TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ Ở VIỆT NAM

VŨ THỊ NGỌC HÀ

Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án cần bắt đầu từ thẩm phán, những người đại diện cho công lý, bảo vệ công lý. Thẩm phán phải độc lập trong hoạt động xét xử theo nguyên tắc Hiến định: “…Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử

Nguyên tắc: “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã được đề cập một cách manh nha trong Bộ luật Hồng Đức. Điều 672 Bộ luật này quy định: “Các quan kể trên phải xét xử cho công bằng và đúng pháp luật”. Điều 720 cũng qui định: “Không ai được cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theo”. Tuy nhiên, đấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử độc lập.

Nguyên tắc khi xét xử: Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được qui định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946. Lịch sử phát triển của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 04 bản Hiến pháp được ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy có sự thay đổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc độc lập của các thẩm phán trong hoạt động xét xử đều được qui định trong các bản hiến pháp và các đạo luật khác được ban hành như Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không được can thiệp vào các hoạt động xét xử của tòa án. 

Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã nâng cao trách nhiệm của các thẩm phán, buộc họ nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, không bị lệ thuộc vào những lý do của những người tham gia tố tụng hay những kết luận của Viện Kiểm sát đưa ra.

Continue reading

CẦN CÓ ĐỊNH CHẾ CHO PHÉP XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ NHƯ LÀ NGUỒN BỔ SUNG LUẬT PHÁP TRONG XÉT XỬ

LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

Án lệ (tiếng pháp là Jurisprudence) được định nghĩa là: “Đường lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trong các trường hợp tương tự”.

Theo luật gia Trần Thúc Linh, cũng là cựu thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ trước ngày giải phóng, trong hệ thống tòa xét xử ở các nước tư bản cũng như của chế độ Sài Gòn trước đây thì: “Sở dĩ có được án lệ là nhờ ở Tòa Thượng thẩm (Cour d’appel) và Tòa Phá án (Cour de cassation) là những cơ quan kiểm soát lại các bản án tòa dưới, tòa phá án bảo đảm một sự thống nhất trong việc giải thích luật pháp vì lâu dần các tòa án sẽ hướng theo các án lệ của Tòa Phá án.”

Trong thế kỷ 20 và hiện nay, trong công tác xét xử và kiểm soát xét xử, các tòa án thuộc hệ thống tư pháp các nước châu Âu đã vận dụng xây dựng án lệ để phục vụ cho việc xét xử được linh hoạt, vừa đảm bảo việc áp dụng luật pháp gắn với thực tiễn cuộc sống mà chỉ có đội ngũ thẩm phán xét xử mới nắm bắt kịp thời các sơ hở, thiếu sót của các văn bản luật pháp, trong khi các nhà lập pháp không có điều kiện để xâm  nhập tìm hiểu thực tiễn, hoặc muốn sửa đổi bổ sung những khiếm khuyết của các văn bản luật cũng đòi hỏi một quá trình tu chỉnh, sửa đổi khá lâu lắc, trong khi thân phận những đối tượng bị điều chỉnh bởi luật pháp lại mang tính tức thời trong các vụ án đang đăng đàn xét xử.

Continue reading

ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI CHỖ – HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM QUAN TRỌNG TRONG HỘI NHẬP

TS. BÙI THỊ LÝ – Trưởng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức kết hợp giữa lao động trong nước với vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng phát triển mạnh, nên xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức tạo việc làm đang có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, để hoạt động này đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội cao, đòi hỏi phải chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, nhất là cần có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, kể cả các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và bản thân người lao động…

1 – Lợi ích của hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) nói chung thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu là XKLĐ trực tiếp và XKLĐ tại chỗ. XKLĐ trực tiếp là hình thức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc có thời hạn theo các hợp đồng hay các thỏa thuận hợp tác lao động giữa các tổ chức và các quốc gia. XKLĐ tại chỗ là hình thức người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho các doanh nghiệp hay tổ chức nước ngoài hoạt động ngay trên đất nước của người lao động, trong đó chủ yếu là sản xuất, kinh doanh.

Hoạt động XKLĐ trực tiếp của Việt Nam đã thu được những lợi ích to lớn về mặt kinh tế – xã hội, góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong nước. Thực tế nhiều năm thực hiện XKLĐ trực tiếp cho thấy, bên cạnh những mặt lợi, việc đưa người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cũng nảy sinh nhiều tồn tại và bộc lộ nhiều hạn chế, như: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, bỏ ra ngoài làm việc bất hợp pháp, vi phạm luật pháp của nước sở tại, xung đột về văn hóa và nhiều tác động tiêu cực khác…. Việc quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài cũng gặp rất nhiều khó khăn. Do công tác chuẩn bị chưa chu đáo, chặt chẽ, nên rất nhiều trường hợp, trước khi đi XKLĐ, người lao động không được biết rõ công việc mình sẽ làm, không được nghiên cứu kỹ hợp đồng, bị lừa gạt, phải làm những công việc không đúng như các công ty môi giới đã cam kết. Hậu quả là xẩy ra nhiều vụ tranh chấp, kiện tụng ở nước sở tại, gây nên những thiệt hại không chỉ đối với Nhà nước, các doanh nghiệp XKLĐ mà cả người lao động Việt Nam…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: MỘT CHỨNG CỨ, HAI CÁCH XỬ

HOÀNG LAM

Cùng loại chứng cứ nhưng các cấp tòa lý giải khác nhau khiến tranh chấp kéo rê nhiều năm.

