GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG phải phù hợp với pháp luật và thực tiễn

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc chuyển quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông không chỉ được thực hiện với mục đích thương mại mà còn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế. Với số lượng cổ đông lên đến hàng trăm nghìn người, thì hằng năm số vụ thừa kế cổ phần được ngân hàng giải quyết và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế là tương đối lớn. Do vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần đã không còn xa lạ với việc giải quyết thừa kế cổ phần và thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cổ phần theo yêu cầu của người thừa kế.

Tuy nhiên, sự đa dạng, phong phú của các vụ thừa kế cổ phần ngân hàng phát sinh từ thực tế và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đã gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại cổ phần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết thống nhất, cụ thể.

1. Sức hấp dẫn của cổ phần ngân hàng và quy định hiện hành về thừa kế cổ phần ngân hàng

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra ở Mỹ từ đầu năm 2008 đến quý III/2008 đã tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do đó, các quốc gia đã phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để hạn chế những tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính đó. Trong khi các nước đang phải đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, thì nền kinh tế thế giới lại chuyển sang giai đoạn suy thoái (bắt đầu từ tháng 10/2008 đến nay), nên các quốc gia buộc phải tìm, áp dụng biện pháp mới để ngăn chặn suy thoái kinh tế. Những diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới đã tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc phải cắt giảm nhân công, hạn chế đầu tư để hoạt động cầm chừng, chờ cơ hội kinh doanh mới. Trong hoàn cảnh đó, các ngân hàng đã biết cách vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ hội kinh doanh để tồn tại và phát triển. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng năm 2008, thì không có ngân hàng nào bị lỗ. Đứng đầu danh sách các ngân hàng kinh doanh có lãi năm 2008 (tính theo lợi nhuận trước thuế) phải kể đến Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam -Vietcombank (đạt 3.352 tỷ đồng), Ngân hàng Công thương Việt Nam-VietinBank (đạt 2.437 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – ACB (đạt 2.560 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank (đạt 1.600 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất – nhập khẩu Việt Nam- Eximbank (đạt 1.500 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank (đạt 1.091 tỷ đồng)…

Continue reading

GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG PHẢI PHÙ HỢP VỚI PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc chuyển quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông không chỉ được thực hiện với mục đích thương mại mà còn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế. Với số lượng cổ đông lên đến hàng trăm nghìn người, thì hằng năm số vụ thừa kế cổ phần được ngân hàng giải quyết và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế là tương đối lớn. Do vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần đã không còn xa lạ với việc giải quyết thừa kế cổ phần và thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cổ phần theo yêu cầu của người thừa kế.

Tuy nhiên, sự đa dạng, phong phú của các vụ thừa kế cổ phần ngân hàng phát sinh từ thực tế và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đã gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại cổ phần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết thống nhất, cụ thể.

1. Sức hấp dẫn của cổ phần ngân hàng và quy định hiện hành về thừa kế cổ phần ngân hàng

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra ở Mỹ từ đầu năm 2008 đến quý III/2008 đã tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do đó, các quốc gia đã phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để hạn chế những tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính đó. Trong khi các nước đang phải đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, thì nền kinh tế thế giới lại chuyển sang giai đoạn suy thoái (bắt đầu từ tháng 10/2008 đến nay), nên các quốc gia buộc phải tìm, áp dụng biện pháp mới để ngăn chặn suy thoái kinh tế. Những diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới đã tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc phải cắt giảm nhân công, hạn chế đầu tư để hoạt động cầm chừng, chờ cơ hội kinh doanh mới. Trong hoàn cảnh đó, các ngân hàng đã biết cách vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ hội kinh doanh để tồn tại và phát triển. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng năm 2008, thì không có ngân hàng nào bị lỗ. Đứng đầu danh sách các ngân hàng kinh doanh có lãi năm 2008 (tính theo lợi nhuận trước thuế) phải kể đến Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam -Vietcombank (đạt 3.352 tỷ đồng), Ngân hàng Công thương Việt Nam-VietinBank (đạt 2.437 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – ACB (đạt 2.560 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank (đạt 1.600 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất – nhập khẩu Việt Nam- Eximbank (đạt 1.500 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank (đạt 1.091 tỷ đồng)…

Continue reading

NGÂN HÀNG: CHỖ NƯƠNG TỰA KÍN ĐÁO

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG *

Một kịch sĩ quan trọng, nhưng luôn nằm trong bóng tối của cuộc thương thuyết là ngân hàng. Đừng cho rằng khi ngân hàng không là chủ đầu tư, không là công ty xây dựng dự án, không là nhà tư vấn… không có nghĩa họ không là gì cả.

Bạn có nhớ bạn ra ngân hàng bao nhiêu lần khi bắt đầu đấu thầu hay quản lý một dự án không?

