YẾU TỐ DÂN CHỦ Ở PHƯƠNG ĐÔNG

ĐINH HIỂU (Lược dịch theo báo The New Repubic, USA)

Liệu người ta có quyền thúc đẩy dân chủ trên thế giới hay đó chỉ là một cách thức áp đặt các giá trị phương Tây? Đặt vấn đề như vậy, theo nhà kinh tế Ấn Độ Amartya Sen, Giải thưởng Nobel năm 1998, là coi thường truyền thống bàn thảo của các xã hội không phải thuộc phương Tây.

Khả năng thiết lập nhanh chóng chóng nền dân chủ ở Iraq, dưới sự bảo trợ của Mỹ và đồng minh, đang gây ra một thái độ bi quan ngày càng tăng khi tính phức tạp của việc chiếm đóng và sự thiếu minh bạch bao phủ lên quá trình dân chủ hóa? Nhưng sẽ là sai lầm lớn nếu nghĩ rằng các triển vọng không chắc chắn ấy cho phép nghi ngờ rộng hơn về khả năng, và nhu cầu thiết lập dân chủ ở nước này, và ở các nước thiếu dân chủ khác nhằm đấu tranh cho quyền của mình được lắng nghe và tham dự vào đời sống chính trị.

Việc thúc đẩy dân chủ trên thế giới vấp phải hai trở ngại chính. Trước hết là sự dè dặt về kết quả dân chủ làm được ở các nước nghèo, nó có thể làm mất đi sự quan tâm chú ý tới các ưu tiên kinh tế- xã hội như an ninh, lương thực, tăng thu nhập đầu người hay cải cách thể chế. Trở ngại thứ hai dựa vào các luận cứ lịch sử và văn hóa: có chính đáng không khi đem lại dân chủ cho những dân tộc chưa từng có kinh nghiệm? Quan điểm coi dân chủ là luật lệ phổ biến đối với tất cả các dân tộc, thường bị tố cáo là một mưu đồ áp đặt các giá trị và thực tiễn phương Tây vào các xã hội không thuộc phương Tây. Thậm chí có người còn khẳng định chỉ có phương Tây mới thực dân dân chủ trong thời hiện đại. Có đúng như vậy không? Thực ra đây là một quan niệm dân chủ chật hẹp, được hình dung duy nhất thông qua các thuật ngữ về bầu cử, chứ không phải là “việc thực hành trí tuệ công cộng" như cách nói của nhà triết học Mỹ Iohns Rawls. Quan niệm rộng rãi hơn này chứa đựng khả năng đem lại cho các công dân tham gia vào các cuộc bàn luận chính trị và vì từ thế có điều kiện cân nhắc các quyết định chung. Dân chủ không chỉ giới hạn ở lá phiếu bầu cử.

Continue reading

XỬ ÁN LAO ĐỘNG: CÒN SAI VỀ THỦ TỤC, NHẦM VỀ NỘI DUNG

KHẢI HÀ

Tòa lao động TAND TP.HCM (Tòa lao động) vừa chỉ ra một số sai sót, vướng mắc trong quá trình các tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp lao động để hướng dẫn về nghiệp vụ chung.

Thiếu hòa giải

Theo Tòa lao động, một sai sót mà cấp sơ thẩm thường mắc phải là thiếu hòa giải trước khi đưa vụ án ra xử.

Điển hình là vụ ông H., một tài xế taxi kiện Công ty B. đòi bồi thường ba tháng lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật. Trước đó, vì “không ưa”, bộ phận điều hành của Công ty B. cho ông H. ngừng việc. Nhiều lần ông đến công ty đề nghị giải quyết không được nên ông đã khởi kiện. Ngược lại, công ty nói vì ông H. vi phạm kỷ luật nên công ty mới chỉ tạm ngưng tay lái để chờ xử lý chứ không phải đuổi việc.

