LUẬT SƯ NỘI BỘ, ANH LÀ AI?

LS. TRẦN DUY CẢNH

Báo chí hàng ngày thường hay nhắc đến Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một sân chơi lớn mang tính toàn cầu với những luật lệ còn rất lạ lẫm đối với doanh nghiệp trong nước. Rồi chuyện Vietnam Airlines thua kiện, việc một doanh nhân Việt Nam bị bắt và yêu cầu dẫn độ sang Mỹ, chuyện bán phá giá ở Mỹ và châu Âu… Toàn những thông tin mà cách đây vài năm nhiều doanh nghiệp trong nước chưa từng nghe, biết. Các doanh nghiệp có thói quen làm việc “quên luật lệ” đang cảm thấy chơi vơi vì sự thiếu hiểu biết pháp luật và họ nghĩ ngay đến việc tuyển dụng luật sư nội bộ hoặc thuê hãng luật bên ngoài để lấp đầy chỗ trống đó.

Luật sư “trong nhà”

Thật ra, khái niệm luật sư nội bộ không phải là mới mẻ đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Trước đây và kể cả bây giờ, tại các doanh nghiệp nhà nước đều tồn tại một bộ phận có tên gọi là phòng pháp chế. Luật sư công ty được gọi là cán bộ pháp chế. Về thực chất, trong thời bao cấp, phòng pháp chế và cán bộ pháp chế chỉ thực hiện các quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp chứ không được tham gia vào quá trình ra quyết định của doanh nghiệp thông qua các hoạt động nghề nghiệp của mình.

Các doanh nghiệp nước ngoài thì gọi bộ phận pháp lý của họ là phòng luật và nhân viên làm việc ở đó là luật sư công ty (in-house lawyer). Người đứng đầu phòng luật thường gọi là luật sư trưởng hay trưởng phòng luật (General In-house Lawyer hoặc đơn giản là Legal Manager). Luật sư công ty dĩ nhiên phải là luật sư, nghĩa là thành viên của một đoàn luật sư nào đó và có thẻ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp. Nếu các đồng nghiệp khác làm việc cho hãng luật hay cho văn phòng luật sư thì họ lại làm việc cho doanh nghiệp với tư cách là người làm thuê hưởng lương nên gọi là luật sư công ty. Chính nơi hành nghề luật sư đã định danh cho họ.

Continue reading

XÉT HỎI HAY TRANH TỤNG?

LS. LÊ ĐỨC TIẾT

Trong Nghị quyết VIII, ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói: “Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định…”.

Để đáp ứng được những đòi hỏi trên đây, cần phải có sự thay đổi trình tự, cách xét hỏi, tranh tụng và cách đánh giá chứng cứ đã được vận hành trong các phiên toà trước đây. Việc xét hỏi tại các phiên toà hình sự lâu nay thường diễn ra theo trình tự như sau: Chủ toạ phiên toà xét hỏi toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án. Tiếp đến là các Hội thẩm nhân dân. Công tố viên hỏi về những vấn đề mà bị cáo phủ nhận tội của họ. Bào chữa viên hỏi về những vấn đề có lợi cho người được họ bảo vệ. Trình tự xét hỏi trên đây bộc lộ một số nhược điểm: Chủ toạ phiên toà trở thành người độc diễn trong xét hỏi, trở thành người có trách nhiệm phải chứng minh việc buộc tội hay việc bào chữa. Điều này gây cho những người tham gia tố tụng, những người tham dự phiên toà có ấn tượng là toà thiếu khách quan. Hiện tượng bao sân của Chủ toạ phiên toà khiến người tham dự dễ dàng biết được Toà đã nghiêng về phía nào. Điều này là tối kỵ vì nó làm xói mòn lòng tin của quần chúng vào tính khách quan, không thiên vị của Toà.

Sẽ là hợp lý hơn khi Toà – chủ toạ phiên toà trở lại đúng vị trí của mình là người điều khiển, người chủ toạ phiên toà, là người cầm chịch việc xét hỏi, hướng cho những người xét hỏi đi đúng trọng tâm, đúng những vấn đề cần hỏi mà không lạc đề.

