MỘT CÁCH VẬN DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NAPOLEON TRONG HỆ THỐNG PHÁP LÝ DỰA TRÊN QUYỀN SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Tổng quan

Trước khi, tiếp xúc với luật phương Tây, Việt Nam cũng có một tập hợp các quy tắc pháp lý chi phối quan hệ giữa người và người trong đời sống dân sự. Thế nhưng tập hợp đó còn xa mới đạt trình độ của một hệ thống pháp luật dân sự theo đúng nghĩa khoa học của từ ngữ. Riêng trong lĩnh vực tài sản, pháp luật Việt Nam chỉ thực sự phát triển kể từ các luật gia Pháp tìm cách đưa vào Việt Nam những thành tựu của văn hoá pháp lý romano-germanique trong khuôn khổ xây dựng hệ thống pháp luật thuộc địa.

Có thể nói rằng với sự ra đời của các Bộ dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ, theo khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Napoléon, pháp luật tài sản Việt Nam đã được hoàn thiện một bước. Nói riêng về luật bất động sản, việc ban hành Sắc lệnh điền thổ ngày 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ đã đặt cơ sở cho một chề độ quản lý quyền sở hữu tư nhân về đất theo kiểu Đức rất hoàn chỉnh. Quy tắc đặc trưng của chế độ đó, tại Điều 362 của Sắc lệnh, thừa nhận rằng bằng khoán điền thổ là bằng chứng tuyệt đối và duy nhất về quyền sở hữu đất đai, đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển của tâm lý pháp luật của người Việt Nam thời Pháp thuộc và cả hiện nay.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, hệ thống pháp luật thuộc địa được thay thế bằng hệ thống pháp luật XHCN, nhưng các dấu vết của luật cũ vẫn được bảo tồn trong tục lệ. Khi xây dựng pháp luật dân sự Việt nam hiện đại, người làm luật đã lấy lại rất nhiều giải pháp tích cực của tục lệ bên cạnh việc tham khảo và tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong các nền pháp luật thuộc hệ thống latinh. Bằng cách đó, luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ mới tiếp tục chịu ảnh hưởng của luật dân sự Pháp. Đặc biệt, pháp luật Việt Nam hiện hành chấp nhận quan niệm về sở hữu trong luật của Pháp và sử dụng những khái niệm trong luật sở hữu của Pháp phát triển để phát triển các chế định cơ bản của pháp luật tài sản Việt Nam.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN VĂN LUÂN & PGS.TS. NGUYỄN VĂN TRÌNH

Đặt vấn đề

Khủng hoảng kinh tế là một trong những hiện tượng thể hiện sự xáo trộn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nó xuất hiện theo chu kỳ mà các nhà kinh tế học tư sản gọi đó là “chu kỳ kinh tế”. Tác động của khủng hoảng kinh tế đến đời sống kinh tế – xã hội rất lớn mà các nhà kinh tế học thường tìm cách giải thích nguyên nhân và đề xuất giải pháp để giải quyết nó. Sức mua sụt giảm, thị trường thu hẹp, sản xuất bị đình đốn, việc làm bị mất, thu nhập giảm sút, nền kinh tế trì trệ, ảm đạm đó là những biểu hiện của khủng hoảng kinh tế.

Trong lịch sử phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã chứng kiến nhiều cơn khủng hoảng, trong đó, sức tàn phá của cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 được xem là cơn đại hồng thủy trong kinh tế lớn nhất của thế kỷ XX. Theo Alan Greenspan, cựu Thống đốc Quỹ dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong một thế kỷ đại khủng hoảng chỉ xuất hiện một lần, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, được A. Greenspan đánh giá là cuộc đại suy thoái của thế kỷ XXI. Bởi vì hiện nay, xuất phát từ Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính đã lan sang hàng loạt các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới như EU, Nhật, Trung Quốc, Nga…và kéo nền kinh tế thế giới đi xuống, khiến Chính phủ các nước có nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) đứng đầu là Mỹ phải tổ chức cuộc họp thượng đỉnh vào ngày 15/11/2008 vừa qua tại Mỹ để tìm giải pháp ngăn chặn cuộc đại suy thoái này. Sức tàn phá của khủng hoảng kinh tế là rất lớn, vậy VN đã chịu tác động như thế nào trước cuộc suy thoái kinh tế thế giới hiện nay? Những giải pháp nào cần thực hiện để đối phó với các tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế VN?

1. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế hiện nay

Khủng hoảng kinh tế hiện nay xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ khi các định chế tài chính lớn trên thị trường tài chính Mỹ lần lượt lâm vào phá sản do các khoản nợ xấu của thị trường cho vay bất động sản dưới chuẩn gây ra. Nguyên nhân vì sao dẫn đến thảm kịch này trên một thị trường luôn được xem là chuẩn mực nhất trên hành tinh? Có thể kể nhiều nguyên nhân dưới góc nhìn của các nhà phân tích khác nhau.

Continue reading

NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA TỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN MINH TUẤN

Ngày nay, cụm từ toàn cầu hóa không còn xa lạ với chúng ta. Nó đã trở nên quen thuộc thông qua nhiều bài báo, tạp chí, sách nghiên cứu, các cuộc hội thảo khoa học. Người ta coi thế giới giờ gần như đã bị làm phẳng, theo xu thế đó, các quốc gia kém phát triển sẽ có những cơ hội phát triển tốt hơn, sẽ bắt kịp với tốc độ phát triển các quốc gia khác. Nhưng sự thực có phải mọi quốc gia mở cửa mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng, gắn kết chặt chẽ, đều sẽ hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa? Toàn cầu hóa liệu có là phép mầu để biến một quốc gia từ đang phát triển trở thành một con rồng vươn mình bay lên? Ở đây, bài viết xin chủ yếu đánh giá những tác động quá của quá trình toàn cầu hóa trên hai lĩnh vực phổ bến là thương mại và đầu tư.

Mới đây khi tổng kết về kinh nghiệm ở 13 quốc gia được coi là tăng trưởng bền vững trong thời gian qua (7% trong vòng 25 năm kể từ năm 1950), Uỷ ban Phát triển và Tăng trưởng của Ngân hàng Thế giới có đưa ra 5 nguyên nhân chung các quốc gia này có được: Bộ máy hành chính tận tụy, hội nhập kinh tế thế giới, đầu tư và tiết kiệm cao, môi trường và sử dụng năng lượng, mối liên hệ nông thôn và thành thị. Như vậy, dường như hội nhập kinh tế thế giới, tham gia quá trình toàn cầu hóa là tất yếu để phát triển bền vững. Chúng ta hãy thử suy nghĩ theo một chiều hướng khác.

Mahathir Mohamad – Nguyên Thủ tướng Malaysia, một người có nhiều nghiên cứu về vấn đề tác động toàn cầu hóa đến các quốc gia thế giới thứ ba, đã từng nhận xét: “… trong tiến trình toàn cầu hoá như đang được quảng bá, thực hiện và thúc ép lên chúng ta, có những kẻ thắng lớn và những người thua to, và khuôn mẫu cơ bản của kẻ thắng, người thua khong hề thay đổi – và không công bằng; vì kẻ thắng luôn là những nước giàu và người thua luôn là những nước nghèo.” [2, 11]

Continue reading

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP

ĐẶNG ĐÌNH CUNG

Nước ta có Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường và những nghị định hướng dẫn thi hành nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa thể hiện một cách rõ ràng việc thực hành những văn bản pháp quy đó bằng những tiêu chuẩn kiểm định và công bố hiệu quả thực hiện. Ở các nước khác, mối quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp về lao động và môi trường được gom chung vào một khái niệm gọi là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Trong bài này, người viết xin trình bày trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, lợi ích của nó cùng một số tiêu chuẩn và văn bản hướng dẫn thực hành.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì?

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phương pháp tiến hành tự nguyện có tầm nhìn về phát triển bền vững, kết hợp xã hội và khả năng cạnh tranh. Khái niệm này bao gồm những tác động liên quan đến xã hội, môi trường và kinh tế.

Thực ra những tổ chức quốc gia và quốc tế cũng như những tổ chức phi chính phủ chưa đồng thuận về nội dung của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Các nước Anglo Saxon biểu hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với khái niệm PPP bao gồm ba lĩnh vực: con người (people), hành tinh (planet) và lợi nhuận (profit). Một số tổ chức lại còn thêm lĩnh vực quản trị (governance). Nhưng ý kiến này bị đả phá vì quản trị doanh nghiệp không có tính cách tự nguyện.

Trong quy chế và tiêu chí xét thưởng của Giải thưởng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2009, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) giới hạn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở hai lĩnh vực lao động và môi trường nhưng cũng đặt thêm tiêu chí “hoạt động kinh doanh có hiệu quả kinh tế”. Nói một cách khác, VCCI cũng dùng khái niệm PPP như đa số các tổ chức và doanh nghiệp quốc tế.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ VIỆC TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH THEO QUI ĐỊNH CỦA BLDS NĂM 2005

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Các phương pháp do luật pháp đặt ra đều căn cứ vào nguyên tắc: Người mất tích càng vắng mặt lâu bao nhiêu càng có thể coi người ấy đã chết, cho nên sự mất tích càng kéo dài, luật pháp lại càng coi nhẹ quyền lợi người vắng mặt; vì trong quyền lợi người mất tích, thủ tục tuyên bố mất tích rất phức tạp và kéo dài thời gian.