Tòa sơ thẩm đã căn cứ vào lời khai của ông H. xác định đây là vụ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động rồi ra phán quyết. Sau đó, tòa phúc thẩm đã hủy án vì cấp sơ thẩm giải quyết án mà không qua giai đoạn hòa giải là vi phạm tố tụng. Bởi theo quy định, các đương sự phải yêu cầu hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động của cơ quan hòa giải về chuyện tranh chấp. Hòa giải không thành, đương sự kiện thì tòa mới thụ lý, giải quyết.

Tòa lao động lưu ý thêm: Nhiều vụ các đương sự chỉ tranh chấp chuyện chấm dứt hợp đồng lao động có đúng hay không nhưng không ít tòa lại giải quyết luôn hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng lao động như buộc bồi thường tiền lương, tiền thưởng, tiền nghỉ phép năm… Giải quyết như vậy là vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.

Continue reading

HỒI KẾT CỦA THỊ TRƯỜNG TỰ DO?

VĨNH TIẾN (Theo Foreign Affairs, 5-6/2009)

1. Những chủ thể nổi bật

Từ nước Mỹ, sang châu Âu và tại nhiều nơi khác của thế giới phát triển, làn sóng của chủ nghĩa can thiệp quốc gia gần đây giúp giảm tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và khôi phục kinh tế hiện tại. Tuy nhiên, ẩn giấu đằng sau sự can thiệp sâu của nhà nước vào kinh tế là sự phản kháng mạnh mẽ đối với học thuyết thị trường tự do.

Thị trường tự do lung lay

Chính phủ, chứ không phải là những cổ đông tư nhân, đang nắm quyền sở hữu những công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới và kiểm soát 2/3 nguồn năng lượng dự trữ của thế giới. Những công ty khác sở hữu hoặc kết hợp với nhà nước cùng hưởng những lợi nhuận thu được từ những nền kinh tế và thị trường mới nổi trên thế giới. “Quỹ lợi ích quốc gia” chiếm đến khoảng 1/8 nguồn đầu tư của toàn cầu, và con số này vẫn đang tiếp tục tăng. Chúng đang tiếp năng lượng cho một cỗ máy đầu tư lớn và phức tạp, mà người ta gọi đó là chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Chỉ khoảng 20 năm trở lại đây, tình hình ngày càng thay đổi. Sau những biến động lớn ở Liên Xô do những mâu thuẫn trong nước, chính quyền Kremlin đã nhanh chóng chuyển hướng đi theo mẫu hình kinh tế của phương Tây. Trong khi đó ở Trung Quốc, những cải cách thị trường tự do mà Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành hơn một thập kỷ trước đang mang lại nhiều thay đổi mới cho đất nước này. Những nền kinh tế mới nổi như Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu bãi bỏ những điều luật không hiệu quả đối với nền kinh tế của họ và tăng cường hơn các hoạt động tự do kinh doanh. Ở khắp Tây Âu, làn sóng tư nhân hóa dường như cuốn trôi sự quản lý của nhà nước ở rất nhiều công ty và các thành phần kinh tế.

Continue reading

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NỀN TẢNG HAY BÈ MẢNG?

TS. ĐẶNG XUÂN THANH – Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

Nhà nước và thị trường là những thiết chế xã hội cơ bản, vừa bổ sung lẫn nhau, lại vừa có thể thay thế cho nhau, cùng có chức năng giống nhau là phối hợp hoạt động của các cá nhân, nhưng dựa trên những nguyên lý khác nhau: hành chính mệnh lệnh và tự do cạnh tranh. Về cơ bản, trong các huyết mạch của thị trường luân chuyển các dòng tư bản, còn các huyết mạch của nhà nước lại luân chuyển các dòng quyền lực. Nằm tại giao diện giữa hai môi trường đặc thù đó, các doanh nghiệp nhà nước không chỉ có thuận lợi, mà cũng đã phải nếm trải rất nhiều gian nan.

