LUẬT SƯ NỘI BỘ, ANH LÀ AI?

LS. TRẦN DUY CẢNH

Báo chí hàng ngày thường hay nhắc đến Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một sân chơi lớn mang tính toàn cầu với những luật lệ còn rất lạ lẫm đối với doanh nghiệp trong nước. Rồi chuyện Vietnam Airlines thua kiện, việc một doanh nhân Việt Nam bị bắt và yêu cầu dẫn độ sang Mỹ, chuyện bán phá giá ở Mỹ và châu Âu… Toàn những thông tin mà cách đây vài năm nhiều doanh nghiệp trong nước chưa từng nghe, biết. Các doanh nghiệp có thói quen làm việc “quên luật lệ” đang cảm thấy chơi vơi vì sự thiếu hiểu biết pháp luật và họ nghĩ ngay đến việc tuyển dụng luật sư nội bộ hoặc thuê hãng luật bên ngoài để lấp đầy chỗ trống đó.

Luật sư “trong nhà”

Thật ra, khái niệm luật sư nội bộ không phải là mới mẻ đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Trước đây và kể cả bây giờ, tại các doanh nghiệp nhà nước đều tồn tại một bộ phận có tên gọi là phòng pháp chế. Luật sư công ty được gọi là cán bộ pháp chế. Về thực chất, trong thời bao cấp, phòng pháp chế và cán bộ pháp chế chỉ thực hiện các quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp chứ không được tham gia vào quá trình ra quyết định của doanh nghiệp thông qua các hoạt động nghề nghiệp của mình.

Các doanh nghiệp nước ngoài thì gọi bộ phận pháp lý của họ là phòng luật và nhân viên làm việc ở đó là luật sư công ty (in-house lawyer). Người đứng đầu phòng luật thường gọi là luật sư trưởng hay trưởng phòng luật (General In-house Lawyer hoặc đơn giản là Legal Manager). Luật sư công ty dĩ nhiên phải là luật sư, nghĩa là thành viên của một đoàn luật sư nào đó và có thẻ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp. Nếu các đồng nghiệp khác làm việc cho hãng luật hay cho văn phòng luật sư thì họ lại làm việc cho doanh nghiệp với tư cách là người làm thuê hưởng lương nên gọi là luật sư công ty. Chính nơi hành nghề luật sư đã định danh cho họ.

Continue reading →

XÉT HỎI HAY TRANH TỤNG?

LS. LÊ ĐỨC TIẾT

Trong Nghị quyết VIII, ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói: “Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định…”.

Để đáp ứng được những đòi hỏi trên đây, cần phải có sự thay đổi trình tự, cách xét hỏi, tranh tụng và cách đánh giá chứng cứ đã được vận hành trong các phiên toà trước đây. Việc xét hỏi tại các phiên toà hình sự lâu nay thường diễn ra theo trình tự như sau: Chủ toạ phiên toà xét hỏi toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án. Tiếp đến là các Hội thẩm nhân dân. Công tố viên hỏi về những vấn đề mà bị cáo phủ nhận tội của họ. Bào chữa viên hỏi về những vấn đề có lợi cho người được họ bảo vệ. Trình tự xét hỏi trên đây bộc lộ một số nhược điểm: Chủ toạ phiên toà trở thành người độc diễn trong xét hỏi, trở thành người có trách nhiệm phải chứng minh việc buộc tội hay việc bào chữa. Điều này gây cho những người tham gia tố tụng, những người tham dự phiên toà có ấn tượng là toà thiếu khách quan. Hiện tượng bao sân của Chủ toạ phiên toà khiến người tham dự dễ dàng biết được Toà đã nghiêng về phía nào. Điều này là tối kỵ vì nó làm xói mòn lòng tin của quần chúng vào tính khách quan, không thiên vị của Toà.

Sẽ là hợp lý hơn khi Toà – chủ toạ phiên toà trở lại đúng vị trí của mình là người điều khiển, người chủ toạ phiên toà, là người cầm chịch việc xét hỏi, hướng cho những người xét hỏi đi đúng trọng tâm, đúng những vấn đề cần hỏi mà không lạc đề.

