HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP

NGUYỄN HỒNG ANH

Phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (“Phần Vốn Góp”) là các tài sản vô hình có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng làm phát sinh không những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau mà còn liên quan tới công ty phát hành Phần Vốn Góp (“Công Ty”). Ta thử lần lượt tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp đối với các bên giao kết và đối với Công Ty cũng như đối với người thứ ba.

1. Đối với các bên giao kết hợp đồng

Phần Vốn Góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể, xác định nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản. Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 442 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu Tư…

Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản (Phần Vốn Góp) được đặc trưng bởi việc bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp cho bên nhận chuyển nhượng. Đổi lại, bên nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 442 khoản 1 Bộ luật dân sự).

Ta thừa nhận rằng, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng. Thế nhưng chỉ có chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng? Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành đối với vật mua bán cho người mua.

Continue reading

VỆ SINH AN TOÀN THỰC THẨM: KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI

TỐ LOAN

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) không chỉ là vấn nạn của Việt Nam, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng phải đối phó với thực trạng này. Tại Mỹ, theo thống kê, mỗi năm có gần 76 triệu người bị ngộ độc thực phẩm, khoảng 325.000 người phải nhập viện và 5.000 người tử vong có liên quan đến thực phẩm; tại Nhật Bản và Australia cũng không phải là ít; còn cộng đồng châu âu từng choáng váng vì bệnh bò điên, dioxin trong sữa… Tuy nhiên, cách họ quản lý và ngăn chặn vi phạm thì khác chúng ta rất nhiều.

Thực hiện nghiêm túc “từ đồng ruộng tới bàn ăn”

Giống như Việt Nam, các nước luôn đặt vấn đề tuyên truyền, giáo dục về VSATTP lên hàng đầu, tuy nhiên, họ thực hiện thường xuyên, liên tục. ở nhiều nước châu âu, để đảm bảo VSATTP, biện pháp giáo dục được áp dụng ngay từ khi còn học trong trường phổ thông, khi lên đại học và ra ngoài cuộc sống. Còn ở ta? Năm nào ngành chức năng cũng có Tháng hành động về VSATTP với những chủ đề "rất kêu", ví dụ như "Người sản xuất kinh doanh thực phẩm có lương tâm" hay "Hãy là người tiêu dùng thông thái"…, nhưng những vụ vi phạm vẫn diễn ra thường xuyên. Ngay tại chợ Bến Thành (TP. Hồ Chí Minh), cơ quan chức năng cho phép mở chợ ẩm thực ngoài đường trong khi không có nguồn nước dẫn tới để rửa chén, không có nhà vệ sinh… Vì thế, bên cạnh việc giáo dục người tiêu dùng, nhà sản xuất, cần phải nâng cao nhận thức của cả lực lượng chức năng. Tại Singapore, khi mở quán ăn hay một xe bán thực phẩm lưu động, bạn phải học qua lớp tìm hiểu các quy định về VSATTP. Lớp này được tổ chức thường xuyên tại nhiều nơi, đến tận cấp phường. Khi đã biết mà vẫn vi phạm thì sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hàng quán của bạn cũng sẽ được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận. Cách làm này, Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng.

Continue reading

Giao dịch dân sự trong luật dân sự các nước: TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO GIAO DỊCH

CẨM VÂN

Trong chương trình xây dựng luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam sẽ được sửa đổi phần quy định về hợp đồng và quyền sở hữu. Trong phần hợp đồng, quy định liên quan đến giao dịch dân sự tại BLDS Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế lập pháp quốc tế. Việc tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật quốc tế sẽ là kinh nghiệm tốt đối với quá trình hoàn thiện pháp luật hợp đồng của Việt Nam

“Việc dân sự cốt ở hai bên”

