Các tiêu chuẩn XÁC ĐỊNH CHÂN LÝ

WILLIAM S. SAHAHAN & MABEL. SAHAKAN (Thanh Chân dịch)

Tri thức luận (Epistemology) là nhánh triết học khảo cứu phạm vi là giới hạn của tri thức. Nó tìm kiếm cách giải quyết các vấn đề cơ bản như: Bản chất của tri thức là gì? khả năng và mức độ tiếp thu kiến thức của con người? Đâu là giới hạn của tri thức, về mặt lý thuyết cũng như về mặt thực tiễn ? (Thuật ngữ “epistemology” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu tri thức.)

Luận lý học (Logic) có thể được xem là một bộ phận của tri thức luận. Công việc chủ yếu của nó là khảo sát bản chất của lối tư duy chính xác và lý luận hiệu quả, bao gồm các phương pháp tư duy hợp lý. Tìm hiểu toàn bộ phạm vi của bộ môn tri thức luận và luận lý học đòi hỏi công phu nghiên cứu và cả một đời học hỏi. Tuy nhiên, bạn đọc sẽ tìm thấy trong phần này những đoạn tóm lược rất hữu ích về các vấn đề trọng tâm và hàng loạt giải pháp dành cho các vấn đề ấy. Quá trình thảo luận ở phần này bao gồm:

1. Các tiêu chuẩn (criteria) được sử dụng để phân biệt lẽ đúng sai. 2. Phân tích những lỗi nguỵ biện chủ yếu trong tiến trình lập luận (the fallacies of reasoning). 3. Gút mắc trọng tâm về bản chất của chân lý (nature of truth), bao gồm cả vấn đề liệu rằng chân lý có nằm trong tầm nắm bắt của con người hay không.

Sau đây, xin mời các bạn bước vào phần thảo luận: Các tiêu chuẩn xác định chân lý

Một trong những lãnh vực quan trọng mà luận lý học quan tâm đến là xác định các khả năng kiểm chứng chân lý, các tiêu chuẩn phân biệt lẽ đúng sai. Tiêu chuẩn xác định chân lý là thước đo chuẩn mực được dùng để đánh giá sự chân xác của các ý tưởng và nhận định. Vì lẽ đó, nó cũng được xem là một công cụ kiểm chứng sự thật.

Continue reading

CÁC TIÊU CHUẨN XÁC ĐỊNH CHÂN LÝ

WILLIAM S. SAHAHAN & MABEL. SAHAKAN (Thanh Chân dịch)

Tri thức luận (Epistemology) là nhánh triết học khảo cứu phạm vi là giới hạn của tri thức. Nó tìm kiếm cách giải quyết các vấn đề cơ bản như: Bản chất của tri thức là gì? khả năng và mức độ tiếp thu kiến thức của con người? Đâu là giới hạn của tri thức, về mặt lý thuyết cũng như về mặt thực tiễn ? (Thuật ngữ "epistemology" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu tri thức. )

Luận lý học (Logic) có thể được xem là một bộ phận của tri thức luận. Công việc chủ yếu của nó là khảo sát bản chất của lối tư duy chính xác và lý luận hiệu quả, bao gồm các phương pháp tư duy hợp lý.
Tìm hiểu toàn bộ phạm vi của bộ môn tri thức luận và luận lý học đòi hỏi công phu nghiên cứu và cả một đời học hỏi. Tuy nhiên, bạn đọc sẽ tìm thấy trong phần này những đoạn tóm lược rất hữu ích về các vấn đề trọng tâm và hàng loạt giải pháp dành cho các vấn đề ấy. Quá trình thảo luận ở phần này bao gồm:

1. Các tiêu chuẩn (criteria) được sử dụng để phân biệt lẽ đúng sai.
2. Phân tích những lỗi nguỵ biện chủ yếu trong tiến trình lập luận (the fallacies of reasoning).
3. Gút mắc trọng tâm về bản chất của chân lý (nature of truth), bao gồm cả vấn đề liệu rằng chân lý có nằm trong tầm nắm bắt của con người hay không.