Continue reading →

QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN

LS. HỒ QUANG TÂN PHONG

Công ty cổ phần lập và lưu giữ sổ đăng ký cổ đông như một văn bản chứng minh quyền sở hữu cổ phần của mỗi cổ đông. Công ty phát hành cổ phiếu để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty. Bằng chứng để xác nhận một người đang có quyền sở hữu đối với cổ phiếu là người đó phải được ghi tên vào sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần và có sổ chứng nhận sở hữu cổ phần hoặc sổ cổ đông, trong đó khẳng định số lượng cổ phần và loại cổ phần sở hữu.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, có nhiều công ty chỉ cấp cho cổ đông góp vốn một loại chứng từ kế toán gọi là phiếu thu, hoặc chỉ ghi tên cổ đông góp vốn trong sổ đăng ký cổ đông; điều này chưa đủ, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người góp vốn. Đối với chứng khoán đã niêm yết thì bằng chứng cho việc sở hữu chứng khoán là bảng sao kê tài sản giao dịch chứng khoán do công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch cấp, trong đó xác định số chứng khoán thuộc sở hữu của nhà đầu tư. Hiện nay quyền sở hữu các loại chứng khoán được điều chỉnh chủ yếu bởi các bộ luật sau đây: Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán nên quyền sở hữu chứng khoán cũng được thừa nhận bởi ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên biểu hiện của các quyền trên rất đa dạng và rất khác nhau vì chúng tùy thuộc vào mục đích của nhà sở hữu chứng khoán, loại chứng khoán là cổ phiếu hay trái phiếu, chứng khoán được niêm yết hay chưa niêm yết. Dưới đây là một số quyền và lợi ích của chủ sở hữu chứng khoán:

Continue reading →

THUÊ LUẬT SƯ TƯ VẤN: ĐỪNG ĐỂ NƯỚC ĐẾN CHÂN MỚI NHẢY*

NGUYỄN THỊ BẢO QUỲNH – Chủ tịch – Công ty Giải pháp thông minh INTEL SOLUTION

Theo thống kê cuối năm 2008 thì các công ty tư vấn luật đứng đầu danh sách các doanh nghiệp trả thưởng cho nhân viên cao nhất. Từ giữa năm 2008 đến nay, trong khi phần lớn các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng thì các văn phòng luật sư lại rất bận rộn.

Thông thường vào thời điểm kinh tế nhạy cảm (dù là lạm phát cao hay suy thoái), các doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, vì thế tình trạng tranh chấp có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp càng gia tăng. Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng luật sư còn quá ít không thể đáp ứng nhu cầu (cả nước chỉ có khoảng 5.000 luật sư cho hơn 80 triệu dân và hơn 500.000 doanh nghiệp!).

Do đó, các luật sư hiện nay chủ yếu tham gia tư vấn cho doanh nghiệp khi có vấn đề phát sinh nhiều hơn là tham gia tư vấn xây dựng quy trình hoạt động tránh rủi ro cho doanh nghiệp. Hơn nữa, chính bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường ít quan tâm đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật để áp dụng vào hoạt động thực tiễn, giảm thiểu rủi ro.

Tại Mỹ thì hầu như 100% doanh nghiệp đều có thuê luật sư tư vấn, và không ít các công ty có phòng pháp chế thuộc doanh nghiệp. Tại Việt Nam, qua khảo sát ngẫu nhiên 200 doanh nghiệp từ Bắc chí Nam hoạt động trong các lĩnh vực điển hình, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nắm cổ phần chi phối và các tổng công ty nhà nước có thành lập phòng pháp chế.

Với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần… có 7,5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía bắc, 5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía nam là có ký hợp đồng tư vấn luật thường xuyên với văn phòng luật sư, theo đó luật sư tham gia soạn thảo các quy định và các mẫu hợp đồng cho công ty.

Continue reading →

ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

LS. HOÀNG CAO SANG

Cũng như hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định phải có luật sư tham gia bào chữa cho họ. Nghĩa là trong trường hợp này, nếu người bị truy tố không có chi phí để mời luật sư bào chữa, thì toà án có nghĩa vụ gửi danh sách cho đoàn luật sư, đoàn luật sư  thông báo về cho các tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức này chỉ định luật sư bào chữa cho họ, và luật sư được chỉ định có nghĩa vụ tham gia bào chữa cho họ như một thân chủ có thù lao, không phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp gần đến ngày xét xử, thư ký phiên toà mới điện thoại cho luật sư quen nhờ bào chữa cho bị cáo. Vì nể nang và xem thường tính mạng bị cáo, nên nhiều luật sư cũng đã nhận lời.