Từ kế hoạch 3…

Cần nhắc lại rằng, cho đến giữa thập niên 1980, bất chấp việc đưa một số khuyến khích vật chất hạn chế như “khoán 100” vào sản xuất nông nghiệp hay “kế hoạch 3” vào công, thương nghiệp, nền kinh tế Việt Nam với hơn 80% sản phẩm được làm ra bởi các hợp tác xã và các xí nghiệp quốc doanh vẫn lâm vào khủng hoảng nặng nề không phải do thiên tai, địch hoạ, mà do tình trạng mất động lực tràn lan.

Quá trình Đổi Mới do Đảng phát động từ năm 1986 đã phá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp kìm hãm, từng bước chuyển giao những quyền lực quan trọng vào tay các doanh nghiệp và người dân, giải phóng các động lực mới cho tăng trưởng. Lưu ý rằng vào giai đoạn đầu, việc chuyển giao nhấn mạnh vào các quyền giao dịch, ví dụ như quyền tự chủ trong kinh doanh, định giá, xuất nhập khẩu…, chứ không phải quyền sở hữu, khiến cho cải cách kinh tế ở Việt Nam mang đặc trưng tự do hoá chứ không phải là tư nhân hoá, tránh được nguy cơ thất thoát ồ ạt tài sản công. Sự bùng nổ của thị trường, nhất là tại khu vực nông nghiệp và dịch vụ, đã cứu nền kinh tế thoát khỏi sự sụp đổ.

Continue reading

MỘT SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG VÀ TỰ DO TRONG NHÀ NƯỚC XÃ HỘI ĐỨC

PGS.TS. CAO DUY HẠ

Tự do, là quyền cơ bản của con người. Theo quan điểm của Nhà nước xã hội Đức, tự do phải được bảo đảm và thể hiện trên các lĩnh vực : Báo chí, tín ngưỡng, nghiên cứu giảng dạy… Quyền tự do phải bảo đảm tương thích với Hiến pháp, luật pháp và có giới hạn.

I- Quan niệm về công bằng và tự do xã hội trong Nhà nước Đức

Theo quan niệm của người Đức công bằng xã hội và tự do xã hội là hai giá trị cơ bản nhất. Để xây dựng Nhà nước xã hội phải làm rõ hai khái niệm này. Từ lâu ở Đức đã diễn ra nhiều cuộc tranh cãi vấn đề này và đã đi đến thống nhất :

– Mọi người có quyền tạo dựng tài sản cho riêng mình, chẳng hạn như: có nhà riêng, có quyền sở hữu một số tài sản của riêngv.v… Tuy nhiên nền kinh tế thị trường lại đưa đến sự phân bổ tài sản của cải, vật chất của xã hội không công bằng, tập trung vào một số người giàu trong xã hội. Vì vậy cần phải có Nhà nước xã hội để thực hiện phân phối lại cho công bằng.

– Bảo đảm mọi người có được mức sống tối thiểu kể cả những người ốm, bệnh tật, tàn phế. Những người khuyết tật có thể tham gia lao động và tạo ra thu nhập nhất định cho bản thân, vì vậy phải có nơi đào tạo họ. Đồng thời Nhà nước cần quan tâm hơn với những người phải chịu thiệt thòi trong xã hội. Ở Đức đã có hệ thống trợ cấp Nhà nước cho những người khó khăn, tàn tật không nơi nương tựa.

– Không chỉ có công bằng về chính trị, kinh tế mà còn phải có sự công bằng xã hội về các cơ hội : học hành, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, văn, hoá thể thao… Ở Cộng hoà liên bang Đức, tự do còn thể hiện ở sự tồn tại của các hiệp hội khác nhau đại diện cho nhóm lợi ích, nhóm quyền lợi khác nhau. Tuy nhiên thiếu sót ở Đức là chưa xây dựng luật hiệp hội nên hiện nay có nhiều hiệp hội có quyền lực lớn tác động mạnh vào Nhà nước xã hội. Sự tồn tại các hiệp hội là cần thiết cho nền kinh tế phát triển, nhưng chính phủ phải có quy định về giói hạn quyền lực của hiệp hội để nhà nước chi phối các hiệp hội. Khác với Đức, ở Mỹ và một số nước tư bản khác, công bằng hoàn toàn dựa vào sự chi phối của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh tự do của thị trường, không có sự tác động của nhà nước với vai trò là người điều tiết.

