XU HƯỚNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

VÕ DUY THÁI

Trong hệ thống nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc quyền quản lý của Nhà nước, việc định giá cũng như phân công cung ứng sản phẩm, dịch vụ đều theo sự chỉ đạo của Nhà nước sự thoả thuận. Có thể nói rằng, sự độc lập của các doanh nghiệp chỉ mang tính tương đối. Hiện tượng thoả thuận không những có tồn tại mà thậm chí tồn tại ở mức cao hơn: thoả thuận dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Nhà nước.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, quá trình chuyển đổi khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã diễn ra rất chậmchạp. Bản chất của việc giảm đáng kể số lượng các DNNN chỉ là sắp xếp lại, sáp nhập, hình thành những Tổng công ty. Dù rằng trong Tổng công ty có những doanh nghiệp thành viên được mang tính độc lập, song đương nhiên những công ty này phải chịu sự chỉ đạo của Tổng công ty và được thoả thuận với nhau một cách hợp pháp. Nguy hiểm hơn, sau một thời gian dài, quá trình tách chức năng chủ quản ở các bộ quản lý ngành vẫn chưa được thực hiện. Sự thoả thuận, phối hợp giữa các đơn vị doanh nghiệp trong bộ vẫn được tiến hành công khai hoặc bán công khai dưới sự chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ quản lý ngành. Hiện tượng các đơn vị trong bộ phải có trách nhiệm cung ứng cho nhau, hoặc bộ chỉ đạo cho các công ty chỉ được phép mua sản phẩm của các công ty trong bộ, hiện tượng “khép kín kinh doanh” trong một bộ là những hiện tượng vẫn thường xuyên diễn ra công khai hoặc không công khai trong thực tiễn (mặc dù hiện nay đã giảm bớt). Tuy những hiện tượng liên kết tự nguyện hoặc không tự nguyện này đã có những ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, song về mặt pháp lý, những hành vi này hoàn toàn không trái với pháp luật cho đến khi Luật Cạnh tranh ban hành.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

VĂN THÀNH

Lời dẫn:

Để phù hợp với số lượng người tiêu dùng (NTD) ngày càng tăng cũng như tạo thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp chung là đưa ra các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng (sau đây gọi tắt là “điều kiện thương mại chung”) áp dụng cho tất cả khách hàng của mình.

Sẽ chẳng có gì để nói nếu các điều kiện thương mại này là hợp lý và đảm bảo được các quyền cơ bản của NTD theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng vậy và NTD Việt Nam vẫn có thể bị vi phạm quyền lợi thông qua các điều kiện thương mại chung này. Vậy vấn đề này thể hiện trên thực tế như thế nào? Các quy định của pháp luật hiện hành đã đủ để điều chỉnh các hành vi nói trên hay chưa? Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đưa ra một số phân tích cũng như kiến nghị đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam.

1. Sự hình thành và thực tiễn thực hiện các điều kiện thương mại chung

Trước đây khi nền kinh tế của nước ta chưa phát triển, tình trạng làm ăn manh mún, nhỏ lẻ và mỗi doanh nghiệp chỉ có một lượng khách hàng không đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa kinh tế cùng với xu thế hội nhập và phát triển đã buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải “tư duy lại” và họ đã đạt được những thành công nhất định. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, đời sống của nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, người dân từ nhu cầu “ăn no mặc ấm” dần dần chuyển sang nhu cầu “ăn ngon mặc đẹp”, các hàng hoá, dịch vụ xa xỉ cũng được NTD Việt Nam đón nhận một cách sôi động. Đã có những doanh nghiệp có số lượng NTD lên đến hàng nghìn thậm chí là hàng triệu người nhất là những doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với NTD và các doanh nghiệp lớn khác. Sự thuận tiện của các điều kiện thương mại chung là không phải bàn cãi, tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng còn nhiều việc đáng quan tâm.