Thông thường những trong trường hợp này luật sư chỉ cần biết ngày, giờ và địa điểm xét xử. Không cần nghiên cứu hồ sơ và cũng chẳng cần gặp gỡ bị cáo để trao đổi xem bị cáo cần luật sư giúp đỡ về vấn đề gì, có oan sai hay không… Đến giờ xử, luật sư chỉ cần mượn thư ký bản cáo trạng và nếu là phiên toà phúc thẩm thì mượn thêm bản án sơ thẩm để tranh thủ đọc ngay khi toà đang xét xử. Vì không nghiên cứu hồ sơ, không gặp bị cáo trước khi xét xử, nên đến khi ra toà bào chữa việc luật sư không nhớ tên bị cáo của mình bào chữa là chuyện bình thường, có khi lẫn tên bị cáo với tên người bị hại, hoặc không biết cả mặt bị cáo mình bào chữa là ai.

Thay vì bào chữa, luật sư buộc tội thân chủ của mình

Một sinh viên luật năm cuối thực tập tại văn phòng tôi với nụ cười nửa đau xót, nửa khinh bỉ kể với tôi rằng, vì rất ham muốn trở thành luật sư nên cậu ta thường đi dự  phiên toà để học hỏi kinh nghiệm. Có lần, ở toà án Tối cao tại TP.HCM xét xử các bị cáo về tội giết người, cậu ta thấy chủ toạ phiên toà đã tuyên bố khai mạc phiên toà, lúc này một luật sư mới vội vã chạy vào phòng xử trên tay cầm xấp tài liệu rối cắm cúi ngồi đọc. Xem kỹ đó là hai bản án sơ thẩm. Vì là không nghiên cứu hồ sơ trước nên đến phần bào chữa của mình, vị luật sư này đứng lên nói vỏn vẹn có một câu ngắn gọn “tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm buộc tội của vị đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cáo”!

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP: CẦN CÓ THÊM HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

ĐẶNG NAM

Để phù hợp với một số luật được ban hành sau này như Luật Công chứng, Luật Thi hành án dân sự…, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 18/9/2009, thay thế Nghị định 76/NĐ-CP năm 2006.

Nghị định 60/NĐ-CP ra đời đã quy định nhiều nội dung nhằm siết lại một số kẽ hở được phát hiện trong quá trình thực hiện Nghị định 76/NĐ-CP. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến xung quanh việc cần phải có thêm hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc thực hiện Nghị định được thuận lợi.

Từ 18/9/2009, luật sư vòi vĩnh sẽ bị phạt tiền, tước chứng chỉ

Theo Nghị định 60, Luật sư sách nhiễu, lừa dối thân chủ bị phạt tối đa 5 triệu đồng, tước chứng chỉ hành nghề từ 6 tháng đến 1 năm.

Nhiều hành vi như tự ý tiết lộ thông tin của khách hàng, vòi vĩnh thêm tiền ngoài thù lao và chi phí ghi trong hợp đồng, thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng, hoặc ký nhưng nội dung không đúng quy định… sẽ bị phạt khá nặng.

Khi Nghị định 60/NĐ-CP được ban hành, có nhiều ý kiến cho rằng, với những quy định trongNghị định 60, các luật sư thường hoạt động ở ngoại tỉnh sẽ gặp khó khăn bởi hiện nay, nhiều luật sư có văn phòng ở tỉnh này nhưng mở chi nhánh và thường xuyên hoạt động ở tỉnh, thành khác. Khi được đoàn luật sư tỉnh mình phân công trợ giúp pháp lý miễn phí trong các vụ án thì luật sư đó có thể không theo nổi và từ chối. Nếu làm vậy, sắp tới họ sẽ bị phạt 3-5 triệu đồng.

