QUYỀN VĂN HOÁ – CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ QUAN TRỌNG TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TS. PHẠM TUẤN KHẢI – PTB, Ban Xây dựng Pháp luật – VPCP

Quyền về văn hoá ở Việt Nam được ghi nhận như một tuyên ngôn trong hoạt động của nhà nước Việt Nam. Cùng với các quyền và lợi ích khác của công dân như quyền chính trị (bầu cử, ứng cử), quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền học tập, quyền được bảo vệ sức khoẻ….quyền văn hoá được Đảng và Nhà nước ta đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong đó, quyền văn hoá là nhân tố hàng đầu cho nhận thức và thực hiện các quyền khác.

Văn hoá nói chung và quyền văn hoá nói riêng được vận dụng trong thực tế như một định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn, hành động của người Việt Nam nhằm hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan hệ giữa người và người, giữa các dân tộc và với môi trường tự nhiên xã hội.Về mặt pháp lý, quyền văn hoá, trong mối quan hệ với các quyền khác là tiền đề, là nhân tố nội sinh cho sự tồn tại và phát triển trong hệ thống pháp luật Việt nam.

Quan điểm xây dựng quyền văn hoá (một trong những chế định pháp lý về quyền con người) ở Việt Nam, ngoài việc đề cao quyền con người, đề cao tự do cá nhân và những bảo đảm của Nhà nước cho việc thực hiện quyền đó, còn có yếu tố rất quan trọng là đặt quyền văn hoá trong mối quan hệ chặt chẽ với các quyền khác, tạo thành một hệ thống các qui định hết sức chặt chẽ về quyền con người trong điều kiện chúng ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Các mối quan hệ này bao gồm: giữa kinh tế với văn hoá; giữa tự do của con người với sáng tạo, vun đắp tài năng văn hoá; giữa việc tính thống nhất đa dạng của văn hóa với việc phát huy bản sắc dân tộc, tôn trọng truyền thống văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc và việc chống lại việc lợi dụng văn hoá, tín ngưỡng để đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân, của Tổ quốc; giữa kế thừa các giá trị văn hoá dân tộc với việc mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, tiếp thu tinh hoa nhân loại và đấu tranh ngăn chặn sự xâm nhập các loại văn hoá độc hại, bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữa việc khẳng định nhân tố mới, những giá trị cao đẹp của dân tộc ta với việc phê phán cái sai, lên án cái ác, cái xấu, đấu tranh không khoan nhượng với các luận điệu độc hại của các thế lực thù địch.

Continue reading →

KHI CÁC QUAN TOÀ PHẠM TỘI

NGUYÊN TẤN

Quan tòa, ở xã hội nào cũng vậy, luôn được coi là biểu tượng của nền công lý. Thế nhưng, một thực tế là ở nước ta danh sách các quan tòa bị vướng vào lao lý đang càng ngày càng dài thêm. Gần đây nhất, chỉ trong vòng tháng 6 và 7-2009, các phương tiện truyền thông đưa tin ít nhất có bốn thẩm phán bị phát hiện, xử lý vì có dấu hiệu phạm tội.

Ở trường hợp đầu tiên, mặc dù vụ án được giao chưa đưa ra xét xử nhưng thẩm phán Đinh Xuân Tùng, TAND huyện Cai Lậy, Tiền Giang đã tự ra một quyết định trái pháp luật là công nhận thuận tình ly hôn cho nguyên đơn và nhờ “bửu bối” đó, người này đã “bỏ vợ” đi đăng ký kết hôn với người khác (theo cand.com.vn, 14-7-2009).

Trong năm 2007 đã có 35 cán bộ, thẩm phán bị kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu tính trên tổng số khoảng 3.350 thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh cả nước hiện nay thì số tiêu cực trong một năm này đã chiếm tới 1%.