Continue reading

QUYỀN CỦA NGƯỜI NHẬN THẾ CHẤP ĐỐI VỚI TÀI SẢN THẾ CHẤP

NGUYỄN HỒNG ANH

Trước khi giao kết hợp đồng thế chấp, chủ sở hữu được hưởng quyền sở hữu đối với tài sản một cách trọn vẹn theo đúng nghĩa của điều 164 Bộ Luật dân sự số 32/2005/QH11. Thế nhưng, một khi được đem thế chấp để bảo đảm thực hiện cho một hoặc nhiều nghĩa vụ của chủ sở hữu, thì quyền sở hữu tài sản, khi đó, có còn trọn vẹn? Hay hỏi một cách khác đi, đứng trước tài sản thế chấp, người nhận tài sản thế chấp có những quyền gì đối với tài sản đó? Trong khuôn khổ bài viết này, ta thử lần lượt tìm hiểu các quyền của người nhận tài sản thế chấp đối với tài sản thế chấp như sau: (1) Quyền hạn chế quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu; (2) quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

1. Quyền hạn chế quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu

a. Quyền giám sát việc quản lý và sử dụng tài sản thế chấp

Hình thức thế chấp được đặc trưng bởi việc tài sản thế chấp vẫn nằm trong tay người thế chấp, và người này có quyền quản lý, sử dụng, khai thác tài sản và hưởng lợi từ việc khai thác đó như thể là tài sản chưa bị ràng buộc bởi bất cứ nghĩa vụ nào. Tuy nhiên, luật cũng quy định, một cách dứt khoát, về thái độ cần phải có của chủ sở hữu khi quản lý, sử dụng tài sản thế chấp, rằng, không được để cho tài sản bị xuống cấp, giảm sút giá trị. Người nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp hoặc trực tiếp xem, kiểm tra tài sản thế chấp (điều 351 Bộ luật dân sự).
Trường hợp việc khai thác công dụng của tài sản thế chấp mà dẫn tới nguy cơ làm cho tài sản đó bị giảm sút giá trị, thì, người thế chấp phải ngừng việc khai thác (điều 348 Bộ luật dân sự). Trong trường hợp tài sản thế chấp đang cho thuê, cho mượn theo Khoản 5 Điều 349 Bộ luật dân sự, người nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp phải chấm dứt việc sử dụng mà không cần thông qua người thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp (điều 351 Bộ luật dân sự).

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH KHÁC LUẬT!

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Sau nửa năm được miễn giảm, từ tháng 7-2009 việc nộp thuế thu nhập của cá nhân bắt đầu được thực hiện theo Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007. Thế nhưng so với luật, văn bản dưới luật lại hướng dẫn khác.

Luật Thuế thu nhập cá nhân cho phép miễn trừ gia cảnh trước khi tính thuế thu nhập đối với cả bản thân người nộp thuế và những người phụ thuộc. Mặc dù còn nhiều ý kiến cho rằng mức khấu trừ là thấp, nhưng mức miễn trừ đã được ghi nhận trong luật và có hiệu lực. Bản thân người nộp thuế được giảm trừ 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm).

Việc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc đối với người nộp thuế là điểm mới của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Điều 19 của luật quy định rõ: Mỗi người phụ thuộc được giảm trừ 1,6 triệu đồng/tháng (19,2 triệu đồng/năm). Tuy nhiên điểm tiến bộ nhất của luật đã bị “giảm trừ” đáng kể trong Nghị định quy định chi tiết thi hành luật số 100/2008/NĐ-CP.

Theo điều 12 của nghị định này, nếu người phụ thuộc có mức thu nhập từ tất cả các nguồn như lương hưu, trợ cấp, buôn bán lặt vặt, làm ruộng… mà mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/tháng (6 triệu đồng/năm) trở lên, thì sẽ không được tính là người phụ thuộc nữa. Điều đó có nghĩa là, nếu một người thuộc diện nộp thuế kèm theo một người phụ thuộc, thì thu nhập của hai người trên 5,6 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế theo Quốc hội.

