BÁO CÁO SỐ 2156 BC/UBXH NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 2006 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUỐC HỘI KHÓA XI VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Theo Nghị quyết số 50/2005/QH11 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2006, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về dân số.

Ngay sau khi Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hành, Uỷ ban đã tổ chức khảo sát, đánh giá nhanh tình hình triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật về dân số, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về dân số; khảo sát, giám sát tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Cạn, Ninh Thuận, Bình Phước, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kon Tum, Khánh Hòa, Nam Định, Hải Phòng, Hà Tây, Tuyên Quang, Long An, thành phố Hồ Chí Minh; hội thảo về thực hiện chính sách, pháp luật về dân số tại Tuyên Quang, Thái Bình, Nghệ An, Long An, Nam Định, Hải Phòng; phối hợp với chuyên gia nghiên cứu đánh giá độc lập về vấn đề dân số ở cộng đồng và tổ chức nhiều hội nghị chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi kết quả giám sát về tình hình dân số.

Ngày 25/3/2006, Uỷ ban đã họp để nghe đại diện Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DS, GĐ & TE) báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về dân số. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, khảo sát, giám sát và trên cơ sở ý kiến thảo luận tại các hội nghị, hội thảo, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số vấn đề như sau:

I. KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

1.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Pháp lệnh Dân số đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 9/1/2003, có hiệu lực thi hành từ 01/5/2003. Nội dung Pháp lệnh đã đề cập toàn diện cả 4 yếu tố của vấn đề dân số, đó là quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư; do đó đã khắc phục được sự tản mạn, không thống nhất của văn bản pháp luật về dân số giai đoạn trước (trước đây, các quy định điều chỉnh các khía cạnh của vấn đề dân số được quy định rải rác ở Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình…).

Continue reading →

DÂN SỐ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

DƯƠNG NGỌC

Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm 1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm.

Trong đó:

– Thời kỳ 1921 – 1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm;

– Thời kỳ 1943 – 1951 tăng 56,1 nghìn người/năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và số người bị chết trong chiến tranh.

– Thời kỳ 1951 – 1957 tăng 753 nghìn người/năm hay tăng 3,03%/năm;

– Thời kỳ 1957 – 1976 tăng 1.135,8 nghìn người/năm hay tăng 3,08%/năm;

– Thời kỳ 1976 – 1985 tăng 1.190,2 nghìn người/năm hay tăng 2,21%/năm;

– Thời kỳ 1985 – 2008 tăng 1.142,9 nghìn người/năm hay tăng 1,60%/năm;

riêng thời kỳ 2000 – 2008 tăng 1.065,6 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,31%/năm.

Như vậy, mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh.

Continue reading →

CEDAW VÀ PHÁP LUẬT: NGHIÊN CỨU RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ GIỚI VÀ QUYỀN QUA LĂNG KÍNH CEDAW

QUĨ PHÁT TRIỂN LIÊN HỢP QUỐC – UNIFEM

Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam dựa trên cơ sở giới và quyền này là đúng lúc và phù hợp nhất ở Việt Nam. Việc thông qua Luật Bình đẳng giới vào ngày 29-112006 và việc đánh giá của Uỷ ban về Xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Ủy ban CEDAW) vào ngày 17-1-2007 báo hiệu sự cần thiết nghiên cứu rà soát xem văn bản pháp luật hiện hành đã phù hợp với các tiêu chuẩn về bình đẳng giới hay chưa và liệu có cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay ban hành văn bản mới hay không.

Việc nghiên cứu rà soát này nhằm mục đích giúp quá trình đánh giá và hoàn thiện văn bản pháp luật. Do vậy, hy vọng công trình nghiên cứu rà soát này sẽ có ích cho những người soạn thảo văn bản pháp luật cũng như những người tuyên truyền vận động cho bình đẳng giới đang muốn chuyển hệ thống pháp luật hiện hành thành một hệ thống pháp luật có đưa vào một cách đầy đủ các nguyên tắc về bình đẳng giới và không phân biệt đối xử.

Khi tiến hành hoạt động nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam dựa trên cơ sở giới và quyền, Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) đã được chọn làm khuôn khổ và công cụ phân tích, vì CEDAW là một điều ước về quyền con người và ủng hộ mạnh mẽ phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền để đòi được hưởng quyền. Công ước này còn là một điều ước ủng hộ mạnh mẽ bình đẳng giới và không phân biệt đối xử trong tất cả các lĩnh vực.