Mặc dù có nước đòi hỏi một số các giao dịch khi giao kết phải được thể hiện bằng một hình thức nhất định, nếu vi phạm hình thức theo luật định sẽ bị vô hiệu mà đại diện tiêu biểu là CHLB Đức. Pháp luật của Đức bắt buộc khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện về hình thức, nếu không tuân thủ thì hợp đồng đó bị vô hiệu tuyệt đối. Việc quy định như vậy nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ. Tuy nhiên, rất nhiều nước không coi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của giao dịch như Pháp, Trung Quốc… Pháp luật của Pháp tuyệt đối tôn trọng quyền tự do của các bên khi tham gia vào giao dịch. Ngay cả một số loại giao dịch pháp luật yêu cầu phải tuân thủ hình thức nhất định, nhưng khi các bên tham gia giao dịch không tuân thủ các quy định về hình thức cũng không bị coi là vô hiệu. Tương tự, Trung Quốc không coi hình thức của hợp đồng là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Cụ thể, Điều 37 Luật Hợp đồng của Trung Quốc quy định: “Lập hợp đồng bằng hình thức giấy hợp đồng, nếu trước khi ký tên hoặc đóng dấu mà một bên đương sự đã thực hiện các nghĩa vụ chủ yếu, đối phương chấp thuận, thì hợp đồng đó được thành lập”.

Trong khi đó, theo Điều 134 BLDS Việt Nam, hình thức giao dịch dân sự (GDDS) là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, trường hợp các bên không tuân theo, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Đây là quy định không hợp lý bởi lẽ hình thức giao dịch thực chất chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia GDDS bằng mực đen trên giấy trắng “văn bản”. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới GDDS vô hiệu sẽ tạo nên một khoảng cách giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của giao dịch.

Continue reading

GIAO DỊCH DÂN SỰ TRONG LUẬT DÂN SỰ CÁC NƯỚC: TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO GIAO DỊCH

CẨM VÂN

Trong chương trình xây dựng luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam sẽ được sửa đổi phần quy định về hợp đồng và quyền sở hữu. Trong phần hợp đồng, quy định liên quan đến giao dịch dân sự tại BLDS Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế lập pháp quốc tế. Việc tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật quốc tế sẽ là kinh nghiệm tốt đối với quá trình hoàn thiện pháp luật hợp đồng của Việt Nam

“Việc dân sự cốt ở hai bên”

Mặc dù có nước đòi hỏi một số các giao dịch khi giao kết phải được thể hiện bằng một hình thức nhất định, nếu vi phạm hình thức theo luật định sẽ bị vô hiệu mà đại diện tiêu biểu là CHLB Đức. Pháp luật của Đức bắt buộc khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện về hình thức, nếu không tuân thủ thì hợp đồng đó bị vô hiệu tuyệt đối. Việc quy định như vậy nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ. Tuy nhiên, rất nhiều nước không coi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của giao dịch như Pháp, Trung Quốc… Pháp luật của Pháp tuyệt đối tôn trọng quyền tự do của các bên khi tham gia vào giao dịch. Ngay cả một số loại giao dịch pháp luật yêu cầu phải tuân thủ hình thức nhất định, nhưng khi các bên tham gia giao dịch không tuân thủ các quy định về hình thức cũng không bị coi là vô hiệu. Tương tự, Trung Quốc không coi hình thức của hợp đồng là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Cụ thể, Điều 37 Luật Hợp đồng của Trung Quốc quy định: “Lập hợp đồng bằng hình thức giấy hợp đồng, nếu trước khi ký tên hoặc đóng dấu mà một bên đương sự đã thực hiện các nghĩa vụ chủ yếu, đối phương chấp thuận, thì hợp đồng đó được thành lập”.

Trong khi đó, theo Điều 134 BLDS Việt Nam, hình thức giao dịch dân sự (GDDS) là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, trường hợp các bên không tuân theo, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Đây là quy định không hợp lý bởi lẽ hình thức giao dịch thực chất chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia GDDS bằng mực đen trên giấy trắng “văn bản”. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới GDDS vô hiệu sẽ tạo nên một khoảng cách giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của giao dịch.

Continue reading

CÔNG TY MẸ CON

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Công ty mẹ con là từ ngữ của chúng ta để chỉ mối quan hệ giữa những công ty nắm vốn của nhau, thí dụ công ty A nắm một số phần trăm vốn của công ty B. Tìm lai lịch của sự xuất hiện công ty mẹ con ở các nước phát triển ta sẽ thấy nguyên do kinh tế là nền tảng. Còn ở Việt Nam thì sao?