Continue reading →

BẮT ĐẦU TỪ NGƯỜI THẦY

NGUYỄN THỊ OANH

Nhắc đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, người ta thường nhắc đến trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, học cụ… và thường lại quên điều chính yếu nhất. Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy cùng sự chủ động hưởng ứng của người học. Từ ngàn xưa Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”. Phải tự mình làm mới biết…

Gần đây hơn các nhà tâm lý giáo dục đã đúc kết:

 

Chúng ta nhớ

Những gì ta

10%

Đọc

20%

Nghe

30%

Thấy

50%

Nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)

80%

Nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm…)

90%

Nói và làm điều chúng ta suy nghĩ

(đóng kịch, sắm vai thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp dụng điều đã học…)

Như thế với phương tiện nghe nhìn, người học nhớ được 50% nội dung trình bày, thế cũng đã tốt. Nhưng nếu chính người học chủ động hành động như nói hay làm thì hiệu quả còn cao hơn. Ví dụ phương pháp sắm vai có thể chỉ chiếm 15 phút mà gây được sự “thức tỉnh” nhớ đời.

Continue reading →

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VỚI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

TRUNG ĐỨC

Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm đảo lộn nhiều hoạt động kinh tế – xã hội; lao động, việc làm, thu nhập và ổn định đời sống đã trở thành mối quan tâm, lo lắng hàng đầu của toàn nhân loại. Trong bối cảnh này, chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm ở Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp sau chịu những sức ép, chứa đựng nhiều rủi ro, đòi hỏi phải có cách nhìn toàn diện để vượt qua trở ngại nhằm đạt được mục tiêu mong muốn…

Thách thức và vấn đề đặt ra

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, tổ chức Lao động Thế giới (ILO) dự báo, khoảng 51 triệu lao động sẽ mất việc làm. Tại Mỹ, số người thất nghiệp tháng 3/2009 vượt qua 80 vạn; tính đến đầu tháng 5, nước này đã có 6,56 triệu người thất nghiệp. Ở châu Âu, những quốc gia sử dụng đồng euro, tháng 1/2009 có 25 vạn người mất việc. Theo Eurostat, cuối tháng 2/2009, EU có trên 13,3 triệu người thất nghiệp và dự báo thất nghiệp còn tiếp tục gia tăng nếu đà suy thoái kinh tế không dừng. Tình trạng sa thải lao động, ngay cả lao động trình độ cao cũng đứng trước nguy cơ mất việc gia tăng chưa từng có, đã đặt châu Âu ở tình trạng báo động nghiêm trọng nhất so với những lần khủng hoảng trước đây. Tại châu Á, Ấn Độ, nước có tốc độ tăng trưởng hàng đầu, quý IV năm 2008 đã mất đi trên 50 vạn việc làm. Với việc đóng cửa nhiều nhà máy, đến tháng 3 năm 2009, số người thất nghiệp tại Trung Quốc đã vượt qua con số 23 triệu.

Trong xu thế cắt giảm việc làm đang lớn cả về quy mô và địa bàn thì lĩnh vực chịu tác động lớn là xây dựng, sản xuất chế biến và dịch vụ là những ngành được coi là thế mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam. Thực tế ở nhiều nước nguy cơ mất việc khiến người lao động phải trở về nước trước thời hạn là điều khó tránh. Đầu năm 2009, Hàn Quốc, Đài Loan, Malayxia, Quata, Singapore, CH Sec… đã không chỉ ngừng tiếp nhận mà còn tìm mọi lý do để đưa lao động Việt Nam trở về trước hạn.

Continue reading →

Kinh nghiệm của Pháp và EU về BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được “chính trị hoá” ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được “ưu ái”, thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

– Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

– Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Continue reading →

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA PHÁP VÀ EU VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được "chính trị hoá" ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được "ưu ái", thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

– Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

– Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Continue reading →

ĐỘT BIẾN RÚT TIỀN GỬI – THÁCH THỨC LỚN TRONG THỜI KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

TS. NGUYỄN THỊ KIM OANH & NGUYỄN THỊ HỒNG NGUYÊN – Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Chi nhánh khu vực Hà Nội

Hơn 4.000 ngân hàng phải đóng cửa trong nửa đầu năm 1933, 61 ngân hàng đóng cửa tính từ 2008 tới 5/2009 ở Mỹ; ngân hàng cho vay tín chấp lớn thứ năm tại Anh (2007), nhiều ngân hàng danh tiếng khác trên thế giới đã trải nghiệm khó khăn và khó khăn đã bị trầm trọng gấp bội, dẫn đến kết cục phải đóng cửa. Đó là những gì mà hiện tượng được đặt tên “đột biến rút tiền gửi” đã góp phần gây nên. “Đột biến rút tiền gửi ngân hàng” có thể hiểu là hiện tượng người gửi tiền ồ ạt rút tiền tại ngân hàng do họ lo sợ rằng, ngân hàng mà mình gửi tiền có thể bị đổ vỡ và tiền gửi của họ có thể bị thiệt hại.