Công ước nhấn mạnh nghĩa vụ của quốc gia thành viên để bảo đảm sự thụ hưởng quyền bình đẳng. Sau cùng, với tư cách là một điều ước và do đó bản thân nó cũng là một văn bản pháp luật, Công ước CEDAW là căn cứ phù hợp nhất trong những cuộc bàn luận về pháp luật và cải cách pháp luật.

Continue reading →

BÁO CÁO SỐ 1346/BC-UBXH12 NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Luật bình đẳng giới được thông qua ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá XI và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Nhằm góp phần đánh giá hiệu quả triển khai thi hành Luật bình đẳng giới sau hơn 1 năm rưỡi tổ chức thực hiện và phục vụ việc thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia bình đẳng giới tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII, Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành một số hoạt động khảo sát, giám sát về tình hình thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới tại một số địa phương (Hậu Giang, Kiên Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bình Định, Quảng Ngãi, Hà Nội, Bình Phước, Đắc Nông) và một số bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội (Bộ lao động – thương binh và xã hội; Bộ văn hóa, thể thao và du lịch; Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ giáo dục và đào tạo; Bộ nội vụ; Bộ y tế; Ủy ban dân tộc; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) vào cuối năm 2008 và trong quý I năm 2009. Đồng thời, Ủy ban về các vấn đề xã hội cũng tiến hành lồng ghép vấn đề này vào nội dung các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm chuyên gia nhằm thu thập thêm các thông tin.

Sau đây, Ủy ban xin báo cáo Quốc hội về kết quả giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới như sau:

I. VỀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật bình đẳng giới

Sau khi Luật bình đẳng giới được Quốc hội thông qua, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới để cụ thể hóa các quy định của Luật đã được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới, trong đó xác định vai trò và trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thi hành Luật. Các bộ, ngành, địa phương cũng đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cho phù hợp với các nguyên tắc của Luật bình đẳng giới và bước đầu triển khai việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Continue reading →

CHỈ SỐ BÌNH ĐẲNG GIỚI: MỘT CÁCH NHÌN NHẬN MỚI VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

HOÀNG ANH

Chỉ số bình đẳng giới (GEI) là một chỉ số mới được Social Watch (Tổ chức phi chính phủ quốc tế về giám sát việc thực hiện các vấn đề xã hội) xây dựng vào năm 2004 nhằm đo lường một cách chính xác mức độ bình đẳng giới của một quốc gia. GEI là trung bình số học của bình đẳng giới trong 3 lĩnh vực giáo dục, kinh tế và tham chính.

Trong lĩnh vực giáo dục, bình đẳng giới được thể hiện ở trình độ biết đọc, biết viết của nam và nữ, tỷ lệ nam, nữ được tuyển vào các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Nhật Bản, Ai Len, Vanuatu và Ba ren là những nước dẫn đầu trong lĩnh vực này.

Trong lĩnh vực kinh tế, bình đẳng giới được xác định ở tỷ lệ phần trăm phụ nữ có việc làm được trả lương (không kể ngành nông nghiệp) và tỷ lệ thu nhập của phụ nữ/nam giới. Nói chung, trên toàn cầu, phụ nữ ít được tiếp cận thị trường lao động hơn so với nam giới và nếu đi làm thì bao giờ cũng bị trả lương thấp hơn. Có 52 quốc gia dẫn đầu về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế với khoảng cách chênh lệch về thu nhập của nữ và nam là 0,65. Trong đó, trung bình phụ nữ chiếm 50% dân số có việc làm được trả công.

Trong lĩnh vực tham chính, bình đẳng giới được đo lường ở tỷ lệ phần trăm phụ nữ trong quốc hội và ở cấp bộ trưởng. Thực tế là mặc dù phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số thế giới nhưng tính trung bình chỉ chiếm 15% số ghế trong quốc hội và 6% các vị trí trong nội các chính phủ. Chỉ có Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan đạt tỷ lệ nữ bộ trưởng ở mức trên 40%. Duy nhất có Thụy Điển đạt một nửa số thành viên nội các là phụ nữ vào năm 1995- một hiện tượng chưa từng xảy ra trước đây trong lịch sử. Một số công trình nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng để phụ nữ thực sự có ảnh hưởng chính trị thì họ phải nắm giữ ít nhất là 30% vị trí trên chính trường. Tuy nhiên, chỉ có một số ít quốc gia là vượt qua được mức này và hầu hết là các nước Bắc Âu như Phần Lan, Na Uy (39%), Thuỵ Điển (34%) và Đan Mạch (33%).