Nhưng cũng hai người ấy, chỉ có thu nhập trên 4,5 triệu đồng đã phải nộp thuế thu nhập theo hướng dẫn của Nghị định Chính phủ. Như vậy, rõ ràng là đối tượng phụ thuộc, nhưng pháp luật lại “buộc” phải là độc lập. Tính công bằng mà luật hướng tới sẽ bị giảm đi đáng kể khi những người có thu nhập thấp hơn cả mức lương tối thiểu mà lại không được tính là người phụ thuộc.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHIẾU: “ÔM” CỔ PHIẾU RỒI “XÙ”

VI TRẦN

Vì giá cổ phiếu không như kỳ vọng, bên mua từ chối “ôm” dù đã ký hợp đồng, nhận tiền cổ tức… và tòa cũng hủy luôn việc mua bán này.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa tuyên hủy việc mua bán cổ phiếu giữa ông T. với bà Th. vì cho rằng giao dịch giữa hai bên không hợp pháp. Điều đáng nói là trước đó bà Th. đã đồng ý ký hợp đồng mua cổ phiếu, đã nhận tiền lãi hằng năm từ số cổ phiếu này…

Chỉ tại cổ phiếu không tăng

Đầu năm 2007, Công ty Xuất nhập khẩu B. chia cổ phần cho nhân viên để huy động vốn mở rộng kinh doanh. Theo chủ trương chung, công ty sẽ chia cổ phần cho nhân viên của công ty theo thâm niên công tác, mức lương…, sau đó sẽ phát hành ra ngoài. Công ty dự kiến mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 ngàn đồng.

Phán đoán giá cổ phiếu Công ty B. sẽ tăng, ông T. đã thỏa thuận mua hơn 130 cổ phiếu của hai nhân viên công ty với giá 150 ngàn đồng/cổ phiếu. Hai bên chỉ làm thỏa thuận mua bán bằng giấy tay vì Công ty B. chưa cấp sổ cổ đông cho nhân viên.

Có giấy thỏa thuận, ông T. bèn tìm người bán để kiếm lời và bà Th. đã đồng ý mua. Thay vì ông T. trực tiếp mua bán hơn 130 cổ phiếu với bà Th. thì ông lại nhờ một người bạn đứng ra giao dịch. Thế là vào tháng 10-2007, bà Th. đã ký vào tờ hợp đồng do ông T. soạn sẵn rồi giao hơn 400 triệu đồng cho bạn của ông T. mang về.

Sáu tháng sau thời điểm ông T. bán cổ phiếu cho bà Th., Công ty B. cấp sổ cổ đông cho nhân viên. Nhận được sổ, hai nhân viên Công ty B. liền chuyển số cổ phiếu cho ông T. như thỏa thuận ban đầu. Ông T. liền yêu cầu bà Th. đưa giấy tờ để ông chuyển tên sở hữu số cổ phiếu của mình cho bà. Song song đó, ông T. cũng đã chuyển đến bà Th. hơn ba triệu đồng tiền cổ tức mà Công ty B. chia cho số cổ phiếu trên.

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: TRỔ CỬA SỔ SANG NHÀ HÀNG XÓM, BIẾT SAI NHƯNG KHÔNG DỄ BỊT!

LINH GIANG

Quy chuẩn xây dựng hiện hành không quy định việc trổ cửa.

Sáu hộ dân ngụ hẻm 47 Trần Hưng Đạo, quận 5, TP.HCM phản ánh: Hơn 50 năm nay, họ có sử dụng chung một nhánh rẽ của hẻm 47 để làm lối đi. Do nhánh rẽ là đường cùn nên các hộ đã nâng cấp, xây nhiều bồn cây, chậu kiểng làm thành một sân chung trồng nhiều cây xanh.