Với tiến trình phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng trên toàn cầu, sự đóng góp lớn lao của kinh doanh ngân hàng cho thịnh vượng của các ngành và nền kinh tế, đồng thời sự “ra đi” của không ít ngân hàng đã gây nên nhiều hệ lụy cho nhiều đối tác, thôi thúc chúng ta tìm hiểu về hiện tượng đột biến rút tiền gửi và mối nguy hại khôn lường của nó.

Đột biến rút tiền gửi

Đột biến rút tiền gửi đầu tiên xuất hiện như một phần của chu kỳ phát triển tín dụng và sự suy thoái sau đó. Từ thế kỷ thứ XVI, đã có hiện tượng đột biến rút tiền khi thợ kim hoàn Anh phát hành kỳ phiếu. Tại Anh, một trong hai cuộc đổ vỡ ngân hàng lớn nhất thế kỷ XIX đã xảy ra tại ngân hàng Overend Gurney (OG) vào thời điểm năm 1865, khi ngân hàng này có báo cáo khoản lỗ 3-4 triệu bảng Anh. Một năm sau đó, một loạt hãng lớn làm ăn với OG bị phá sản, dẫn đến sự khủng hoảng lòng tin của người gửi tiền, giá cổ phiếu bị sụt giảm nghiêm trọng, và cuối cùng OG bị phá sản. Sự kiện này đã kéo theo nhiều ngân hàng, công ty tài chính và doanh nghiệp có liên quan, hoạt động tốt lẫn yếu kém, đều bị đổ vỡ (1).

Continue reading →

TÀI SẢN THUỘC SỞ CHUNG: GIAN NAN CHUYỆN CƯỠNG CHẾ

T. HẰNG – H. HẢI

Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định chấp hành viên được quyền cưỡng chế đối với các tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác, kể cả quyền sử dụng đất. Mặc dù vậy, trên thực tế câu chuyện cưỡng chế này không ít gian nan.

Tài sản chung của vợ chồng: kê biên cũng khó.

Theo bản án số 134 ngày 3/2/1999 của TANDTC ngoài việc phải chấp hành hình phạt 9 năm từ giam, Bùi Thị H. phải bồi thường cho ngân hàng nông nghiệp huyện Thanh Miện – Hải Dương số tiền gần 179 triệu đồng. Cả án phí dân sự và hình sự bị cáo này phải nộp là trên 186 triệu đồng. Để đảm bảo cho quá trình THA, Tòa án đã kê biên ngôi nhà mái bằng 3 gian là tài sản của vợ chồng H.

Xác minh điều kiện THA của H, THADS huyện Ân Thi – Hưng Yên xác định: H đang thụ hình trong trại còn chồng của H là anh Ngô Văn T đang phải nuôi 2 con nhỏ, thu nhập chính là làm ruộng nên chỉ đủ ăn, các tài sản khác không có gì. Cuối 2006, H mãn hạn tù về địa phương. Phần dân sự trong bản án chưa được thi hành thì tháng 7/2008 H mất. Khối tài sản tòa đã kê biên anh T vẫn quản lý và sử dụng.

Trước tình huống này, THADS huyện Ân Thi dự kiến kê biên ngôi nhà của vợ chồng H theo biên bản kê biên của Tòa án trước đó để đảm bảo THA. Tuy nhiên, vụ việc này có hai quan điểm khác nhau: Một luồng ý kiến cho rằng, phải thông qua Tòa án để xác định người thừa kế của H, từ đó yêu cầu người thừa kế gánh chịu nghĩa vụ. Quan điểm thứ hai lại cho rằng Tòa đã kê biên ngôi nhà nên tài sản đó do nhà nước quản lý và quyết định. Do vậy, THA cứ theo bản án mà làm.

