể nhân và pháp nhân;

(v) "chủ sở hữu" là người được ghi nhận trong đăng bạ là chủ sở hữu đăng ký;

(vi) "đăng bạ nhãn hiệu" là tập hợp các dữ liệu tại một Cơ quan, bao gồm nội dung và dữ liệu liên quan đến tất cả các nhãn hiệu được đăng ký bất kể dữ liệu đó được lưu trữ trên phương tiện nào;

(vii) "Công ước Paris" là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, được ký tại Paris ngày 20 tháng 3 năm 1883, đã được sửa đổi, bổ sung;

(viii) "Bảng Phân loại Nice" là bảng phân loại theo Thỏa ước Nice về Phân loại quốc tế về Hàng hóa và Dịch vụ nhằm mục đích Đăng ký Nhãn hiệu, được ký tại Nice ngày 15 tháng 6 năm 1957, đã được sửa đổi, bổ sung;

(ix) "Bên ký kết" là bất kỳ Quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ nào là thành viên của Hiệp ước này;

(x) Sự đề cập một "tài liệu phê chuẩn" phải được hiểu là sự đề cập cả tài liệu chấp nhận và chấp thuận;

Continue reading →

Ý KIẾN TRAO ĐỔI ĐỂ HOÀN THIỆN QUI ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn; nhưng lại không qui định hình thức hợp đồng vay tài sản như thế nào thì luật không qui định, mà chỉ qui định hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên.

Các vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản chiếm đa số trong các vụ án dân sự; trừ số ít vụ án “đòi nợ” có hợp đồng vay tín dụng với ngân hàng, còn phần lớn các vụ án đòi nợ được xác lập giữa các bên không có hợp đồng vay tài sản. Chứng cứ của bên cho vay chỉ là giấy mượn, giấy vay tiền, giấy xác nhận nợ…, những loại giấy này chỉ được bên vay đơn phương viết và ký xác nhận.

Với những loại chứng cứ trên, việc đòi nợ, thì nội dung vụ án rất là phức tạp, khi các bên không công nhận việc vay nợ lẫn nhau, tỷ lệ lãi suất phải trả, phần lớn các vụ án bị đơn lại không chấp nhận số tiền ghi trên giấy nợ do chính bị đơn viết và viện dẫn rằng đây là tiền chơi hụi, tiền cho vay nặng lãi. Nguyên đơn đã yêu cầu hoặc dồn ép bị đơn phải viết giấy nợ lại, nhưng lại không hủy giấy nợ cũ, nay nguyên đơn lợi dụng giấy nợ cũ để làm chứng đòi nợ bị đơn.

Từ những vụ án đòi nợ phức tạp đã qua, thiết nghĩ cần phải có hướng dẫn cụ thể dựa vào Điều 471 BLDS năm 2005 về hình thức hợp đồng vay tài sản bằng văn bản. Ví dụ như đối với hợp đồng vay tài sản có giá trị từ bao nhiêu trở lên, có thể từ 5 triệu hay 10 triệu đồng trở lên cần phải lập bằng văn bản có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân phường, xã hoặc là luật sư xác nhận làm chứng (vì địa vị của luật sư không thể làm chứng gian dối được) thì lúc đó văn bản hợp đồng vay vốn  mới có giá trị pháp lý, lúc đó người đi vay không có lý do gì  để phủ nhận việc vay của mình, người cho vay cũng không có lý do gì ép người vay hoặc lợi dụng giấy tờ vay không rõ ràng để khởi kiện đòi nợ. Có như vậy mới giúp cho tòa án xét xử về hợp đồng vay được đúng đắn và khách quan, bảo đảm sự công bằng của pháp luật đến mọi người dân.

Continue reading →

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

THS. VIÊN THẾ GIANG

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững và tạo lập niềm tin đối với người tiêu dùng thì thương hiệu được coi là yếu tố đóng vai trò trung tâm trong việc giành, giữ và vươn lên trên thị trường ngày càng cạnh tranh sôi động. Các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam cũng đang có những chuyển mình nhằm nâng cao vị trí của mình trước những đối thủ cạnh tranh ngày càng mạnh. Hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu của các NHTM Việt Nam cũng đã được quan tâm thích đáng, song cũng còn nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết thấu đáo, trong đó có việc nhìn nhận những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển thương hiệu của các NHTM Việt Nam.

1. Các yếu tố kinh tế – xã hội

1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển thị trường ngân hàng

Vấn đề xây dựng, vận hành thị trường ngân hàng phát triển an toàn lành mạnh luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm nhằm tạo lập cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM hoạt động kinh doanh để tạo lập vị thế của mình trên thị trường. Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) xác định định hướng chính sách tiền tệ và tín dụng là: “…phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, áp dụng đầy đủ các thiết chế và chuẩn mức quốc tế về quản trị ngân hàng. Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước. Nâng cao chất lượng tín dụng, khả năng sinh lời, xử lý nhanh nợ đọng, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức an toàn; tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại đạt chuẩn mực quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư và doanh nghiệp tiếp cận với các sản phẩm và tiện ích ngân hàng” và “… Thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta.

Continue reading →

NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÒI CHIA LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG TIỀN: BÀI HỌC TỪ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

HẢI YẾN

Thời gian gần đây, Cty cổ phần Tràng Tiền được khá nhiều báo chí nhắc đến không phải vì sản phẩm kem nổi tiếng mà vì những mâu thuẫn xung quanh sự việc người lao động đòi được trả “lương hiệu quả kinh doanh bằng 50% lợi nhuận sau thuế”. Theo các chuyên gia pháp lý, đây là sự đòi hỏi hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Trước hết, cần phân biệt giữa tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương và chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu được tính vào cuối năm bằng cách lấy tổng doanh thu cộng các khoản thu nhập khác trừ tổng chi phí sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hợp lệ và thuế TNDN phải nộp.