Sau đây, xin mời các bạn bước vào phần thảo luận: Các tiêu chuẩn xác định chân lý

Một trong những lãnh vực quan trọng mà luận lý học quan tâm đến là xác định các khả năng kiểm chứng chân lý, các tiêu chuẩn phân biệt lẽ đúng sai. Tiêu chuẩn xác định chân lý là thước đo chuẩn mực được dùng để đánh giá sự chân xác của các ý tưởng và nhận định. Vì lẽ đó, nó cũng được xem là một công cụ kiểm chứng sự thật.

Continue reading

TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN: SẼ CÓ NHIỀU THAY ĐỔI

NGHĨA NHÂN

Tòa sơ thẩm khu vực; Tòa thượng thẩm; Viện công tố… sẽ hình thành.

Triển khai Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020, các cơ quan tư pháp trung ương đều lên kế hoạch đến năm 2009 và sang 2010 phải cơ bản hoàn thành các đề án về đổi mới tổ chức, hoạt động của ngành mình. Ở giai đoạn nước rút này, nhiều cuộc hội thảo góp ý cho các đề án đã được tổ chức.

Ba mô hình đề xuất

Tổng hợp từ các hội thảo cho thấy đến nay về phía TAND tối cao, mô hình hệ thống tòa án được đề xuất gồm bốn cấp: Tòa sơ thẩm khu vực giữ thẩm quyền cơ bản như tòa cấp huyện hiện nay. Tòa phúc thẩm vừa xử phúc thẩm án của tòa khu vực, vừa xử sơ thẩm những vụ nghiêm trọng, phức tạp… Trên nữa là các tòa thượng thẩm khu vực được tổ chức trên cơ sở ba tòa phúc thẩm TAND tối cao hiện nay, chuyên xử phúc thẩm những vụ tòa phúc thẩm xử sơ thẩm. Cao nhất là TAND tối cao chỉ còn tổng kết, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

Về phía ngành kiểm sát, VKSND tối cao đang nghiên cứu mô hình mới theo hướng tiếp tục khẳng định VKS các cấp là hệ thống cơ quan độc lập, thống nhất từ trung ương tới địa phương, trong đó viện trưởng VKSND tối cao do Quốc hội bầu. Bên cạnh trọng tâm nhiệm vụ là thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp, VKS còn đề xuất thêm chức năng đại diện nhà nước trong các vụ dân sự mà nhà nước có quyền khởi kiện nhân danh lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những người cô thế.

Ngoài ra, khi nghiên cứu, VKS cũng quan tâm tới kinh nghiệm của Trung Quốc là giao cơ quan điều tra thuộc ngành kiểm sát trực tiếp điều tra một số loại tội phạm về chức vụ, tham nhũng. Còn cơ cấu tổ chức cũng như thẩm quyền VKS tới đây có thể theo hướng tương ứng với tòa các cấp, gồm VKS khu vực, VKS tỉnh, VKS cấp cao, VKSND tối cao.

Continue reading

Một số phân tích về nguyên nhân và hậu quả CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY

Financial-Crisis-41 BÙI THỊ LÝ

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính gây nên những tổn thất to lớn trên thế giới hiện nay đang thu hút sự quan tâm không chỉ của chính phủ các nước mà còn của giới nghiên cứu trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã được mổ xẻ, phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, phân tích về nguyên nhân và hậu quả của cuộc khủng hoảng chẳng những giúp chính phủ các nước có cơ sở khoa học đúng đắn cho những giải pháp ngăn chặn, khắc phục khủng hoảng, ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai, mà còn dự báo đúng xu hướng vận động, phát triển của kinh tế thế giới để có định hướng đúng cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay được đánh giá là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, nặng nề nhất trên thế giới trong hơn 60 năm qua từ sau Đại khủng hoảng kinh tế Thế giới 1929-1933. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng được xác định là bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ lại được xác định có nguyên nhân từ việc các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay mua nhà “dưới chuẩn” với một quy mô lớn. Việc một số lượng lớn người dân đổ xô vào vay tiền ngân hàng (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) là do tình trạng lãi suất và dễ vay mượn ở Mỹ mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái sau cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 (chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED đã 11 lần giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm). Còn các NHTM có thể cho người dân vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro với một quy mô lớn là do được các công ty tài chính và ngân hàng đầu tư, trong đó đặc biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch…

