TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

TS. LƯU BÌNH NHƯỠNG

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động (hay còn gọi là quan hệ công nghiệp (industrial relations), người sử dụng hoặc đại diện của họ có một vị trí, vai trò rất quan trọng.

1. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động và vị trí pháp lý của nó

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động (hay còn gọi là quan hệ công nghiệp (industrial relations)), người sử dụng hoặc đại diện của họ có một vị trí, vai trò rất quan trọng.

Luật lao động theo trường phái cổ điển thường chú trọng đến việc bảo vệ người lao động bởi lẽ người lao động là chủ thể yếu thế trên thị trường lao động và thường lép vế trong mối quan hệ lao động. Quan niệm về một thứ luật lao động với những quy phạm dày đặc nhằm tạo ra một “tấm áo giáp” pháp luật cho người lao động đã vô tình làm lu mờ vai trò của người sử dụng lao động – một đối tác cần thiết trong mối quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của sự xuất hiện và phát triển của pháp luật lao động thì điều đó là cần thiết và dễ hiểu.

Đến một giai đoạn phát triển nhất định của quan hệ lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động dần được khẳng định vị trí trong môi trường lao động và trong xã hội. Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động là một chủ thể không thể thiếu trong các quy định của luật lao động.

Theo cách hiểu chung nhất, tổ chức đại diện người sử dụng lao động lao động là thiết chế được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Việc xác lập các tổ chức đại diện người sử dụng lao động đề dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do liên kết.

Continue reading

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG

TẠ THANH BÌNH

1. Mô hình tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung theo pháp luật một số nước trên thế giới

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung là thị trường chứng khoán nơi các giao dịch chứng khoán được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất dưới dạng các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)1, tại đó người mua và người bán (hay đại diện và những nhà môi giới của họ) gặp nhau để tiến hành giao dịch. Vì vậy, người ta còn gọi SGDCK là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả2. Giá cả của chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung được xác lập chủ yếu qua cơ chế đấu lệnh tập trung.

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung được tổ chức dưới hình thức các SGDCK. Theo Liên đoàn các SGDCK thế giới (WFE), hiện nay trên thế giới đang tồn tại 4 mô hình tổ chức SGDCK phổ biến. Mỗi mô hình có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, được các nước áp dụng tuỳ theo từng giai đoạn phát triển nhất định của thị trường, bao gồm:

i) SGDCK tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn được sở hữu bởi các thành viên (còn gọi là mô hình thành viên). Theo mô hình này, SGDCK do các thành viên là các công ty chứng khoán (CTCK) sở hữu. Thành viên vừa là người tham gia giao dịch vừa là người quản lý SGDCK, nên có thể phát huy tối ưu vai trò tự quản, nâng cao tính hiệu quả và nhanh nhạy trong việc xử lý các vấn đề phát sinh của thị trường. SGDCK theo mô hình thành viên thường hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận, chủ yếu là mang tính chất phục vụ cho hoạt động giao dịch cho chính các thành viên tại SGDCK. Những lợi ích kinh tế gắn bó với tư cách thành viên được phân chia một cách công bằng hoặc trên cơ sở phần đóng góp của thành viên vào SGDCK. Hiện nay có tới 16,3% SGDCK áp dụng mô hình này như: Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Sri Lanka…

Continue reading

MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CHẾ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

TS. PHẠM TUẤN KHẢI – Phó Trưởng ban Ban Xây dựng Pháp luật- VPCP

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các yêu cầu của  giai đoạn mới – giai đoạn phát triển dân chủ và hội nhập kinh tế quốc tế.