Continue reading →

TRAO ĐỔI MỘT SỐ KHÓ KHĂN QUI ĐỊNH VỀ CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS 2004) thì các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp; cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

Về chứng minh và chứng cứ

Điều 79 BLTTDS 2004 qui định: “Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ hợp pháp; đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh; cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ.

Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các qui định về chứng cứ, chứng minh theo BLTTDS 2004 chưa phù hợp với xu thế hội nhập và cải cách tư pháp như:

– Chưa có tổ chức nào để giúp người dân thu thập chứng cứ được pháp luật công nhận việc sưu tầm, sao chép, chụp hình ảnh hiện trạng hoặc lập biên bản về các sự kiện xảy ra trước hay sau khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện… (hy vọng sau này sẽ có tổ chức thừa phát lại giúp người dân thực hiện về chứng cứ, chứng minh).

Continue reading →

TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

TS. LƯU BÌNH NHƯỠNG

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động (hay còn gọi là quan hệ công nghiệp (industrial relations), người sử dụng hoặc đại diện của họ có một vị trí, vai trò rất quan trọng.

1. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động và vị trí pháp lý của nó

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động (hay còn gọi là quan hệ công nghiệp (industrial relations)), người sử dụng hoặc đại diện của họ có một vị trí, vai trò rất quan trọng.

Luật lao động theo trường phái cổ điển thường chú trọng đến việc bảo vệ người lao động bởi lẽ người lao động là chủ thể yếu thế trên thị trường lao động và thường lép vế trong mối quan hệ lao động. Quan niệm về một thứ luật lao động với những quy phạm dày đặc nhằm tạo ra một “tấm áo giáp” pháp luật cho người lao động đã vô tình làm lu mờ vai trò của người sử dụng lao động – một đối tác cần thiết trong mối quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của sự xuất hiện và phát triển của pháp luật lao động thì điều đó là cần thiết và dễ hiểu.

Đến một giai đoạn phát triển nhất định của quan hệ lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động dần được khẳng định vị trí trong môi trường lao động và trong xã hội. Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động là một chủ thể không thể thiếu trong các quy định của luật lao động.

Theo cách hiểu chung nhất, tổ chức đại diện người sử dụng lao động lao động là thiết chế được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Việc xác lập các tổ chức đại diện người sử dụng lao động đề dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do liên kết.

Continue reading →

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG

TẠ THANH BÌNH

1. Mô hình tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung theo pháp luật một số nước trên thế giới

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung là thị trường chứng khoán nơi các giao dịch chứng khoán được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất dưới dạng các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)1, tại đó người mua và người bán (hay đại diện và những nhà môi giới của họ) gặp nhau để tiến hành giao dịch. Vì vậy, người ta còn gọi SGDCK là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả2. Giá cả của chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung được xác lập chủ yếu qua cơ chế đấu lệnh tập trung.

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung được tổ chức dưới hình thức các SGDCK. Theo Liên đoàn các SGDCK thế giới (WFE), hiện nay trên thế giới đang tồn tại 4 mô hình tổ chức SGDCK phổ biến. Mỗi mô hình có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, được các nước áp dụng tuỳ theo từng giai đoạn phát triển nhất định của thị trường, bao gồm:

i) SGDCK tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn được sở hữu bởi các thành viên (còn gọi là mô hình thành viên). Theo mô hình này, SGDCK do các thành viên là các công ty chứng khoán (CTCK) sở hữu. Thành viên vừa là người tham gia giao dịch vừa là người quản lý SGDCK, nên có thể phát huy tối ưu vai trò tự quản, nâng cao tính hiệu quả và nhanh nhạy trong việc xử lý các vấn đề phát sinh của thị trường. SGDCK theo mô hình thành viên thường hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận, chủ yếu là mang tính chất phục vụ cho hoạt động giao dịch cho chính các thành viên tại SGDCK. Những lợi ích kinh tế gắn bó với tư cách thành viên được phân chia một cách công bằng hoặc trên cơ sở phần đóng góp của thành viên vào SGDCK. Hiện nay có tới 16,3% SGDCK áp dụng mô hình này như: Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Sri Lanka…

Continue reading →

MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CHẾ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

TS. PHẠM TUẤN KHẢI – Phó Trưởng ban Ban Xây dựng Pháp luật- VPCP

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các yêu cầu của  giai đoạn mới – giai đoạn phát triển dân chủ và hội nhập kinh tế quốc tế.