Continue reading →

TÌNH HÌNH TRẢ LƯƠNG QUA TÀI KHOẢN GIAI ĐOẠN 2

PHẠM THỊ ÁNH HÒA – Vụ Thanh toán, NHNNVN

Giai đoạn 1 của việc triển khai trả lương qua tài khoản đã hoàn thành và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Việc triển khai trả lương qua tài khoản đã vượt mức về phạm vi địa bàn (63/63 tỉnh đã triển khai) và chuẩn bị sơ kết vào năm 2009. Để tiếp tục triển khai thực hiện có kết quả giai đoạn 2 Chỉ thị 20 (từ năm 2009), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có công văn chỉ đạo yêu cầu NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT): đặt trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản, phát huy những kinh nghiệm tốt và khắc phục những điểm còn bất cập trong giai đoạn 1 vừa qua.

Giai đoạn 2 đã được triển khai theo hướng tích cực nhưng chặt chẽ và thận trọng, đúng đối tượng và chỉ mở rộng ở những nơi mà TCCUDVTT có khả năng đáp ứng việc trả lương qua tài khoản theo đúng tinh thần Chỉ thị 20 đã nêu. Mặc dù, còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung giai đoạn 2 đã có nhiều chuyển biến tích cực đặc biệt là chất lượng cung ứng dịch vụ. Một số kết quả đã đạt được như sau:

1. Công tác triển khai của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố

Sau 6 tháng đầu năm 2009, triển khai thực hiện giai đoạn 2 Chỉ thị 20, hầu hết các địa phương đã bám sát tình hình thực tế để tổ chức triển khai trên địa bàn của mình. Các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai trong giai đoạn 2. Đồng thời, NHNN cũng đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có công văn chỉ đạo Kho bạc Nhà nước, các Sở, ban, ngành, các cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn phối hợp cùng các TCCUDVTT triển khai trả lương qua tài khoản cho cán bộ, công chức phù hợp với năng lực cung ứng thực tế của các TCCUDVTT trên địa bàn. Bên cạnh đó, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cũng thường xuyên theo dõi đôn đốc, nắm bắt các thông tin, tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai dịch vụ trả lương qua tài khoản theo Chỉ thị 20 trên địa bàn thông qua các báo cáo hàng tháng và theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Continue reading →

CHÍNH SÁCH DI CƯ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU: BẢO VỆ NGƯỜI DI CƯ HỢP PHÁP

HOÀNG THƯ

Vài thập niên trở lại đây, cùng với sự dịch chuyển của các dòng tư bản, đầu tư nước ngoài và sự phát triển không ngừng của khoa học – công nghệ, chúng ta chứng kiến những làn sóng di cư, hay là sự dịch chuyển nguồn nhân lực mạnh mẽ trên khắp thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó và Liên minh châu Âu chính là một điểm đến tiềm năng của người di cư Việt Nam. Tuy nhiên, lao động Việt Nam hiện chỉ chiếm một số lượng ít ỏi trên thị trường lao động các nước EU.

Một chính sách di cư toàn diện

Năm 1999, Hội nghị nguyên thủ quốc gia và chính phủ các nước EU tại Tampere (Phần Lan) đã thống nhất yêu cầu phải thiết lập Chính sách di cư chung và Cơ chế cư trú chính trị chung châu Âu. Từ đó, vấn đề di cư và cư trú chính trị được đặt dưới sự quản lý của EU. Trong Chương trình Hague 2004-2009, Cộng đồng chung châu Âu kêu gọi phát triển sâu rộng hơn nữa Chính sách di cư và cư trú chính trị của EU. Tiếp đến, tháng 10/2008, Hiệp ước châu Âu về di cư và cư trú chính trị được Ủy ban châu Âu thông qua. Bằng Hiệp ước này, quan điểm của EU là hướng tới một nhận thức chung cho chính sách quản lý di cư hiệu quả của các nước thành viên EU. Đồng thời khẳng định vị thế và vai trò của người di cư với tư cách là nhân tố phát triển và đối tác.