Continue reading

GIẢI PHÁP NÀO CHO BÀI TOÁN QUAN HỆ LAO ĐỘNG?

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Bóc lột, ngược đãi công nhân ở các doanh nghiệp không phải là chuyện mới, cũng không hiếm, nhất là ở một nước đang dựa rất nhiều vào đầu tư để phát triển như Việt Nam.

Đặc biệt, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, khi mà việc tìm kiếm lợi nhuận trở nên quá khó khăn, một số ông chủ hám lợi dễ có xu hướng quay sang tập trung bắt chẹt kẻ yếu, phụ thuộc vào mình, tức là người thợ, người làm công: bằng cách này, họ có thể giảm được chi phí sản xuất và qua đó, tăng thu lợi nhuận.

Quan hệ chủ-thợ, do sự chênh lệch tự nhiên, cố hữu về sức mạnh kinh tế của hai bên, luôn là mối quan hệ bất bình đẳng mà thế yếu thuộc về người thợ. Không đủ khả năng tự bảo vệ, người làm công cần sự trợ lực, nâng đỡ từ bên ngoài để có thể đứng vững trước ông chủ. Giữ chức năng người bảo đảm trật tự và công bằng xã hội, nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc này. Hoàn thiện pháp luật lao động, xây dựng hệ thống giám sát, thanh tra lao động nhạy bén, trong sạch, mẫn cán và có uy quyền là những biện pháp chủ lực.

Tại doanh nghiệp, tổ chức công đoàn phải đảm nhận tốt vai trò người nói tiếng nói tập thể của công nhân trong quá trình giao tiếp chính thức với chủ doanh nghiệp. Công đoàn đồng thời phải là người vạch kế hoạch, hướng dẫn, chỉ huy các hành động mang tính phản ứng tập thể để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của công nhân, trong các trường hợp cần thiết, như đình công… phù hợp với các quy định của pháp luật.

Continue reading

BÀN TIẾP VỀ TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN – TRẦN THANH HẰNG – NGUYỄN THANH NHÃ

Liệu một ngân hàng trung ương (NHTƯ) độc lập có giúp duy trì mức lạm phát thấp và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế cao hơn hay không? Và liệu một mô hình NHTƯ độc lập có thích hợp trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay hay không? Bài viết này nhằm trả lời hai câu hỏi trên.

Các bằng chứng thực nghiệm

Thập niên 1990 đã chứng kiến nhiều nước, trong đó có cả những nước đã và đang phát triển, thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình NHTƯ sang hướng làm tăng tính độc lập hơn cho tổ chức này. Khuynh hướng này vừa tác động, vừa chịu tác động bởi các phân tích thực nghiệm về mối quan hệ giữa sự độc lập của NHTƯ với các biến số kinh tế vĩ mô chính.

Quan hệ với lạm phát: Nghiên cứu của Alesina và Summers (1993) dựa trên các quan sát giai đoạn từ năm 1955-1988 cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa tính độc lập của NHTƯ với lạm phát bình quân và với sự biến thiên của chỉ số lạm phát. Kết quả này cũng phù hợp với những kết quả nghiên cứu khác của Cukierman, Webb và Neyapti (1992), Debelle và Fischer (1994). Điều này mang lại nhiều ý nghĩa cho Việt Nam bởi kiềm chế lạm phát đã từng là một ưu tiên chính sách của Chính phủ và trong tương lai lạm phát vẫn luôn là một nguy cơ lớn tiềm ẩn đối với nền kinh tế Việt Nam.