Tự ý trổ nhiều cửa

Lấn cấn phát sinh khi hộ 47/19 (không thuộc sáu hộ trên) xây dựng nhà ở vào tháng 5-2009. Do hông nhà này giáp ranh với nhánh rẽ, mặt tiền nhà quay ra đoạn đầu con hẻm nên trong quá trình thi công, chủ hộ là ông T. đã di dời, phá bỏ cây xanh nhằm mở cửa đi bên hông nhà. Khi bị sáu hộ phản đối, ông T. đã bít cửa hông này. Chừng khi xây lầu thì ông lại tiếp tục mở cửa bên hông trên lầu và cửa sổ nhìn trực diện vào nhà của sáu hộ. Ngoài ra, cửa thông gió phòng vệ sinh của nhà ông T. còn hướng thẳng vào nhà 47/28.

Theo một hộ dân, khi khởi công xây dựng thì ông T. có trao đổi với các hộ về việc trổ cửa sổ và cửa hông, đồng thời yêu cầu các hộ dọn dẹp cây xanh. Nhưng sáu hộ không chấp thuận cho trổ cửa. Bởi làm vậy thì hẻm sẽ bị thu hẹp và các cây xanh cũng bị phá hỏng. Nhưng viện lẽ đã được cấp phép xây dựng, ông T. vẫn cứ theo kế hoạch mà làm.

Không còn cách nào khác, sáu hộ đã khiếu nại đến UBND phường 6 và UBND quận 5. Ngày 25-5, đại diện Phòng Quản lý đô thị quận 5 đã mời hai bên đến làm việc và yêu cầu sáu hộ dân đồng ý cho ông T. trổ cửa sổ với điều kiện “cách mặt đất 2,5 m trở lên, chỉ được trổ ít cửa sổ và không mở trực diện nhìn thẳng sang nhà các hộ”. Sau đó, đại diện của Thanh tra xây dựng quận 5 có biên bản lưu ý: Theo bản vẽ kèm theo giấy phép xây dựng thì nhà 47/19 không có cửa hông lẫn cửa sổ. Nhưng để dễ đón nắng, ông T. được trổ ba cửa sổ.

Continue reading

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

THS. BÙI THANH LAM

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về Tập đoàn kinh tế được sử dụng đối với một loại hình, quy mô, lĩnh vực, địa bàn hoạt động khác nhau nhằm chỉ sự liên kết…

1. Khái quát chung về tập đoàn kinh tế

1.1. Quan điểm về tập đoàn kinh tế trên thế giới

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về Tập đoàn kinh tế được sử dụng đối với một loại hình, quy mô, lĩnh vực, địa bàn hoạt động khác nhau nhằm chỉ sự liên kết như Cartel (liên hiệp các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ để kiểm soát giá – nôm na gọi là Hội buôn)(1); Group (Nhóm doanh nghiệp); Consortium (Tổ hợp)(2); hoặc theo cấu trúc vốn, hình thức của nhóm công ty như Stock corporations (Công ty – Công ty cổ phần); General corporations (Tập đoàn công ty cổ phần); hoặc tập đoàn kinh doanh chuyên sâu như tập đoàn dầu khí, tập đoàn tài chính – ngân hàng, tập đoàn truyền thông; hoặc theo phạm vi hoạt động có thể được gọi là tập đoàn đa quốc gia nếu tập đoàn đó có cơ sở kinh doanh ở các quốc gia khác; hoặc các doanh nghiệp có thể dựa trên cơ sở liên kết kiểu gia đình như dạng Family Business (như của Ford, Cargill, Wall-mart, Motorola,… ở châu Á, các tập đoàn được gọi là Zaibatsu, Keirestu (Nhật), Chaeblols (Tập đoàn kinh tế gia đình của Hàn Quốc)… Tuy có sự khác nhau về thuật ngữ và nội dung chuyển tải, nhưng đa phần các khái niệm được chỉ đến “tập đoàn kinh tế” trên thế giới thì đều được hiểu là một cơ cấu hoặc một tổ hợp các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về vốn, quản trị, công nghệ, quản trị, thương hiệu, thị trường, phân phối lợi ích… nhưng trên cơ sở là mỗi một thực thể trong “Tập đoàn” là một thực thể pháp lý độc lập và hoàn toàn có tư cách pháp nhân riêng biệt. Mối quan hệ này chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố khác nhau nhưng trên ba nền tảng của quan hệ là:

Continue reading