Continue reading

QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN

LS. HỒ QUANG TÂN PHONG

Công ty cổ phần lập và lưu giữ sổ đăng ký cổ đông như một văn bản chứng minh quyền sở hữu cổ phần của mỗi cổ đông. Công ty phát hành cổ phiếu để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty. Bằng chứng để xác nhận một người đang có quyền sở hữu đối với cổ phiếu là người đó phải được ghi tên vào sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần và có sổ chứng nhận sở hữu cổ phần hoặc sổ cổ đông, trong đó khẳng định số lượng cổ phần và loại cổ phần sở hữu.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, có nhiều công ty chỉ cấp cho cổ đông góp vốn một loại chứng từ kế toán gọi là phiếu thu, hoặc chỉ ghi tên cổ đông góp vốn trong sổ đăng ký cổ đông; điều này chưa đủ, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người góp vốn. Đối với chứng khoán đã niêm yết thì bằng chứng cho việc sở hữu chứng khoán là bảng sao kê tài sản giao dịch chứng khoán do công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch cấp, trong đó xác định số chứng khoán thuộc sở hữu của nhà đầu tư. Hiện nay quyền sở hữu các loại chứng khoán được điều chỉnh chủ yếu bởi các bộ luật sau đây: Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán nên quyền sở hữu chứng khoán cũng được thừa nhận bởi ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên biểu hiện của các quyền trên rất đa dạng và rất khác nhau vì chúng tùy thuộc vào mục đích của nhà sở hữu chứng khoán, loại chứng khoán là cổ phiếu hay trái phiếu, chứng khoán được niêm yết hay chưa niêm yết. Dưới đây là một số quyền và lợi ích của chủ sở hữu chứng khoán:

Continue reading

THUÊ LUẬT SƯ TƯ VẤN: ĐỪNG ĐỂ NƯỚC ĐẾN CHÂN MỚI NHẢY*

NGUYỄN THỊ BẢO QUỲNH – Chủ tịch – Công ty Giải pháp thông minh INTEL SOLUTION

Theo thống kê cuối năm 2008 thì các công ty tư vấn luật đứng đầu danh sách các doanh nghiệp trả thưởng cho nhân viên cao nhất. Từ giữa năm 2008 đến nay, trong khi phần lớn các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng thì các văn phòng luật sư lại rất bận rộn.

Thông thường vào thời điểm kinh tế nhạy cảm (dù là lạm phát cao hay suy thoái), các doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, vì thế tình trạng tranh chấp có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp càng gia tăng. Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng luật sư còn quá ít không thể đáp ứng nhu cầu (cả nước chỉ có khoảng 5.000 luật sư cho hơn 80 triệu dân và hơn 500.000 doanh nghiệp!).

Do đó, các luật sư hiện nay chủ yếu tham gia tư vấn cho doanh nghiệp khi có vấn đề phát sinh nhiều hơn là tham gia tư vấn xây dựng quy trình hoạt động tránh rủi ro cho doanh nghiệp. Hơn nữa, chính bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường ít quan tâm đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật để áp dụng vào hoạt động thực tiễn, giảm thiểu rủi ro.

Tại Mỹ thì hầu như 100% doanh nghiệp đều có thuê luật sư tư vấn, và không ít các công ty có phòng pháp chế thuộc doanh nghiệp. Tại Việt Nam, qua khảo sát ngẫu nhiên 200 doanh nghiệp từ Bắc chí Nam hoạt động trong các lĩnh vực điển hình, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nắm cổ phần chi phối và các tổng công ty nhà nước có thành lập phòng pháp chế.

Với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần… có 7,5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía bắc, 5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía nam là có ký hợp đồng tư vấn luật thường xuyên với văn phòng luật sư, theo đó luật sư tham gia soạn thảo các quy định và các mẫu hợp đồng cho công ty.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

LS. HOÀNG CAO SANG

Cũng như hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định phải có luật sư tham gia bào chữa cho họ. Nghĩa là trong trường hợp này, nếu người bị truy tố không có chi phí để mời luật sư bào chữa, thì toà án có nghĩa vụ gửi danh sách cho đoàn luật sư, đoàn luật sư  thông báo về cho các tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức này chỉ định luật sư bào chữa cho họ, và luật sư được chỉ định có nghĩa vụ tham gia bào chữa cho họ như một thân chủ có thù lao, không phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp gần đến ngày xét xử, thư ký phiên toà mới điện thoại cho luật sư quen nhờ bào chữa cho bị cáo. Vì nể nang và xem thường tính mạng bị cáo, nên nhiều luật sư cũng đã nhận lời.