Continue reading

MỘT SỐ PHÂN TÍCH VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY

BÙI THỊ LÝ

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính gây nên những tổn thất to lớn trên thế giới hiện nay đang thu hút sự quan tâm không chỉ của chính phủ các nước mà còn của giới nghiên cứu trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã được mổ xẻ, phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, phân tích về nguyên nhân và hậu quả của cuộc khủng hoảng chẳng những giúp chính phủ các nước có cơ sở khoa học đúng đắn cho những giải pháp ngăn chặn, khắc phục khủng hoảng, ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai, mà còn dự báo đúng xu hướng vận động, phát triển của kinh tế thế giới để có định hướng đúng cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay được đánh giá là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, nặng nề nhất trên thế giới trong hơn 60 năm qua từ sau Đại khủng hoảng kinh tế Thế giới 1929-1933. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng được xác định là bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ lại được xác định có nguyên nhân từ việc các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay mua nhà “dưới chuẩn” với một quy mô lớn. Việc một số lượng lớn người dân đổ xô vào vay tiền ngân hàng (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) là do tình trạng lãi suất và dễ vay mượn ở Mỹ mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái sau cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 (chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED đã 11 lần giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm). Còn các NHTM có thể cho người dân vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro với một quy mô lớn là do được các công ty tài chính và ngân hàng đầu tư, trong đó đặc biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch…

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

VỤ HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP VÀ VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT – BỘ TƯ PHÁP

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Khái niệm “Lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước[1] nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã tuyên xử đối với một cá nhân. Ở Việt Nam trong thực tiễn hơn 10 năm nay, khái niệm “Lý lịch tư pháp” được hiểu một cách chung nhất là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và tình trạng thi hành bản án đó. Thực tiễn cuộc sống cũng như những yêu cầu mới của pháp luật trong những năm gần đây cho thấy, quản lý lý lịch tư pháp có ý nghĩa ngày càng quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của cá nhân chứng minh người đó có hay không có án tích, tạo điều kiện cho người bị kết án trong việc xoá án tích, tái hoà nhập cộng đồng, đồng thời góp phần phục vụ công tác quản lý nhân sự của các cơ quan, tổ chức, phục vụ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, thống kê tư pháp v.v…

Ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, ở mỗi cấp Toà án đều có phòng lục sự với chức năng lập, lưu giữ và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Thời kỳ sau năm 1945, ở vùng Pháp tạm chiếm, chính quyền Bảo Đại đã ban hành Dụ số 14 ngày 01 tháng 09 năm 1951 quy định khá chi tiết về lý lịch tư pháp và phục quyền, theo đó thiết lập ở Trung ương Phòng Văn quỹ lý lịch tư pháp đặt tại Bộ Tư pháp và ở địa phương có Văn quỹ lý lịch tư pháp hàng tỉnh đặt tại mỗi Toà sơ thẩm và Toà hoà giải rộng quyền. Mô hình tổ chức và quản lý lý lịch tư pháp này về sau vẫn được tiếp tục áp dụng ở miền Nam trước Giải phóng năm 1975.

