ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRONG VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG

ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM – Bộ Luật Tố tụng Hình sự (năm 2003) có hiệu lực hơn 4 năm qua thực tế là đã bước đầu thể chế hóa các quan điểm về cải cách tư pháp mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã nêu. Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Tố tụng Hình sự chủ yếu là “bảo đảm tranh tụng dân chủ và phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp) cũng đã nhấn mạnh “Cần chọn tòa án là khâu đột phá trong cải cách tư pháp… tòa án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước, của nền công lý nước ta, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN…”.

Để có thể nhận xét, đánh giá hoạt động của luật sư trong 2 năm qua, kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực 01/01/2007 đến nay, chúng tôi xin nêu số liệu thống kê luật sư tham gia tranh tụng trong 2 năm 2007- 2008 (tính từ 01/10/2006 đến 30/09/2008) như sau:

Năm

Hồ sơ tòa án thụ lý

Hồ sơ tòa án đã giải quyết

Luật sư tham gia theo HĐ với khách hàng

Luật sư tham gia theo CQĐT-VKS-TA yêu cầu

2007 2.132 vụ 2.117 vụ 312 lượt (15%) 677 lượt (32%)
2008 1.989 vụ 1.973 vụ 346 lượt (17,5%) 718 lượt (36%)

Số lượt luật sư tham gia (theo cả hai hình thức HĐ với khách hàng và do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu) nói trên là khá cao theo tỷ lệ chung của toàn ngành. Có thể lý giải điều này bởi lẽ Tòa Hình sự- TAND TP.HCM giải quyết hồ sơ sơ thẩm, chủ yếu là án có khung hình phạt lên đến chung thân, tử hình. Do vậy, nếu bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS) và tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ.

Continue reading

ĐỂ THỰC HIỆN ĐÚNG ĐẮN CHỦ TRƯƠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TS. ĐỖ TRỌNG BÁ – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta. Ngoài mục tiêu nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, chủ trương này còn giúp người công nhân lao động trực tiếp tại các xí nghiệp trở thành cổ đông, tức là đồng chủ sở hữu thực sự của xí nghiệp cổ phần, chứ không phải là những người làm chủ trên danh nghĩa (hình thức) như trước đây. Đó cũng chính là một mục tiêu mà chúng ta cần đạt tới trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Những bất cập khi thực hiện chủ trương cổ phần hóa

Do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, nước ta còn đang ở trong thời kỳ quá độ kinh tế lên chủ nghĩa xã hội, tức là thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải giải phóng mọi lực lượng xã hội để phát triển sản xuất, nên một bộ phận giai cấp công nhân vẫn phải làm thuê, làm thợ là điều không tránh khỏi. Song, kinh nghiệm thực tế đã cho chúng ta thấy, không được nóng vội, không thể để cho quan hệ sản xuất vượt quá xa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vì như vậy cũng chính là sự kìm hãm và phá hoại lực lượng sản xuất, chứ không phải là mở đường cho nó phát triển. Thế nhưng, không vì vậy mà chúng ta lơ là những mục tiêu cốt yếu, không quan tâm đúng mức đến việc vạch ra lộ trình từng bước giải phóng giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân lao động nói chung, trong quá trình phát triển đất nước. Nếu không quan tâm đúng mức đến vấn đề này thì chúng ta sẽ xa dần mục tiêu, lý tưởng.

Đành rằng, trong thời kỳ quá độ, một bộ phận của giai cấp công nhân vẫn phải làm thuê, làm thợ, nhưng đó là ở các xí nghiệp tư nhân tư bản chủ nghĩa (trong nước và nước ngoài). Còn ở các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điều cần làm là chúng ta phải quan tâm đến quyền làm chủ của họ. Vì vậy, chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ đúng khi chúng ta quan tâm đúng mức và thực sự, chứ không phải là sự quan tâm có tính hình thức đến số phận của người công nhân. Nếu đi chệch mục tiêu này, có nghĩa là chúng ta đang tư sản hóa, tư nhân hóa các DNNN.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 2156 BC/UBXH NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 2006 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUỐC HỘI KHÓA XI VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Theo Nghị quyết số 50/2005/QH11 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2006, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về dân số.

Ngay sau khi Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hành, Uỷ ban đã tổ chức khảo sát, đánh giá nhanh tình hình triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật về dân số, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về dân số; khảo sát, giám sát tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Cạn, Ninh Thuận, Bình Phước, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kon Tum, Khánh Hòa, Nam Định, Hải Phòng, Hà Tây, Tuyên Quang, Long An, thành phố Hồ Chí Minh; hội thảo về thực hiện chính sách, pháp luật về dân số tại Tuyên Quang, Thái Bình, Nghệ An, Long An, Nam Định, Hải Phòng; phối hợp với chuyên gia nghiên cứu đánh giá độc lập về vấn đề dân số ở cộng đồng và tổ chức nhiều hội nghị chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi kết quả giám sát về tình hình dân số.