Khi nói đến pháp luật ở Việt Nam, chúng ta thường có quan niệm: pháp luật nước ta chưa đi vào thực tiễn, chưa phản ánh hết các quan hệ kinh tế – xã hội. Hay nói cách khác, các quy phạm pháp luật chưa điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội mà người dân mong muốn. Chúng ta đang chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nhưng các yếu tố của kinh tế thị trường lại chưa được các quy định của pháp luật điều chỉnh (hoặc nếu có thì rất chậm như trong lĩnh vực đầu tư, đổi mới doanh nghiệp, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, tổ chức bộ máy…). Điều này cũng dễ hiểu vì các lý do sau đây:

– Chưa có một tư duy mới về xây dựng pháp luật hiện đại, đặc biệt là định hướng tư tưởng chính sách cho việc xây dựng pháp luật;

– Quá trình xây dựng các văn bản còn cục bộ, bản vị, kéo lợi thế về bộ ngành( là cơ quan chủ trì), đẩy khó khăn cho các bộ, nghành khác;

– Việc phối kết hợp trong xây dựng pháp luật giữa các chủ thể tham gia xây dựng pháp luật chưa tốt, đặc biệt là việc tham gia ý kiến của các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các văn bản;

– Thiếu thông tin khoa học trong xây dựng pháp luật;

– Trình độ xây dựng (kỹ thuật xây dựng pháp luật) của cán bộ, công chức thấp;

– Kinh phí cho việc xây dựng pháp luật không đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật;

– Kiểm tra việc thực hiện pháp luật chưa tốt  v.v…

Continue reading →

ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN: VẤN ĐỀ BỨC XÚC CỦA HẬU GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

NGUYỄN MINH PHONG – PHẠM THỊ MINH UYÊN

Trong những năm gần đây, đô thị hóa kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu đất cho phát triển các khu công nghiệp tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Từ năm 2001-2008, Hà Nội đã triển khai 2.818 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất, bình quân 1 năm Thành phố giải phóng mặt bằng gần 1000 ha, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp liên quan đến 178.205 hộ dân, trong 8 năm đã có khoảng 197.000 người bị mất việc do bị thu hồi đất, con số này tiếp tục tăng qua các năm.

Vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất canh tác đang ngày càng nóng bỏng, tác động sâu sắc đến sự phát triển bền vững của đất nước. Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã có những chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề và việc làm cho người nông dân, nhưng các chính sách đó vẫn còn một số mặt bất cập cần nghiên cứu và tháo gỡ.

Những bất cập về chính sách

Trong các chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất canh tác về đào tạo nghề và việc làm, có những vấn đề bất cập về chính sách nổi bật hiện nay là: Chi NSNN cho đào tạo nghề và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất canh tác trong giai đoạn từ 2001-8/2008 không ngừng tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế. Chi NSNN cho đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố tăng dần qua các năm, giai đoạn 2001-2005 tổng chi NSNN cho đào tạo nghề là 1608,8 tỷ đồng, từ 2006-2008 là 1167,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ trọng chi NSNN cho đào tạo nghề trong tổng chi NSNN cho lĩnh vực GD-ĐT lại có xu hướng giảm đi. Tổng chi NSNN cho những hoạt động trực tiếp đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành là 422,591 tỷ đồng. Trong cơ cấu chi NSNN đào tạo nghề trực tiếp cho nông thôn ngoại thành, chi đầu tư nâng cấp, củng cố, mở rộng cơ sở đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành và chi hoạt động cho các cơ sở đào tạo nghề chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 38-44%. Cơ cấu nguồn chi thường xuyên cho công tác đào tạo nghề các năm trên toàn thành phố, tỷ lệ đóng góp của người học là 85,8% và tỷ lệ đóng góp từ NSNN chiếm 87,7%.

Continue reading →

MÔ HÌNH NÀO CHO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM?