Khi một người mất tích, những người có quyền lợi liên quan với người vắng mặt có thể xin tòa nơi cư trú của người mất tích thì hành các phương pháp bảo toàn tài sản của người vắng mặt, chiếu theo Điều 75, 76, 77 và Điều 79 Bộ Luật Dân sự năm 2005, người quản lý tài sản ấy không được bán, lưu chuyển, trừ khi người mất tích có khoản nợ xác thực cần phải trả, thì phải được tòa án nơi cư trú của người mất tích cho phép bán để trả nợ.

Nếu trong hai năm liền trở lên chiếu theo Điều 78 Bộ Luật Dân sự năm 2005, không có tin tức gì về người mất tích, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo trên các phương tiện truyền thông, niêm yết nơi cư trú theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức gì về người mất tích còn sống hay chết, thì theo yêu cầu của người có quyền lợi liên quan, tòa án có thể tuyên cáo người đó mất tích.

Chiếu theo Điều 81 Bộ Luật Dân sự năm 2005 qui định người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố một người đã chết trong các trường hợp sau đây: a) Sau 3 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; b) Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 1 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác; d) Việt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo qui định tại khoản 1 Điều 78 Bộ Luật Dân sự năm 2005.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ: ĐỨT DÂY ĐIỆN LÀM HAI NGƯỜI CHẾT, CHỦ LƯỚI ĐIỆN PHẢI BỒI THƯỜNG?

VIỆT TƯỜNG

Trưa 31-12-2008, một sợi dây cáp điện của đường dây hạ thế 0,4 kV thuộc công trình lưới điện tại thôn Ngân Điền, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, Phú Yên bất ngờ bị đứt, rơi xuống vắt ngang sân nhà ông Nguyễn Thanh Sang.

Không may, đứa cháu nội gần ba tuổi của ông Sang bị vướng vào dây và bị điện giật ngã nhào. Trong cơn hoảng loạn, vợ ông Sang chạy ra kéo tay đứa cháu và sau đó thì cả hai đều chết. Cho rằng đơn vị quản lý lưới điện là Hợp tác xã Quản lý kinh doanh điện nông thôn Sơn Hà phải chịu trách nhiệm về thiệt hại trên, ông Sang đã nộp đơn yêu cầu chính quyền địa phương xử lý.

Tháng 7-2009, trả lời đơn khiếu nại của ông Sang, thượng tá Nguyễn Quốc Tuấn – Trưởng Công an huyện Sơn Hòa cho biết không thể xử lý ai cả. Bởi lẽ tai nạn xảy ra là do sự chủ quan, thiếu hiểu biết của gia đình nạn nhân. Thấy dây cáp điện bị đứt, rơi trước sân nhà nhưng gia đình không cảnh giác đề phòng, không báo cho người có trách nhiệm và có biện pháp an toàn cho người ở gần khu vực trên biết để đề phòng tai nạn. Khi cháu bé bị vướng dây cáp điện, bà nội không đủ tỉnh táo tìm vật liệu cách điện cứu cháu mà trực tiếp nắm tay nên cũng bị điện giật chết. Cũng theo thượng tá Tuấn, mặc dù có hậu quả xảy ra chết người nhưng đây là tai nạn ngoài ý muốn, không có lỗi trực tiếp của người nào, kể cả nhân viên trực tiếp quản lý và vận hành lưới điện. Căn cứ vào công văn này, UBND xã cũng đã có biên bản từ chối thanh toán chi phí mai táng cho hai nạn nhân trên.

Continue reading

DỰ THẢO THÔNG TƯ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HƯỚNG DẪN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI ĐỐI VỚI VIỆC VAY, TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA NGƯỜI CƯ TRÚ LÀ TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN (Dự thảo 2)

Căn cứ Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài;

Căn cứ Nghị định số 160/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 12 năm 2006 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối;

Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là “Ngân hàng Nhà nước”) hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của Người cư trú là tổ chức và cá nhân như sau:

MỤC I: QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh.

Thông tư này điều chỉnh hoạt động vay, trả nợ nước ngoài của Người cư trú là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng thuộc khu vực công và khu vực tư nhân (gọi chung là “Doanh nghiệp”) và Người cư trú là cá nhân.

2. Giải thích từ ngữ.

Trong Thông tư này, ngoài các từ ngữ đã được giải thích tại Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài và Nghị định số 160/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 12 năm 2006 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối, các cụm từ sau đây được hiểu như sau:

Continue reading