Vô lý

Vì vậy, nếu xác định “lương hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệ % lợi nhuận sau thuế” là xác định một khoản phải chi ngay trên cơ sở một chỉ tiêu chưa biết hoặc mới chỉ là ước tính. Bên cạnh đó, sau khi đã bù đắp các khoản chi phí, trong đó có chi phí tiền lương và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước, trong các DN, lợi nhuận sau thuế là của chủ sở hữu. Với các DNNN, đó là của Nhà nước, với các Cty cổ phần, đó là của các cổ đông – những người là chủ sở hữu của Cty. Quy định đó là hợp lý vì khi DN có lãi thì chủ sở hữu được hưởng phần lợi nhuận sau thuế, ngược lại, nếu DN kinh doanh thua lỗ, thì chủ sở hữu sẽ bị mất vốn góp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định tại Điều lệ Cty. Khoản 12, Điều 22 Luật DN năm 2005 quy định một trong những Nội dung của Điều lệ Cty là: “12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh”. Điều lệ Cty do các cổ đông thông qua, không có quy định nào bắt buộc phải lấy ý kiến của người lao động vào văn bản này.

Continue reading →

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở THỤY ĐIỂN

THS. NGUYỄN BÍCH NGỌC – Viện Khoa học BHXH

Có lẽ trên thế giới từ "thất nghiệp" không còn là xa lạ với phần lớn các quốc gia – kể cả những nước giàu có như Thụy Điển. Việc đảm bảo chi tiêu mỗi khi lâm vào cảnh thất nghiệp luôn là những thách thức đối với người lao động, tuy nhiên trên một bình diện nào đó thì các công dân Thụy điển "dễ thở" hơn rất nhiều công dân của các nước châu Âu khác vì có hệ thống phúc lợi khá "hào phóng" của chính phủ. Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của đất nước này đảm bảo những người có thu nhập trung bình vẫn có khả năng chi trả cho cuôc sống bình thường của mình trong suốt thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp và tìm kiếm công việc mới.

Phần lớn những người làm việc ở Thụy điển đều tham gia Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trong 200 ngày đầu tiên sau khi thất nghiệp, mức quyền lợi được hưởng tối đa là 80% theo mức lương trước khi thất nghiệp, nhưng không quá 680 cu-ron/ngày; 100 ngày tiếp theo (có thể được kéo dài tới 1 năm sau đó) mức hưởng trợ cấp còn 70%. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng đều được hưởng mức tối đa mà chỉ có những người có mức thu nhập thấp thì mới được nhận 80% tiền trợ cấp.

Tại Thụy điển, phần lớn tiền đảm bảo cho trợ cấp thất nghiệp lấy từ tiền thuế, nhưng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở quốc gia này được quản lý bởi những tổ chức tư nhân – chủ yếu là các nghiệp đoàn. Người lao động không nhất thiết phải là công dân Thụy điển – người lao động chỉ cần có giấy phép nhập cư và có thẻ cư trú là đủ điều kiện để tham gia Bảo hiểm thất nghiệp.

Hệ thống nghiệp đoàn ở Thuy điển hết sức linh hoạt đối với những người liên quan đến các ngành nghề khác nhau. (Ví dụ: Tổ chức nghiệp đoàn cơ khí thì dành cho những người làm việc trong ngành công nghiệp nặng, tổ chức nghiệp đoàn giáo viên – có tên là Läraförbundets Arbetstöshetskassa – dành cho những người làm công tác giảng dạy. Người lao động không nhất thiết phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo nghiệp đoàn nghề nghiệp mà có thể tham gia các quỹ bảo hiểm thất nghiệp khác, tuy nhiên có một số nghiệp đoàn giảm mức đóng cho người trong nghiệp đoàn.

Continue reading →

KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ MẤT SỨC LAO ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS. MẠC VĂN TIẾN

Kinh nghiệm quốc tế

Trong Công ước 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được thông qua ngày 28/6/1952 có quy định các tiêu chuẩn tối thiểu các trợ cấp BHXH. Theo Công ước này có 9 nhánh chế độ BHXH là: chế độ chăm sóc y tế (BHYT); chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ bảo hiểm thất nghiệp; chế độ hưu (bảo hiểm tuổi già); chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ & BNN); trợ cấp gia đình; chế độ tàn tật (MSLĐ) và chế độ tử tuất.

Theo quy định, mọi nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này phải áp dụng ít nhất 3 trong 9 nhánh chế độ nêu trên và một trong 3 nhánh ít nhất phải có các chế độ hoặc bảo hiểm thất nghiệp, hoặc là bảo hiểm tuổi già, hoặc là chế độ TNLĐ & BNN, hoặc chế độ mất sức lao động (MSLĐ) (tàn tật), hoặc chế độ tuất. Nói cách khác một nước được coi là có hệ thống BHXH phải hội đủ tối thiểu 3 trong 9 nhánh chế độ nêu trên. Theo quy định này, chế độ MSLĐ được coi là một trong những nhánh chế độ thuộc diện “ưu tiên”.

Theo quy định của ILO, mất sức lao động vĩnh viễn thường là đối với những người mất từ 2/3 trở lên khả năng kiếm thu nhập.

Để được hưởng trợ cấp MSLĐ thì người bị MSLĐ phải được hội đồng giám định y khoa xác định tỷ lệ mất khả năng lao động.

Phải có thời gian đóng BHXH nhất định. Thời gian định lượng có thể chỉ là 5 năm bảo hiểm hoặc có thể là 5 năm trong đó 3 năm bảo hiểm của 5 năm cuối cùng.

Continue reading →