DOÃN HỮU TUỆ – Viện Chiến lược Ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung ương (NHTW) chính là trái tim của nền kinh tế. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ. Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế. Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, NHTW cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.

Ở Việt Nam, trước khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời (5/1990), hệ thống Ngân hàng hoạt động theo mô hình một cấp, tức là NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng. Sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời, hệ thống Ngân hàng chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình hai cấp; theo đó, lần đầu tiên đối tượng , nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:

– NHNN thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; thực thi nhiệm vụ của một và là ngân hàng của các ngân hàng. NHNN là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.NHTW- là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền

– Các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các định chế tài chính, ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.

Continue reading →

NGHỊ QUYẾT SỐ 21 – NQ/T.Ư ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÓA X VỀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA X

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðường lối đổi mới của Ðảng đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới cơ bản từ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là chủ yếu  sang nhiều  hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho khai thác tiềm năng trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế – xã hội. Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà  nước  đã  đi  vào  cuộc sống, doanh nghiệp và doanh nhân được tự chủ kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh để phát triển. Quản lý nhà nước về kinh tế được đổi mới từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh chuyển sang quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất. Việc xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai còn nhiều vướng mắc. Vấn đề sở hữu, quản lý và phân phối trong các doanh nghiệp nhà nước chưa giải quyết tốt, gây khó khăn cho sự phát triển và làm thất thoát tài sản nhà nước, nhất là khi tiến hành cổ phần hóa. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác còn bị phân biệt đối xử. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hình thành, phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt.

Continue reading →

TÁC QUYỀN, TỪ NHÀ RA NGÕ

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

Nhiều đối tác nước ngoài nghĩ rằng, Việt Nam là một xứ sở lạ kỳ về tác quyền: Làm gì có một môi trường xuất bản mà sách viết chưa xong đã… lên kế hoạch đối phó sách lậu!

Chuyện hài “phá án”

Sau khi phát hiện một số đầu sách best-seller của mình bị in lậu bày bán công khai, nhà xuất bản (NXB) A nóng ruột, tự xắn tay vào cuộc. NXB nọ đã lên kế hoạch tác chiến, cho nhân viên đóng vai, giả dạng tiếp cận đối tượng và kêu cơ quan an ninh đến phục kích “bắt tận tay day tận mặt” một điểm tập kết sách lậu đang chuẩn bị tuồn ra thị trường.

Phi vụ đặc nhiệm này trở nên hy hữu trong làng xuất bản, được nhiều báo chí truyền thông hả hê vỗ tay tán thưởng. NXB A cũng thấy hài lòng, bèn đề xuất cơ quan chức năng thưởng tiền và bằng khen lập chiến công cho những cơ quan an ninh đã hợp tác nhiệt tình. Nhưng chẳng may, tại buổi tôn vinh “thành tích phá án”, các nhà báo đã liên tục đứng lên “làm khó” cơ quan an ninh bằng những câu hỏi như: cơ quan chức năng sẽ xử lý đống sách lậu bắt được như thế nào, có động thái gì liên kết với cơ quan an ninh những địa phương khác phá đường dây một cách triệt để?…

Theo nguồn tin đáng tin cậy, sau buổi tặng thưởng cho chiến công ấy, có vị lãnh đạo trong cơ quan an ninh (được nhận bằng khen) đã quay trở lại “khiển trách” NXB chỉ vì… “đã cung cấp quá nhiều thông tin cho nhà báo, để họ làm khó chúng tôi!”.

Continue reading →

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG CÁC GIAO DỊCH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NGUYỄN THỊ HỒNG – Văn phòng Quốc hội

Quyền tiếp cận thông tin là một quyền quan trọng của con người, được đề cập trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. ở nước ta, quyền này của công dân cũng được thừa nhận trong Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật. Tuy nhiên, do được quy định tản mạn trong nhiều văn bản pháp luật nên quyền tiếp cận thông tin của công dân chưa được bảo đảm. Điều này có thể thấy ở nhiều lĩnh vực, trong đó có các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất.