Hiệp ước khuyến nghị, công dân các nước thứ 3 cần được trang bị những thông tin cần thiết để nắm được yêu cầu, thủ tục về nhập cảnh và cư trú hợp pháp tại các nước EU. Đáng lưu ý, mặc dù cho phép các nước thành viên có thẩm quyền quyết định về phương thức lựa chọn quốc tịch, quyết định số lượng người được phép di cư… nhưng Hiệp ước nhấn mạnh, công dân các nước thứ 3 cư trú hợp pháp trên lãnh thổ các nước thành viên sẽ được đảm bảo đối xử công bằng, có tư cách pháp nhân tương tự như công dân quốc tịch EU.

Continue reading →

MỘT DỰ LUẬT NHIỀU KỲ VỌNG

HỒNG PHÚC

Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin vừa được Bộ Tư pháp trình Chính phủ và đang thu thập ý kiến từ các cơ quan, tổ chức. Dự luật này ra đời nhằm thực thi quyền hiến định “được thông tin” của người dân, “bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và góp phần phòng, chống tham nhũng”, như dự thảo nêu.

Thừa quy định, thiếu thông tin

Theo Bộ Tư pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều văn bản quy định về quyền được tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ (thông tin về môi trường, về quy hoạch, xây dựng, đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toàn thực phẩm, chi tiêu ngân sách…).

Tuy nhiên, hệ thống văn bản này còn chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống; chưa có một cơ chế pháp lý cụ thể, đơn giản để bảo đảm thực hiện quyền này một cách có hiệu quả, nên việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn hạn chế.

Hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước cũng như quyền tự do thông tin mang tính nguyên tắc, tính khái quát hơn là tính thực tiễn.

Các quy định về tiếp cận thông tin chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó phụ trách và kết quả là mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin.

Continue reading →

DỰ THẢO BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT VỀ DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA BỘ TƯ PHÁP

 
Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự thảo Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự thảo Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ Bản thuyết minh chi tiết về các điều, khoản của Dự thảo Luật như sau:

I. Về Chương I – Những quy định chung (gồm 8 điều, từ Điều 1 đến Điều 8 )

– Về Điều 1: Mục đích của Luật

Tương tự như Luật tiếp cận thông tin của nhiều quốc gia trên thế giới, Điều 1 Dự thảo Luật xác định mục đích của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin. Dự thảo Luật xác định hai mục đích chính, cơ bản và quan trọng nhất của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin, đó là (1) bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức; và (2) tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Về mục đích bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức: quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, đã có một số luật, pháp lệnh quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin do mình nắm giữ (Luật phòng, chống tham nhũng, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật bảo vệ môi trường, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Luật ngân sách, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định hoặc có quy định nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin; ngoài ra, phạm vi thông tin mà người dân được tiếp cận cũng chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống. Như vậy, trên thực tế, chưa có một cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm bảo đảm quyền được thông tin của người dân được thực thi trong thực tiễn, và vì vậy, việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn nhiều hạn chế.

Continue reading →

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN

THS. BẠCH THỊ LỆ THOA -  Học viện Tư pháp

Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường, các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của công ty… Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm đến tổ chức nào để giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp?

Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống Toà án và Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, một vấn đề nhận thấy rõ ràng là hệ thống Toà án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết, do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi Toà kinh tế Hà Nội trong năm 2007 phải xử gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế và Toà kinh tế thành phố Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1.000 vụ án kinh tế, thì VIAC cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ (1). Tính trung bình mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0, 25 vụ một năm, trong khi mỗi thẩm phán Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 50 vụ một năm.

Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, thì Toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên Toà án nhân dân tối cao. Những con số này ngoài việc cho thấy sự phổ biến việc xử lý các tranh chấp bằng Toà án còn cho thấy phần nào sự quá tải của hệ thống Toà án (2).

Continue reading →

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, KHIẾU TỐ – NHÌN TỪ THỰC TẾ

THS. CVCC. NGUYỄN VĂN HIỆP – Vụ địa phương (phía Nam), Văn phòng Chính phủ

Năm 2006, Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh đón tiếp 5.391 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo (khiếu kiện) với 3.045 vụ, việc. Năm 2007 đón tiếp 7.170 lượt người với 3.173 vụ, việc. Năm 2008 tiếp 7.258 lượt người với 2.621 vụ, việc. Sang năm 2009, số vụ, việc khiếu kiện tuy có ít hơn những năm trước, nhưng diễn biến có chiều hướng phức tạp hơn, thậm chí đã có vụ, việc mang tính bạo động, quá khích, mang màu sắc chính trị và tôn giáo. Có vụ, việc căng thẳng đến mức vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép. Hầu như không ngày nào không có người đi khiếu kiện dai dẳng, bức bối.