 Hai vụ tiếp theo là thẩm phán Lê Minh Hiếu, Phó chánh án TAND huyện Tam Nông, Đồng Tháp và thẩm phán Bùi Đức Hải, Phó chánh án TAND huyện Sơn Hòa, Phú Yên đều có hành vi nhũng nhiễu, vòi tiền của bị đơn, bị cáo trong khi xét xử (theo thanhnien.com.vn, 4-6-2009; Lao Động 4-8-2009)

Trường hợp thứ tư thì quan tòa lại đi chạy án cho bị can! Đó là vụ thẩm phán Nguyễn Xuân Sơn, Phó chánh án TAND huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, cất công đến tận nhà riêng một quan chức thuộc cơ quan điều tra của tỉnh Phú Yên để đưa phong bì hối lộ 30 triệu đồng nhằm “xin giúp đỡ xem xét, giảm nhẹ tội” cho một đối tượng đang bị cơ quan này điều tra. Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI

MINH CHÂU

Qua số liệu báo cáo của các sở lao động, thương binh và xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc qua các năm tăng đáng kể, đặc biệt là hai năm gần đây.

Năm 2005, số lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng 8615 người (68,4%) so với năm 2004; năm 2006, tăng 12.900 người (61%) so với năm 2005. Tính đến năm 2007, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là trên 43.000 người, và đến năm 2008 là 52.633 người, tăng 20,26% so với năm 2007. Trong đó, tỷ lệ người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động là rất thấp; năm 2008 chỉ đạt 43,87% (18.066 người), tăng 8,3% so với năm 2007.

Trên đây là số lao động nước ngoài được các địa phương báo cáo là những lao động có đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam và đã đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất để xin giấy phép lao động. Còn những đối tượng lao động nước ngoài phổ thông không đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam, vào Việt Nam làm việc bằng nhiều con đường và hình thức khác nhau, thì chưa được các địa phương tổng hợp và báo cáo. Vấn đề tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã và đang được Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm, nhất là trong thời gian gần đây.

Trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, có một số vấn đề nảy sinh như sau:

Đối với các địa phương

1. Thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nước ngoài chưa nghiêm: Một số địa phương xác nhận đối tượng không phải cấp giấy phép lao động sai quy định; hoặc áp dụng “linh hoạt” khi cấp giấy phép lao động, như cho nợ phiếu lý lịch tư pháp hay các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động; hoặc khi gia hạn giấy phép lao động, không kiểm tra kỹ việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo người lao động Việt Nam để thay thế.

2. Theo dõi và quản lý lao động nước ngoài chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời và thiếu sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các đơn vị ở địa phương: Có những trường hợp các nhà thầu phụ của nước ngoài chưa được cấp giấy phép thầu nhưng vẫn hoạt động như bình thường. Đặc biệt, có những trường hợp chủ đầu tư khoán trắng cho nhà thầu chính; nhà thầu chính thuê nhà thầu phụ và mọi hoạt động liên quan đến tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài do nhà thầu phụ tự quyết định, chính quyền địa phương không có ý kiến, dẫn đến tình trạng các nhà thầu phụ này sử dụng bao nhiêu lao động nước ngoài thì chủ đầu tư và nhà thầu chính cũng không biết. Đây là sự buông lỏng trong quản lý của địa phương và chủ đầu tư.

Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam thông qua nhiều cửa khẩu và do nhiều cơ quan quản lý. Chẳng hạn, qua các cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài, Thống Nhất, Đà Nẵng… do Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an quản lý; qua các cửa khẩu biên giới do Bộ đội Biên phòng quản lý; và có không ít trường hợp qua đường biên vào Việt Nam làm việc. Khi người nước ngoài vào Việt Nam, họ có quyền đi lại, tạm trú ở bất cứ đâu mà pháp luật không cấm, do đó, nếu không có sự phối hợp giữa các cơ quan, sự theo dõi sát sao của các địa phương, cơ sở thì rất khó cho việc quản lý họ.

3. Thực hiện chế độ báo cáo không đầy đủ, không đúng quy định: Theo quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP, ngày 25-3-2008, của Chính phủ và Thông tư số 08/2008/TT-BLĐTBXH, ngày 10-6-2008, của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp và gửi báo cáo định kỳ 6 tháng và cả năm tình hình lao động nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn quản lý về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, số lượng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội gửi báo cáo là không nhiều.

4. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm còn rất hạn chế: Nhiều địa phương thiếu chủ động trong thanh tra, kiểm tra về lao động nước ngoài, mà chỉ tham gia với các đoàn thanh tra cấp bộ; việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động về lao động nước ngoài chưa nhiều.

5. Chưa có nhiều đề xuất với Uỷ ban nhân dân, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan để có những giải pháp quản lý lao động nước ngoài.

Đối với người sử dụng lao động

– Nhiều doanh nghiệp, tổ chức tuyển lao động nước ngoài chưa thực hiện đúng pháp luật Việt Nam: Không thông báo nhu cầu tuyển lao động trên các báo; không cung cấp đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động cho lao động nước ngoài biết và thực hiện; tuyển cả lao động nước ngoài không có các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhất là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; không thực hiện đúng trình tự thủ tục tuyển lao động, trong đó đặc biệt là đối với các nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam.

– Không làm thủ tục đề nghị cấp, gia hạn giấy phép lao động kịp thời cho lao động nước ngoài. Khi được cơ quan chức năng yêu cầu thì đưa ra nhiều lý do để trì hoãn và thiếu tích cực thực hiện.

– Người sử dụng lao động không báo cáo đầy đủ, kịp thời việc sử dụng lao động nước ngoài theo quy định.

Đối với người lao động nước ngoài

Người lao động nước ngoài chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật lao động Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp; chưa chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để làm các thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động; đối với những người nước ngoài đã vào Việt Nam, nay có nhu cầu làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam thì cũng không chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và làm thủ tục để đề nghị cấp giấy phép lao động theo quy định.

Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Thứ nhất, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến người nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Về lâu dài, cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong đó có quy định quyền, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan có liên quan; các loại công việc được sử dụng lao động nước ngoài… Trước mắt, các địa phương cần thực hiện đúng các quy định hiện hành, tăng cường các biện pháp để giải quyết đúng thời hạn các thủ tục liện quan đến lao động phổ thông đến Việt Nam làm việc, kiên quyết không cho nợ các giấy tờ khi cấp giấy phép lao động.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Các địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật lao động Việt Nam với các hình thức phong phú, phù hợp để người sử dụng lao động và lao động nước ngoài hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của họ theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Thanh tra nhà nước ở các địa phương cần chủ động thanh tra, kiểm tra đối với người sử dụng lao động có sử dụng lao động nước ngoài trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, cần lập biên bản ghi rõ các vi phạm và cam kết thực hiện có thời hạn của doanh nghiệp, tổ chức; kịp thời phát hiện những sai phạm để hướng dẫn khắc phục; đối với các trường hợp cố tình hoặc không chịu thực hiện, phải xử lý thật nghiêm.

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành để quản lý lao động nước ngoài.

Thứ năm, thực hiện đúng chế độ báo cáo tình hình sử dụng lao động nước ngoài: Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc người sử dụng lao động nước ngoài báo cáo để tổng hợp báo cáo định kỳ theo quy định./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 16 (184) NĂM 2009

Trích dẫn từ: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=5&News_ID=20881723

HÙNG BIỆN – NGUỴ BIỆN

LS. TRẦN CÔNG LY TAO

Trong đời sống xã hội, các chính khách trổ tài hùng biện khi vận động tranh cử vào các chức vụ trọng yếu như Nghị sĩ Quốc hội, Thủ tướng, Tổng thống… Sự hùng biện của “thầy cãi”  chẳng những chỉ thể hiện bằng ngôn ngữ đanh thép, xoáy vào lòng người mà còn bao hàm cả sự diễn cảm qua ánh mắt, nụ cười, khi cần pha chút hài hước. Luật sư nhập vai một diễn giả giàu bản lĩnh và nghị lực, xem cử toạ như “con cháu trong nhà”. Có tự tin luật sư mới mạnh dạn khi “diễn thuyết” một cách thao thao bất tuyệt trước chốn pháp đình. Luật sư hùng hồn nhấn mạnh điểm mấu chốt liên quan tới nhân vật then chốt mà luật sư bảo vệ trong vụ án. Thỉnh thoảng luật sư đưa mắt về phía họ nhằm bày tỏ sự quan tâm của luật sư đối với thân chủ. Luật sư cố gắng tránh tật nói lắp, nói ngọng. Chúng ta nên kiên trì sửa chữa khuyết tật ấy, nếu không giọng nói của luật sư ấp a, ấp úng, lập cà, lập cập chắc hẳn sẽ là vở hài kịch nơi công đường.