1. Thực trạng quyền tiếp cận thông tin liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất

Có thể nói, trong giao dịch dân sự, các thông tin liên quan trực tiếp như: chủ thể, đối tượng giao dịch, các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản… là cơ sở quan trọng để các bên quyết định có tham gia giao dịch hay không. Trong các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất (QSDĐ), các bên phải (và được) cung cấp những thông tin liên quan đến thửa đất như: đất nằm trong khu quy hoạch nào, vị trí, ranh giới; diện tích; ai là người có QSDĐ; QSDĐ có liên quan tới quan hệ thừa kế, có phải là tài sản bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ nào đó hay không?…

Tuy nhiên, trên thực tế, sự thiếu đồng bộ trong quản lý đất đai, trong ðóng ký, quản lý giao dịch bảo đảm, cũng như sự thiếu minh bạch trong các quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin (của người sử dụng đất và cơ quan quản lý nhà nước), quyền được cung cấp thông tin liên quan đến QSDĐ… dẫn đến việc người dân tiếp cận, tìm hiểu thông tin còn gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn này đến cả từ phía người ðang sử dụng đất và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Continue reading →

VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN TRƯỜNG HỢP ĐÃ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NGUYỄN XUÂN

Pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đất đai đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế. Do ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nên có một số mâu thuẫn trong các quy định liên quan đến vấn đề khiếu kiện về đất đai. Tuy nhiên, từ khi Nghị định 181 và Nghị định 84 ra đời, việc phân định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện trong trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ)cơ bản không còn vướng mắc.

Không mâu thuẫn về thẩm quyền giải quyết

Điều 136 Luật Đất đai phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với hai trường hợp có, không có giấy chứng nhận QSDĐ. Nếu đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được giải quyết theo con đường khiếu nại hành chính. Theo quy định này, Tòa án nhân dân chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư khi có phát sinh tranh chấp đất đai với nhau, còn thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan hành chính có thẩm quyền thực hiện.   

Tuy nhiên, đối với việc thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất, Điều 42 Nghị định 181 quy định: Sở Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp; Phòng Tài nguyên và Môi trường thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp. Điều này hoàn toàn phù hợp, vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các trường hợp: cấp đổi; sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các trường hợp tại Điều 38 Luật Đất đai (bắt buộc phải thu hồi đất) thì cơ quan hành chính có thẩm quyền sẽ thu hồi vì được cấp trái pháp luật. Đây là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, không phải là tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức với nhau nên thẩm quyền giải quyết do các cơ quan hành chính thực hiện là hoàn toàn phù hợp, không mâu thuẫn pháp lý hay xung đột thẩm quyền giải quyết.

Continue reading →

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (PHẦN 2)

PGS. TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công Thương

Những nỗ lực cải thiện thể chế môi trường kinh doanh được phản ánh qua việc thăng hạng đáng kể thứ bậc môi trường kinh doanh của Việt Nam dựa trên 10 tiêu chí của Công ty tài chính quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng thế giới (WB); Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI theo VCCI và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI…

Tuy nhiên, những nỗ lực cải cách thể chế MTKD như vậy là chưa đủ. So với các nước trong khu vực, thứ bậc về mức độ thuận lợi và dễ dàng trong kinh doanh ở Việt Nam thấp hơn nhiều (như Singapore đứng thứ nhất, Thái Lan 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83…), đòi hỏi Việt Nam cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ trong cải thiện thể chế MTKD để thu hẹp khoảng cách với các nước nhằm nâng cao tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, các doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, đảm bảo sự thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế. (Xin mời các bạn đọc phần 1 bài viết này tại đây – Civillawinfor)

7. Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh (MTKD) trong thời gian tới

a/ Quan điểm hoàn thiện thể chế MTKD trong thời gian tới

– Bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của thể chế MTKD.

– Thể chế MTKD phải phù hợp thực tế phát triển kinh tế đất nước.

– Đảm bảo tính khả thi của thể chế MTKD.

– Thể chế MTKD là hệ thống vận động và phát triển không ngừng.

Tóm lại, không có những thể chế cứng nhắc cố định mãi, để có một thể chế có hiệu lực, tác động có hiệu quả phải th­ờng xuyên điều chỉnh, hoàn thiện bảo đảm phát triển không ngừng, tạo ra sức sống mới cho thể chế MTKD.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 107/BXD-QLN NGÀY 13 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC MUA BÁN CÁC DIỆN TÍCH KHÔNG PHẢI LÀ CĂN HỘ ĐỂ Ở TRONG CÁC CÔNG TRÌNH CÓ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỖN HỢP

Kính gửi: Công ty cổ phần xây dựng và phát triển nhà Hoàng Anh

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 68/CV-HA.09 ngày 24/6/2009 của Công ty cổ phần xây dựng và phát triển nhà Hoàng Anh đề nghị hướng dẫn một số vấn đề liên quan đến việc mua bán các diện tích không phải là căn hộ để ở trong các công trình xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp và việc cấp giấy chứng nhận đối với các diện tích này. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

1. Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản thì hợp đồng kinh doanh bất động sản phải lập thành văn bản; việc công chứng, chứng thực hợp đồng kinh doanh bất động sản do các bên thoả thuận.