Ngày 25/3/2006, Uỷ ban đã họp để nghe đại diện Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DS, GĐ & TE) báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về dân số. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, khảo sát, giám sát và trên cơ sở ý kiến thảo luận tại các hội nghị, hội thảo, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số vấn đề như sau:

I. KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

1.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Pháp lệnh Dân số đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 9/1/2003, có hiệu lực thi hành từ 01/5/2003. Nội dung Pháp lệnh đã đề cập toàn diện cả 4 yếu tố của vấn đề dân số, đó là quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư; do đó đã khắc phục được sự tản mạn, không thống nhất của văn bản pháp luật về dân số giai đoạn trước (trước đây, các quy định điều chỉnh các khía cạnh của vấn đề dân số được quy định rải rác ở Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình…).

Continue reading

DÂN SỐ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

DƯƠNG NGỌC

Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm 1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm.

Trong đó:

– Thời kỳ 1921 – 1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm;

– Thời kỳ 1943 – 1951 tăng 56,1 nghìn người/năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và số người bị chết trong chiến tranh.

– Thời kỳ 1951 – 1957 tăng 753 nghìn người/năm hay tăng 3,03%/năm;

– Thời kỳ 1957 – 1976 tăng 1.135,8 nghìn người/năm hay tăng 3,08%/năm;

– Thời kỳ 1976 – 1985 tăng 1.190,2 nghìn người/năm hay tăng 2,21%/năm;

– Thời kỳ 1985 – 2008 tăng 1.142,9 nghìn người/năm hay tăng 1,60%/năm;

riêng thời kỳ 2000 – 2008 tăng 1.065,6 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,31%/năm.

Như vậy, mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh.

Continue reading

CEDAW VÀ PHÁP LUẬT: NGHIÊN CỨU RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ GIỚI VÀ QUYỀN QUA LĂNG KÍNH CEDAW

QUĨ PHÁT TRIỂN LIÊN HỢP QUỐC – UNIFEM

Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam dựa trên cơ sở giới và quyền này là đúng lúc và phù hợp nhất ở Việt Nam. Việc thông qua Luật Bình đẳng giới vào ngày 29-112006 và việc đánh giá của Uỷ ban về Xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Ủy ban CEDAW) vào ngày 17-1-2007 báo hiệu sự cần thiết nghiên cứu rà soát xem văn bản pháp luật hiện hành đã phù hợp với các tiêu chuẩn về bình đẳng giới hay chưa và liệu có cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay ban hành văn bản mới hay không.

Việc nghiên cứu rà soát này nhằm mục đích giúp quá trình đánh giá và hoàn thiện văn bản pháp luật. Do vậy, hy vọng công trình nghiên cứu rà soát này sẽ có ích cho những người soạn thảo văn bản pháp luật cũng như những người tuyên truyền vận động cho bình đẳng giới đang muốn chuyển hệ thống pháp luật hiện hành thành một hệ thống pháp luật có đưa vào một cách đầy đủ các nguyên tắc về bình đẳng giới và không phân biệt đối xử.

Khi tiến hành hoạt động nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam dựa trên cơ sở giới và quyền, Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) đã được chọn làm khuôn khổ và công cụ phân tích, vì CEDAW là một điều ước về quyền con người và ủng hộ mạnh mẽ phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền để đòi được hưởng quyền. Công ước này còn là một điều ước ủng hộ mạnh mẽ bình đẳng giới và không phân biệt đối xử trong tất cả các lĩnh vực.

Công ước nhấn mạnh nghĩa vụ của quốc gia thành viên để bảo đảm sự thụ hưởng quyền bình đẳng. Sau cùng, với tư cách là một điều ước và do đó bản thân nó cũng là một văn bản pháp luật, Công ước CEDAW là căn cứ phù hợp nhất trong những cuộc bàn luận về pháp luật và cải cách pháp luật.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 1346/BC-UBXH12 NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Luật bình đẳng giới được thông qua ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá XI và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Nhằm góp phần đánh giá hiệu quả triển khai thi hành Luật bình đẳng giới sau hơn 1 năm rưỡi tổ chức thực hiện và phục vụ việc thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia bình đẳng giới tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII, Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành một số hoạt động khảo sát, giám sát về tình hình thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới tại một số địa phương (Hậu Giang, Kiên Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bình Định, Quảng Ngãi, Hà Nội, Bình Phước, Đắc Nông) và một số bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội (Bộ lao động – thương binh và xã hội; Bộ văn hóa, thể thao và du lịch; Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ giáo dục và đào tạo; Bộ nội vụ; Bộ y tế; Ủy ban dân tộc; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) vào cuối năm 2008 và trong quý I năm 2009. Đồng thời, Ủy ban về các vấn đề xã hội cũng tiến hành lồng ghép vấn đề này vào nội dung các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm chuyên gia nhằm thu thập thêm các thông tin.