Khi bạn mua đầu bài của cuộc đấu giá, phải nộp bid bond (khế ước đấu thầu) khi bạn đăng giá biểu, thế rồi đến lúc bạn thương thuyết hợp đồng, ký những văn bản giữa nhà thầu và chủ đầu tư, xong sang đến giai đoạn quản lý xây dựng dự án, bao nhiêu lần phải khắc phục những rủi ro đến với dự án, những lúc đó, bạn mới thấy sự hiện diện của một ngân hàng xuất sắc bên cạnh bạn thấm thía như thế nào. Và dịch vụ do ngân hàng cung cấp quý báu ra sao.

Vào năm 1986, tập đoàn của tôi quyết định đổ mạnh vào thị trường Trung Quốc. Vào những năm đó, ông Lý Bằng, Phó thủ tướng Trung Quốc, là người có nhiều cảm tình với công ty điện Pháp là Alstom của chúng tôi. Lý do là trước khi giữ chức vụ này, ông là người chủ trì tất cả chính sách điện lực của Trung Quốc, trong đó có chính sách xây dựng các nhà máy sản xuất điện dùng công nghệ nguyên tử hạt nhân. Cộng hòa Pháp lại nắm vững công nghệ này nên tiếp tay với ông khá đắc lực.

Thị trường điện của Trung Quốc hồi đó chưa hùng mạnh, và sở dĩ Trung Quốc muốn đầu tư nhiều về ngành này vì họ sửa soạn cho một chính sách phát triển công nghiệp đại quy mô. Vào những năm đó (1986-1995), Trung Quốc mua nhà máy điện từng mớ một, cho đấu thầu có khi cả hai, ba, hay bốn máy một lúc, chiếc nào sơ sơ cũng vài trăm triệu đô la. Chương trình đó họ gọi là chương trình nước rút (crash program).

Continue reading

HÒA GIẢI DÂN SỰ

LS. VÕ THÀNH VỊ

Trong vụ án dân sự , luật sư chúng ta tùy điều kiện và tình tiết vụ án, cố gắng thực hiện các thủ tục hòa giải vừa có lợi cho hai bên đương sự, đồng thời có lợi cho luật sư chúng ta.

Căn cứ các qui định của Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự: Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt bên nào. Các thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, khi có tranh chấp dân sự việc hòa giải của các bên được pháp luật khuyến khích.

Điều 10 của Bộ luật Tố tụng dân sự qui định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự theo qui định của bộ luật này”. Các đương sự gồm có: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do tòa án tiến hành.

Về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải phải được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

1. Trường hợp thứ nhất: Hòa giải và chuẩn bị xét xử (hòa giải lần 1)

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; Trừ trường hợp vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ “ĐÌNH CHỈ” THEO QUI ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Điều 39, 50 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Điều 41, 53 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các các tranh chấp lao động chỉ qui định một loại đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.

BLTTDS năm 2004 thì có nhiều loại đình chỉ khác nhau như: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử theo yêu cầu của đương sự; nhưng trong quá trình thực hiện thì tính chất, căn cứ, hình thức vẫn chưa được cụ thể, chưa thực sự rõ ràng, đã dẫn tới sự lầm lẫn hay xem xét các căn cứ vẫn còn mù mờ theo cách hiểu của mỗi tòa án hay của mỗi vị thẩm phán…

Theo khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2004 qui định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bằng cách xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo qui định tại Điều 168 BLTTDS năm 2004. Những căn cứ, qui định tại điều này bao gồm: Thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; hết thời hạn thông báo nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp hoặc không đến tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án.

Continue reading

LẠM PHÁT – DIỄN BIẾN, DỰ BÁO VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐỖ VĂN HUÂN

Lạm phát là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nên được các nhà hoạch định chính sách quan tâm và theo dõi và xử lý – lạm phát còn được người tiêu dùng quan tâm đặc biệt, vì lạm phát thì sức mua của đồng tiền giảm đi, cũng đồng nghĩa với mức tiêu dùng thực tế giảm xuống tương ứng. Chính vì thế, giá tiêu dùng (một biểu hiện của lạm phát) được Tổng cục Thống kê theo dõi và tổng hợp ở các chợ đại diện trên phạm vi cả nước.

Diễn biến và dự báo

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng so với tháng 12/2008 của 6 tháng đầu năm 2009 như trong biểu đồ.

Diễn biến giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2009 có một số đặc điểm đáng lưu ý.

Thứ nhất, giá tiêu dùng đầu năm nay tăng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng tương ứng của cùng kỳ năm trước. Cụ thể:

Tháng 1 tăng 0,32% so với tăng 2,38%; Tháng 2 tăng 1,17% so với tăng 3,56%; Tháng 3 giảm 0,17% so với tăng 2,99%; Tháng 4 tăng 0,35% so với tăng 2,20%; Tháng 5 tăng 0,44% so với tăng 3,91%; Tháng 6 tăng 0,55% so với tăng 2,14%.

Continue reading