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

VỤ PHÁP LUẬT DÂN SỰ – KINH TẾ & VỤ PHÁP LUẬT DÂN SỰ – KINH TẾ – BTP

Ngày 18 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII, đã thông qua Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này ( Lệnh số 11/2009/L – CTN) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Trước khi ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống pháp luật, bước đầu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 72); “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh dự” (Điều 74). Bộ luật Dân sự năm 1995 đã dành hai điều 623 và 624 để quy định trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước và các quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 619 và Điều 620). Để cụ thể hóa các quy định nêu trên, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (sau đây gọi tắt là Nghị định số 47); Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 388). Các bộ, ngành có liên quan cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước và người tiến hành tố tụng (sau đây gọi chung là người thi hành công vụ) gây ra.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2717/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 31 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VÀ KỶ LUẬT SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:  Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk

Trả lời các công văn số 629/SLĐTBXH-QLLĐ&DN ngày 26/5/2009, số 774/LĐTBXH-QLLĐ&DN ngày 29/6/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk về nội quy lao động trong doanh nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

– Khoản 1, Điều 85 của Bộ luật Lao động quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

+ Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;

+ Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm;

+ Người lao động tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng.

– Khoản 1, mục III Thông tư số 19/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định: Để xử lý kỷ luật lao động phù hợp với mức độ vi phạm của người lao động khi vi phạm một trong các trường hợp quy định tại tiết a khoản 1 Điều 85 của Bộ Luật Lao động thì người sử dụng lao động căn cứ đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị để quy định cụ thể mức giá trị tài sản bị trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại được coi là nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của đơn vị để quyết định việc sa thải người lao động.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN: DỨT RUỘT KIỆN CON ĐỂ GIÀNH NHÀ

TRÙNG KHÁNH – LINH GIANG

Tiếng là đồng sở hữu nhưng người mẹ chưa được đứng tên và chẳng thể định đoạt nhà. Từ khi trở về ở trong căn nhà tại phường 2, quận Tân Bình, TP.HCM, cuộc sống của bà M. là chuỗi ngày dài đầy nước mắt, buồn tủi. Rất nhiều lần bà đạp xe đi gõ cửa nhiều cơ quan với mong muốn được làm đồng sở hữu nhà với người con trai duy nhất.

Nhà của cha mẹ, con đứng tên

Căn nhà trên rộng gần 120 m2, gồm một trệt, một lầu. Nhưng nơi bà M. ở chỉ là căn phòng nhỏ khoảng 15 m2 dưới tầng trệt, ngổn ngang đủ thứ đồ đạc. Việc nấu nướng, nghỉ ngơi và các sinh hoạt cá nhân đều được bà M. thực hiện trong phạm vi căn phòng. Mỗi lần nấu ăn bà M. phải ngồi trông chừng cẩn thận bởi lửa từ bếp dầu cũ có thể bén sang giá phơi quần áo hay các đồ dùng khác bất cứ lúc nào…

Chồng bà M. mất khi hai anh em V. (người con trai đang sống cùng bà) còn rất nhỏ. Do đồng lương giáo viên ít ỏi nên bà phải cố gắng làm thêm nhiều việc để lo cho anh em V.

Năm 1978, anh V. được mẹ gửi vào TP.HCM sống cùng ông bà ngoại để tiện việc học hành. Sau đó không lâu, em trai anh V. mất, còn anh V. thì tốt nghiệp đại học, có việc làm ổn định và được nhập hộ khẩu vào nhà ông bà ngoại.

Lúc này, bà M. nghỉ dạy do mất sức lao động và bà đã bán nhà ở quê, vào TP.HCM sinh sống cùng anh V. và cha mẹ bà. Gom tất cả tiền dành dụm, tiền bán nhà, bà M. mua hai lô đất và vì chưa có hộ khẩu nên bà để anh V. đứng tên.

Năm 1990, bà M. xây nhà và ba năm sau được cấp chủ quyền. Tất nhiên là anh V. cũng tiếp tục đứng tên trên giấy chứng nhận. Năm 1994, anh V. kết hôn và cùng vợ sống chung với bà M. tại căn nhà trên.

Continue reading