Năm 2004, bà H. nộp đơn kiện đòi ông bà L. trả gần 90 m2 đất ở quận 8, TP.HCM. Bấy giờ, phía bị đơn cho rằng vào năm 2000, nguyên đơn đã lăn tay vào “bản cam kết ưng thuận” và “bản xác nhận tái sử dụng đất” (có xác nhận của UBND phường) để đồng ý cho họ được sử dụng và hợp thức hóa phần đất trên. Phản đối, nguyên đơn bảo mình không lăn tay vào giấy tờ nào cả. Năm 1988, bà chỉ cho bị đơn cất một căn chòi nhỏ để ở trên 20 m2 đất. Sau đó, bị đơn đã dần dần lấn thêm và mở rộng diện tích lên gần 90 m2, lại còn tự ý đi hợp thức hóa nhà.

Vân tay không thể giám định

Năm 2005, bà H. mất. Các con bà thay mẹ tiếp tục theo đuổi vụ kiện, kéo dài đến nay vẫn chưa xong.

Trong công văn gửi UBND TP.HCM vào năm 2001, Sở Địa chính nhà đất khẳng định nhà đất của ông bà L. đủ điều kiện để được cấp chủ quyền. Căn nhà này tuy có một phần phía sau chưa hợp lệ vì xây dựng trên đất của bà H. nhưng bà H. đã điểm chỉ vào giấy ưng thuận cho họ được hợp thức hóa phần đất này.

Do bà H. phủ nhận dấu vân tay nên để giải quyết vụ án, TAND quận 8 đã quyết định trưng cầu giám định dấu vân tay trong hai văn bản này. Tháng 11-2004, Phân viện Khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận điểm chỉ trong hai văn bản này “bị mờ nhòe, không xác định được dạng chung nên không đủ yếu tố giám định”.

TAND quận 8 quyết định trưng cầu giám định lại. Tháng 7-2005, Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an khẳng định không thể giám định lại. Bởi lẽ các mẫu vân tay dùng để so sánh in mờ nhòe, tờ khai chứng minh nhân dân đứng tên bà H. chỉ in vân ngón trỏ phải và trỏ trái. Trong khi đó, hai dấu vân tay điểm chỉ cần giám định lại không ghi rõ vân ngón nào.

Continue reading

TRÍ THỨC VÀ NHẬN THỨC PHÁP QUYỀN

B. A. KISTIAKOVSKI * (Phạm Nguyên Trường dịch và chú thích)

Pháp quyền không thể đặt bên cạnh các giá trị về tinh thần như chân lý khoa học, sự tận thiện về đạo đức hay kinh bổn của tôn giáo. Nó chỉ có ý nghĩa tương đối, nội dung của nó một phần nào đó được quyết định bởi những điều kiện kinh tế và xã hội luôn luôn biến đổi. Ý nghĩa tương đối của pháp quyền đã tạo cớ cho một số lý thuyết gia đánh giá nó quá thấp.

Một số người cho rằng pháp luật chỉ có giá trị tối thiểu về đạo đức, một số khác lại cho rằng cưỡng chế, nghĩa là bạo lực, là thành tố không thể tách rời của pháp luật. Nếu đúng là như thế thì chẳng có cơ sở nào để chê trách giới trí thức của chúng ta trong việc coi thường pháp quyền hết. Giới trí thức của chúng ta luôn hướng tới những lý tưởng tuyệt đối và trên đường đi của mình nó có thể bỏ qua cái giá trị thứ cấp này.

Nhưng văn hóa tinh thần bao gồm không chỉ một loại giá trị. Các đặc điểm mang tính hình thức của hoạt động trí tuệ và hoạt động ý chí là thành phần chủ yếu của văn hóa tinh thần. Mà trong các giá trị mang tính hình thức thì pháp luật, một hình thức phát triển hoàn hảo nhất và gần như có thể cảm nhận được một cách cụ thể nhất, đóng vai trò quan trọng nhất. Pháp luật đưa người ta vào khuôn phép nhanh hơn là tư duy lô gich và phương pháp luận hay những biện pháp rèn luyện ý chí một cách có hệ thống khác. Điều quan trọng là, khác với những hệ thống kỷ luật mang tính cá nhân nói trên, pháp luật là hệ thống mang tính xã hội và lại là hệ thống xã hội duy nhất ép người ta vào kỷ luật. Kỷ luật xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ pháp luật; xã hội có kỷ cương và xã hội có trật tự pháp luật phát triển là những khái niệm tương đồng.

Nhìn theo cách đó thì nội dung của pháp quyền đã có một ý nghĩa khác. Nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của pháp quyền chính là tự do. Nói cho ngay, đấy là tự do ngoại tại, tự do tương đối, được quy định bởi môi trường xã hội. Nhưng tự do nội tại, tự do tinh thần, tự do có tính bền vững hơn, lại chỉ có thể hiện hữu khi có sự hiện hữu của tự do ngoại tại, cái sau là trường học tuyệt vời cho cái trước.

Continue reading