Công ty mẹ con ở ta

Định chế công ty tư nhân của ta mới tồn tại gần 20 năm. Thoạt đầu, các công ty do các chủ gia đình nắm giữ trong bối cảnh cầu cao hơn cung của nền kinh tế. Các ông chủ mở công ty theo kiểu cần đến đâu mở đến đó. Không mẹ con lằng nhằng. Cũng có thể công ty khi ăn nên làm ra thì chỉ mở những ngành khác nhau trong nội bộ với chế độ hạch toán báo sổ. Chẳng cần mẹ con. Các công ty phát triển theo hai cách này đều gặp hai trở ngại chung và lớn là quản trị và nhân sự.

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã tồn tại trên 50 năm. Vốn của chúng do một ông chủ duy nhất nắm. Nhà nước nắm vốn thì mở công ty tùy ý. Khác với tư nhân, DNNN phải đối phó với vấn đề hiệu quả kinh doanh – một hậu quả trầm trọng hơn của quản trị và nhân sự. Để giải quyết, Nhà nước với quyền lực của mình đã thiết lập các tổng công ty 90 và 91. Bất kể đến lai lịch hình thành của mình và của thế giới ra sao, Nhà nước nói là “xây dựng các tập đoàn” để có “quả đấm mạnh”. Vì các căn bệnh bẩm sinh của nó là quản trị và nhân sự không hề được chữa nên các tổng công ty không thành công về mặt kinh doanh. Để vượt qua thất bại đó và trước áp lực hội nhập, Nhà nước bèn chuyển các tổng công ty thành công ty mẹ con.

Trước biến chuyển của DNNN, các công ty tư nhân cũng làm theo. Công ty nào có mặt ở nhiều địa phương thì sắp xếp lại thành mẹ với con; ai có nhiều ngành trong nội bộ sẽ tách ra thành con với mẹ. Ở đây có sự chuyển vốn để có thể đăng ký.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH NGƯỜI NUÔI DƯỠNG TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN

PHẠM ĐỨC THÀNH

Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề phân chia tài sản, việc giao con cho ai nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng nhất Tòa án phải quyết định. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, người bị tổn thương nhiều nhất vẫn là những đứa con, nhất là khi đang ở lứa tuổi chưa thành niên – lứa tuổi rất cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ để có thể phát triển toàn diện.

Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng.

Cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HN và GĐ) năm 2000 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong Công văn số 62/2002/KHXX, Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn: “Trước khi ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không hỏi ý kiến của con chưa thành niên là điều tra chưa đầy đủ”. Như vậy, theo quy định, trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con từ 9 tuổi trở lên có ý nghĩa bắt buộc, làm cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định giao con cho ai nuôi. Quy định này nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: ĐUỔI VIỆC BẰNG EMAIL

HOÀNG YẾN

Người lao động kiện đòi bồi thường hơn 2,5 tỷ đồng bị tòa bác. Theo tòa, việc bà K. chỉ căn cứ vào hai thư điện tử để cho rằng công ty cho bà nghỉ việc trái luật là không đủ căn cứ. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa bác kháng cáo của hai bên đương sự trong một vụ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vụ án khá phức tạp bởi tranh chấp xoay quanh việc cho nghỉ việc bằng thư điện tử (email) và mức đòi bồi thường lên đến tiền tỷ.

Rắc rối từ email

Cuối tháng 9-2008, bà K. (ngụ ở Hong Kong) đã nộp đơn đến TAND TP.HCM kiện Công ty liên doanh U. Việt Nam vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà. Bà K. yêu cầu công ty bồi thường toàn bộ tổn thất hơn 2,5 tỷ đồng bao gồm tiền lương, phụ cấp, tiền phép năm cũng như bồi thường vì chấm dứt hợp đồng trái luật.

Theo bà K., tháng 9-2007, bà ký hợp đồng lao động làm trưởng phòng Dịch vụ khách hàng và thị trường của công ty đến năm 2010. Cuối tháng 3-2008, dù bà không hề có ý định bỏ việc nhưng lại nhận được hai email từ phía công ty nói là cho bà nghỉ việc.

Email đầu tiên bà nhận được vào ngày 26-3-2008, nội dung là người phụ trách về nhân sự đã cố gắng liên lạc với bà trong ngày nhưng không được. Do phải đi công tác lâu mới quay về nên người này đưa ra các đề nghị với bà. Cụ thể vào thứ Hai 31-3-2008, công ty sẽ thông báo với đội của bà rằng bà sẽ rời chức trách vì quyết định về Hong Kong. Hôm sau, quản lý nhân sự sẽ gặp bà để sắp xếp.

Continue reading