Sau đây, Ủy ban xin báo cáo Quốc hội về kết quả giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới như sau:

I. VỀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật bình đẳng giới

Sau khi Luật bình đẳng giới được Quốc hội thông qua, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới để cụ thể hóa các quy định của Luật đã được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới, trong đó xác định vai trò và trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thi hành Luật. Các bộ, ngành, địa phương cũng đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cho phù hợp với các nguyên tắc của Luật bình đẳng giới và bước đầu triển khai việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Continue reading

CHỈ SỐ BÌNH ĐẲNG GIỚI: MỘT CÁCH NHÌN NHẬN MỚI VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

HOÀNG ANH

Chỉ số bình đẳng giới (GEI) là một chỉ số mới được Social Watch (Tổ chức phi chính phủ quốc tế về giám sát việc thực hiện các vấn đề xã hội) xây dựng vào năm 2004 nhằm đo lường một cách chính xác mức độ bình đẳng giới của một quốc gia. GEI là trung bình số học của bình đẳng giới trong 3 lĩnh vực giáo dục, kinh tế và tham chính.

Trong lĩnh vực giáo dục, bình đẳng giới được thể hiện ở trình độ biết đọc, biết viết của nam và nữ, tỷ lệ nam, nữ được tuyển vào các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Nhật Bản, Ai Len, Vanuatu và Ba ren là những nước dẫn đầu trong lĩnh vực này.

Trong lĩnh vực kinh tế, bình đẳng giới được xác định ở tỷ lệ phần trăm phụ nữ có việc làm được trả lương (không kể ngành nông nghiệp) và tỷ lệ thu nhập của phụ nữ/nam giới. Nói chung, trên toàn cầu, phụ nữ ít được tiếp cận thị trường lao động hơn so với nam giới và nếu đi làm thì bao giờ cũng bị trả lương thấp hơn. Có 52 quốc gia dẫn đầu về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế với khoảng cách chênh lệch về thu nhập của nữ và nam là 0,65. Trong đó, trung bình phụ nữ chiếm 50% dân số có việc làm được trả công.

Trong lĩnh vực tham chính, bình đẳng giới được đo lường ở tỷ lệ phần trăm phụ nữ trong quốc hội và ở cấp bộ trưởng. Thực tế là mặc dù phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số thế giới nhưng tính trung bình chỉ chiếm 15% số ghế trong quốc hội và 6% các vị trí trong nội các chính phủ. Chỉ có Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan đạt tỷ lệ nữ bộ trưởng ở mức trên 40%. Duy nhất có Thụy Điển đạt một nửa số thành viên nội các là phụ nữ vào năm 1995- một hiện tượng chưa từng xảy ra trước đây trong lịch sử. Một số công trình nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng để phụ nữ thực sự có ảnh hưởng chính trị thì họ phải nắm giữ ít nhất là 30% vị trí trên chính trường. Tuy nhiên, chỉ có một số ít quốc gia là vượt qua được mức này và hầu hết là các nước Bắc Âu như Phần Lan, Na Uy (39%), Thuỵ Điển (34%) và Đan Mạch (33%).

Continue reading

TRAO ĐỔI MỘT SỐ KHÓ KHĂN QUI ĐỊNH VỀ CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS 2004) thì các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp; cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

Về chứng minh và chứng cứ

Điều 79 BLTTDS 2004 qui định: “Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ hợp pháp; đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh; cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ.

Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các qui định về chứng cứ, chứng minh theo BLTTDS 2004 chưa phù hợp với xu thế hội nhập và cải cách tư pháp như:

– Chưa có tổ chức nào để giúp người dân thu thập chứng cứ được pháp luật công nhận việc sưu tầm, sao chép, chụp hình ảnh hiện trạng hoặc lập biên bản về các sự kiện xảy ra trước hay sau khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện… (hy vọng sau này sẽ có tổ chức thừa phát lại giúp người dân thực hiện về chứng cứ, chứng minh).

Continue reading