Việc khiếu kiện đã làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương. Mặc dù công tác giải quyết khiếu kiện của công dân đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể các địa phương giải quyết tích cực, nhưng số việc giải quyết dứt điểm được còn ít, thậm chí nhiều nơi, việc cũ giải quyết chưa xong việc mới đã phát sinh. Hiện nay trên cả nước, các vụ việc khiếu kiện của công dân còn tồn đọng rất nhiều.

“Mở đường qua nhà một ông lãnh đạo, người ta phải uốn cong nó, để… bảo vệ ngôi nhà của người lãnh đạo. Thu đất của dân, đền bù 100.000 đồng /m2, đổ vài xe cát vào, bán vài triệu một mét. Làm thế dân không khiếu kiện mới lạ”.

(Phát biểu của Ông Vũ Đức Khiển, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XI tại Hội nghị Tổng kết Chỉ thị 09 của Ban Bí thư và chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo (tổ chức tại Hà Nội ngày 10/10/2005).

1. Nhận xét chung về tình hình khiếu kiện trong thời gian qua

Nhận xét đầu tiên, dễ thấy nhất là số công dân đến trụ sở tiếp dân khiếu kiện ngày càng tăng (năm 2006 tăng 34,3% so với năm 2005, năm 2007 tăng 33% so với năm 2006, năm 2008 tăng 2,1% so với năm 2007, tăng 34,6% so với năm 2006 và tăng 104,9% so với năm 2005). Khiếu kiện đông người năm 2007 tăng so với năm 2006, năm 2008 giảm không đáng kể so với năm 2007 và số đoàn khiếu kiện đông người vẫn rất nhiều (năm 2006 là 145 đoàn, năm 2007 là 171 đoàn, năm 2008 là 142 đoàn).

Continue reading →

ĐỂ QUỐC HỘI THỰC HIỆN ĐÚNG CHỨC NĂNG CƠ QUAN LẬP PHÁP

NGUYỄN SƠN

Nhân đọc bài viết của GS.TS. Nguyễn Vân Nam “Nghị định hướng dẫn quan trọng hơn luật” trên TBKTSG số 31-2009 vừa qua, tôi rất tâm đắc và có một số ý kiến chia sẻ liên quan hoạt động lập pháp ở nước ta hiện nay.

Tình trạng luật đã ban hành nhưng chưa được thực thi vì thiếu văn bản hướng dẫn (nghị định, thông tư…) là thực tế tồn tại trong quản lý nhà nước ở Việt Nam đã được nói đến nhiều nhưng không được cải thiện.

Việc luật phải đợi nghị định, thông tư không chỉ “vi phạm nguyên tắc nhà nước pháp quyền nói chung” như ý kiến của GS.TS. Nguyễn Vân Nam mà còn tạo nên một hệ thống văn bản thiếu minh bạch, không khoa học và rất phức tạp, cồng kềnh do phải dẫn chiếu từ văn bản nọ tới văn bản kia khi áp dụng.

Đây là một trong những lý do khiến pháp luật chậm đi vào cuộc sống. Để giải quyết tình trạng này, chức năng lập pháp phải thực sự do cơ quan có thẩm quyền này (tức là Quốc hội) đảm nhiệm. Tuy nhiên, vấn đề là phải làm thế nào trong thực tế hiện nay ở nước ta để Quốc hội đảm nhiệm được đúng và đủ thẩm quyền tối quan trọng này của mình.

Nguyên nhân của tình trạng luật chờ văn bản dưới luật trong thực tiễn lập pháp nước ta bắt nguồn từ hai lý do. Trước hết, đó là rơi rớt của tư duy và phương thức quản lý thiên về hành chính vốn tồn tại từ thời bao cấp. Các cơ quan quản lý dự thảo luật khung để Quốc hội thông qua. Sau đó Chính phủ ban hành nghị định (cũng do các bộ, ngành dự thảo trình lên) và các bộ, ngành ban hành tiếp thông tư hướng dẫn.

Continue reading →