Khi nói đến pháp luật ở Việt Nam, chúng ta thường có quan niệm: pháp luật nước ta chưa đi vào thực tiễn, chưa phản ánh hết các quan hệ kinh tế – xã hội. Hay nói cách khác, các quy phạm pháp luật chưa điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội mà người dân mong muốn. Chúng ta đang chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nhưng các yếu tố của kinh tế thị trường lại chưa được các quy định của pháp luật điều chỉnh (hoặc nếu có thì rất chậm như trong lĩnh vực đầu tư, đổi mới doanh nghiệp, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, tổ chức bộ máy…). Điều này cũng dễ hiểu vì các lý do sau đây:

– Chưa có một tư duy mới về xây dựng pháp luật hiện đại, đặc biệt là định hướng tư tưởng chính sách cho việc xây dựng pháp luật;

– Quá trình xây dựng các văn bản còn cục bộ, bản vị, kéo lợi thế về bộ ngành( là cơ quan chủ trì), đẩy khó khăn cho các bộ, nghành khác;

– Việc phối kết hợp trong xây dựng pháp luật giữa các chủ thể tham gia xây dựng pháp luật chưa tốt, đặc biệt là việc tham gia ý kiến của các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các văn bản;

– Thiếu thông tin khoa học trong xây dựng pháp luật;

– Trình độ xây dựng (kỹ thuật xây dựng pháp luật) của cán bộ, công chức thấp;

– Kinh phí cho việc xây dựng pháp luật không đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật;

– Kiểm tra việc thực hiện pháp luật chưa tốt  v.v…

Continue reading

ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN: VẤN ĐỀ BỨC XÚC CỦA HẬU GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

NGUYỄN MINH PHONG – PHẠM THỊ MINH UYÊN

Trong những năm gần đây, đô thị hóa kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu đất cho phát triển các khu công nghiệp tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Từ năm 2001-2008, Hà Nội đã triển khai 2.818 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất, bình quân 1 năm Thành phố giải phóng mặt bằng gần 1000 ha, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp liên quan đến 178.205 hộ dân, trong 8 năm đã có khoảng 197.000 người bị mất việc do bị thu hồi đất, con số này tiếp tục tăng qua các năm.

Vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất canh tác đang ngày càng nóng bỏng, tác động sâu sắc đến sự phát triển bền vững của đất nước. Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã có những chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề và việc làm cho người nông dân, nhưng các chính sách đó vẫn còn một số mặt bất cập cần nghiên cứu và tháo gỡ.

Những bất cập về chính sách

Trong các chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất canh tác về đào tạo nghề và việc làm, có những vấn đề bất cập về chính sách nổi bật hiện nay là: Chi NSNN cho đào tạo nghề và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất canh tác trong giai đoạn từ 2001-8/2008 không ngừng tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế. Chi NSNN cho đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố tăng dần qua các năm, giai đoạn 2001-2005 tổng chi NSNN cho đào tạo nghề là 1608,8 tỷ đồng, từ 2006-2008 là 1167,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ trọng chi NSNN cho đào tạo nghề trong tổng chi NSNN cho lĩnh vực GD-ĐT lại có xu hướng giảm đi. Tổng chi NSNN cho những hoạt động trực tiếp đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành là 422,591 tỷ đồng. Trong cơ cấu chi NSNN đào tạo nghề trực tiếp cho nông thôn ngoại thành, chi đầu tư nâng cấp, củng cố, mở rộng cơ sở đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành và chi hoạt động cho các cơ sở đào tạo nghề chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 38-44%. Cơ cấu nguồn chi thường xuyên cho công tác đào tạo nghề các năm trên toàn thành phố, tỷ lệ đóng góp của người học là 85,8% và tỷ lệ đóng góp từ NSNN chiếm 87,7%.

Continue reading

MÔ HÌNH NÀO CHO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM?

DOÃN HỮU TUỆ – Viện Chiến lược Ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung ương (NHTW) chính là trái tim của nền kinh tế. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ. Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế. Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, NHTW cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.

Ở Việt Nam, trước khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời (5/1990), hệ thống Ngân hàng hoạt động theo mô hình một cấp, tức là NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng. Sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời, hệ thống Ngân hàng chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình hai cấp; theo đó, lần đầu tiên đối tượng , nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:

– NHNN thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; thực thi nhiệm vụ của một và là ngân hàng của các ngân hàng. NHNN là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.NHTW- là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền

– Các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các định chế tài chính, ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.

Continue reading