Thông thường những trong trường hợp này luật sư chỉ cần biết ngày, giờ và địa điểm xét xử. Không cần nghiên cứu hồ sơ và cũng chẳng cần gặp gỡ bị cáo để trao đổi xem bị cáo cần luật sư giúp đỡ về vấn đề gì, có oan sai hay không… Đến giờ xử, luật sư chỉ cần mượn thư ký bản cáo trạng và nếu là phiên toà phúc thẩm thì mượn thêm bản án sơ thẩm để tranh thủ đọc ngay khi toà đang xét xử. Vì không nghiên cứu hồ sơ, không gặp bị cáo trước khi xét xử, nên đến khi ra toà bào chữa việc luật sư không nhớ tên bị cáo của mình bào chữa là chuyện bình thường, có khi lẫn tên bị cáo với tên người bị hại, hoặc không biết cả mặt bị cáo mình bào chữa là ai.

Thay vì bào chữa, luật sư buộc tội thân chủ của mình

Một sinh viên luật năm cuối thực tập tại văn phòng tôi với nụ cười nửa đau xót, nửa khinh bỉ kể với tôi rằng, vì rất ham muốn trở thành luật sư nên cậu ta thường đi dự  phiên toà để học hỏi kinh nghiệm. Có lần, ở toà án Tối cao tại TP.HCM xét xử các bị cáo về tội giết người, cậu ta thấy chủ toạ phiên toà đã tuyên bố khai mạc phiên toà, lúc này một luật sư mới vội vã chạy vào phòng xử trên tay cầm xấp tài liệu rối cắm cúi ngồi đọc. Xem kỹ đó là hai bản án sơ thẩm. Vì là không nghiên cứu hồ sơ trước nên đến phần bào chữa của mình, vị luật sư này đứng lên nói vỏn vẹn có một câu ngắn gọn “tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm buộc tội của vị đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cáo”!

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP: CẦN CÓ THÊM HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

ĐẶNG NAM

Để phù hợp với một số luật được ban hành sau này như Luật Công chứng, Luật Thi hành án dân sự…, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 18/9/2009, thay thế Nghị định 76/NĐ-CP năm 2006.

Nghị định 60/NĐ-CP ra đời đã quy định nhiều nội dung nhằm siết lại một số kẽ hở được phát hiện trong quá trình thực hiện Nghị định 76/NĐ-CP. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến xung quanh việc cần phải có thêm hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc thực hiện Nghị định được thuận lợi.

Từ 18/9/2009, luật sư vòi vĩnh sẽ bị phạt tiền, tước chứng chỉ

Theo Nghị định 60, Luật sư sách nhiễu, lừa dối thân chủ bị phạt tối đa 5 triệu đồng, tước chứng chỉ hành nghề từ 6 tháng đến 1 năm.

Nhiều hành vi như tự ý tiết lộ thông tin của khách hàng, vòi vĩnh thêm tiền ngoài thù lao và chi phí ghi trong hợp đồng, thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng, hoặc ký nhưng nội dung không đúng quy định… sẽ bị phạt khá nặng.

Khi Nghị định 60/NĐ-CP được ban hành, có nhiều ý kiến cho rằng, với những quy định trongNghị định 60, các luật sư thường hoạt động ở ngoại tỉnh sẽ gặp khó khăn bởi hiện nay, nhiều luật sư có văn phòng ở tỉnh này nhưng mở chi nhánh và thường xuyên hoạt động ở tỉnh, thành khác. Khi được đoàn luật sư tỉnh mình phân công trợ giúp pháp lý miễn phí trong các vụ án thì luật sư đó có thể không theo nổi và từ chối. Nếu làm vậy, sắp tới họ sẽ bị phạt 3-5 triệu đồng.

Continue reading

BẮT ĐẦU TỪ NGƯỜI THẦY

NGUYỄN THỊ OANH

Nhắc đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, người ta thường nhắc đến trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, học cụ… và thường lại quên điều chính yếu nhất. Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy cùng sự chủ động hưởng ứng của người học. Từ ngàn xưa Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”. Phải tự mình làm mới biết…

Gần đây hơn các nhà tâm lý giáo dục đã đúc kết:

 

Chúng ta nhớ

Những gì ta

10%

Đọc

20%

Nghe

30%

Thấy

50%

Nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)

80%

Nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm…)

90%

Nói và làm điều chúng ta suy nghĩ

(đóng kịch, sắm vai thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp dụng điều đã học…)

Như thế với phương tiện nghe nhìn, người học nhớ được 50% nội dung trình bày, thế cũng đã tốt. Nhưng nếu chính người học chủ động hành động như nói hay làm thì hiệu quả còn cao hơn. Ví dụ phương pháp sắm vai có thể chỉ chiếm 15 phút mà gây được sự “thức tỉnh” nhớ đời.

Continue reading