Quan hệ với thâm hụt ngân sách: Nghiên cứu của Pollard (1993) về mối quan hệ giữa tính độc lập của NHTƯ với cán cân ngân sách trong giai đoạn từ năm 1973-1989 đã chứng minh rằng ở những nước có NHTƯ độc lập cao thì tỷ lệ thâm hụt ngân sách càng giảm.

Continue reading

LAO ĐỘNG NGOẠI NHẬP

LÝ HẢI YẾN

Bạn, dù không làm việc ở cơ quan Liên hợp quốc, nhưng có cơ hội là đồng nghiệp của những người đến từ nhiều quốc gia. Khi thế giới trở nên phẳng, thì bất cứ ai trong số chúng ta, đều có cơ hội làm việc ở một nơi không phải quê hương bản quán của mình. Điều đó cho mỗi cá nhân cơ hội trải nghiệm cuộc sống trong một môi trường mới. Nhưng cơ hội với cá nhân lại đang trở thành nỗi đau đầu của các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, là thách thức với nhiều quốc gia trong quá trình bảo hộ lao động nội địa. Lao động ngoại nhập – nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, chính là nội dung mà TG&VN giới thiệu cùng bạn đọc trong chùm Bài chủ kỳ này.

Quy luật “nước chảy chỗ trũng”

Giờ đây, không một quốc gia nào trên thế giới còn xa lạ với khái niệm lao động nước ngoài. Nhất là khi tổ chức Thương mại Thế giới đã gia tăng lên tới con số 151 thành viên, thì sự “hiện diện thể nhân” (presence of natural person) hay lao động nước ngoài là không thể tránh khỏi. Sự dịch chuyển này tuân theo quy luật nhất định như: lao động nước nghèo sang nước giàu hơn, lao động ở các nước có nguồn lao động trẻ dồi dào sang các nước lao động có xu hướng già đi và cần một đội ngũ thay thế, hoặc cũng có thể lao động ở nơi “đất chật” tìm đến chốn “người thưa”… Mục đích duy nhất của sự dịch chuyển ấy là người lao động, bằng sức lao động của mình, tạo dựng một cuộc sống đầy đủ hơn cho bản thân và gia đình, nói rộng ra là cả xã hội.

Nước vẫn luôn chảy chỗ trũng là vì vậy. Người Anh giờ đây không còn xa lạ với lao động nhập cư là người Pháp, hay nhiều quốc gia Đông Âu khác. Trong nhiều trang trại ở các vùng ngoại ô nước Anh, người ta phải đăng các thông báo tìm việc, và hầu như chỉ có người Đông Âu quan tâm đến việc này. Tại một trang trại nhỏ như Burkin Manor, nằm ở vùng ngoại ô Slough, một thị trấn cách phía Tây London khoảng 60km, người chủ cho biết “Nông trại của tôi không thể tồn tại trong một ngày nếu như không có lao động từ Đông Âu sang. Họ rất chịu khó, chăm chỉ và thật thà. Tôi rất muốn tuyển cả công nhân Anh, nhưng có vẻ như người Anh bây giờ không muốn làm việc nông trại nữa”. Theo thống kê của nước này, hiện có khoảng 12% dân di cư từ Đông Âu đến Anh làm việc, tập trung nhiều nhất ở khu vực nông nghiệp.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 07/2009/TT-BGTVT NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ ĐÀO TẠO, SÁT HẠCH, CẤP GIẤY PHÉP LÁI XE CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 51/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải.

Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ như sau:

Phần I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Thông tư này áp dụng thống nhất đối với các cơ quan quản lý công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, cơ sở đào tạo lái xe, trung tâm sát hạch lái xe; tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ trong phạm vi cả nước.

2. Thông tư này không áp dụng đối với công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe của ngành Công an, Quân đội làm nhiệm vụ an ninh, quốc phòng.

Continue reading