2. Đối với công trình xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp được xây dựng theo dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người mua các diện tích không phải là nhà ở (các diện tích này được cơ quan có thẩm quyền cho phép bán) sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ; thời hạn sở hữu công trình xây dựng là thời hạn đã quy định trong giấy chứng nhận đầu tư công trình đó và được ghi rõ trên giấy chứng nhận.

3. Về đối tượng được mua bán công trình xây dựng thì pháp luật hiện hành chưa có quy định cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu công trình xây dựng mà chỉ cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu công trình xây dựng thông qua hình thức đầu tư xây dựng công trình đó.

Continue reading →

VỀ THẨM QUYỀN CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG NHÀ GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

NGUYỄN XUÂN

Hiện nay, có nhiều văn bản quy định thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã và cấp huyện, dẫn đến một số quy định vênh nhau. Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng hiệu lực của văn bản thì thẩm quyền chứng thực các loại hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất và nhà ở không vướng mắc.

Không rối khi chứng thực hợp đồng có nhà và đất

Nghị định 75 về công chứng, chứng thực quy định UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản theo thẩm quyền địa hạt. Như vậy các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản sẽ do UBND huyện chứng thực, UBND xã không có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản nêu trên. Khi Luật Đất đai, Thông tư liên tịch số 04 được ban hành thì lại giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất cho UBND cấp xã và Phòng Công chứng. Tuy nhiên, Điều 174 Bộ luật Dân sự quy định bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó. Quy định này cho thấy, bất động sản không chỉ đất đai mà còn có nhà gắn liền với đất, nên UBND cấp huyện vẫn có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan. Mặt khác, tại Khoản 3, Điều 93 Luật Nhà ở quy định hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn. Điều 11 Luật Nhà ở cũng quy định, Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở được cấp cho chủ sở hữu theo quy định: Trường hợp chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất ở, chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư thì cấp một giấy chứng nhận là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở thì cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, quy định tại khoản này được gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Như vậy, nếu sử dụng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì theo quy định của Luật Nhà ở chắc chắn sẽ có thông tin về quyền sử dụng đất, vì nhà ở luôn gắn liền với đất. Do đó các hợp đồng, giao dịch của người dân liên quan đến quyền sở hữu nhà ở, trong đó có cả quyền sử dụng đất thì UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực.

Continue reading →

THÔNG TƯ SỐ 18/2009/TT-NHNN NGÀY 14 THÁNG 8 NĂM 2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG MUA, THUÊ MUA NHÀ Ở THU NHẬP THẤP TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ

Căn cứ Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị;
Căn cứ Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định chi tiết việc cho vay của các ngân hàng thương mại đối với các công tác mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp tại khu vực đô thị như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Áp dụng pháp luật

Các ngân hàng thương mại cho vay đối với người được mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp tại khu vực đô thị thực hiện theo các quy định của pháp luật về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, các quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Cho vay đối với người mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp tại khu vực đô thị (sau đây gọi tắt là cho vay đối với người mua, thuê mua nhà ở thu nhập thấp): là việc các ngân hàng thương mại cho vay các đối tượng có thu nhập thấp tại khu vực đô thị, đủ điều kiện được mua, thuê nhà ở thu nhập thấp theo chính sách của nhà nước.

2. Mua nhà ở thu nhập thấp trả góp: Là việc người có thu nhập thấp được mua nhà ở thu nhập thấp và phải trả tiền mua nhà thành nhiều kỳ hạn.

3. Thuê mua nhà ở thu nhập thấp: Là việc người có thu nhập thấp được thuê mua nhà thu nhập thấp theo chính sách và người thuê mua trở thành chủ sở hữu toàn bộ căn nhà sau khi thanh toán hết tiền thuê mua theo hợp đồng thuê mua.

Continue reading →