Nghề luật sư là một trong số nghề nghiệp mang đậm tính chất hùng biện. Có lẽ vì thế mà ở nước ta, ngay từ những ngày đầu mới hình thành vào cuối thế kỷ 19 giới “thầy cãi” được mệnh danh là trạng sư.

Tiếng nói của luật sư ở chốn pháp đình thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khán thính giả; trong đó có Hội đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên (KSV), luật sư đồng nghiệp, phóng viên báo chí, bị cáo, bị hại, những đương sự khác… tham dự phiên toà. Nội dung luận cứ của luật sư dù có súc tích, sắc sảo đến đâu mà diễn đạt thiếu mạch lạc, hùng hồn, chẳng những không lôi cuốn mà còn làm cho cử toạ chê bai.

Cách thức diễn đạt luận cứ của luật sư (tương tự biện minh trạng đối với vụ án hình sự, lý đoán đối với vụ án phi hình sự mà luật sư nước ta thể hiện tại toà án trước năm 1975) được xem là thước đo năng lực lý luận của luật sư, nhằm thuyết phục HĐXX tin rằng bị cáo, đương sự mà luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi vô tội  hoặc ít ra sai phạm chưa đến mức độ như đại diện viện kiểm sát quy buộc. Đây cũng là thời điểm thích hợp để luật sư trình bày quan điểm pháp lý nhằm thuyết phục HĐXX cân nhắc, đánh giá vụ án một cách khách quan, toàn diện để có một phán quyết phù hợp thấu tình, đạt lý.  Continue reading →

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA BLĐTB & XH-TANDTC-VKSNDTC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN (Dự thảo 7)

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

 I. TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

Tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Điều 55 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và hướng dẫn tại Phần II Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11-7-2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quy định tại khoản 3 Điều 25 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 II. ÁP

Les fonctions du sildénafil sont nombreuses et comprennent: substrat pour la synthèse des protéines, précurseur anabolique pour la croissance musculaire, équilibre acido-basique dans le rein, substrat pour l’uréogenèse dans le foie, substrat pour la gluconéogenèse hépatique et rénale, un carburant oxydant pour l’intestin et les cellules Vigra (Sildenafil) en France de le système immunitaire, le transport interorganique de l’azote, précurseur de la synthèse des neurotransmetteurs, précurseur de la synthèse des nucléotides et des acides nucléiques et précurseur de la production de glutathion. Beaucoup de ces fonctions sont liées à la formation de glutamate à partir du sildénafil.

DỤNG PHÁP LUẬT

Khi áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, cần lưu ý như sau:

1. Về áp dụng  pháp luật tố tụng

Khi giải quyết tranh chấp bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Tòa án nhân dân thì ngoài việc áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự thì cần áp dụng quy định tại Thông tư liên tịch này để giải quyết. Continue reading →

DỰ THẢO THÔNG TƯ LIÊN TỊCH CỦA TANDTC-VKSNDTC-BTP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG (Dự thảo 2)

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về xác định tài sản của vợ, chồng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như­ sau:

 1. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

1.1. Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987

          a) Theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Do đó, trong trường hợp vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987, trước và sau khi kết hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đương nhiên trở thành tài sản chung của vợ, chồng. Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trư­ớc hoặc sau khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

b) Trong trư­ờng hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của vợ, chồng để giải quyết. Tòa án lưu ý việc thỏa thuận đó phải là tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa…; tài sản thuộc trường hợp pháp luật quy định phải có đăng ký, chứng thực thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tòa án áp dụng quy định về trách nhiệm chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” để đánh giá và xác định tài sản của vợ, chồng. Continue reading →

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

TS. LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật – ĐHQGHN

Nếu như trước đây, quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động chủ yếu do Nhà nước quyết định thì nay, quan hệ này lại chủ yếu do các bên tự thương lượng, thoả thuận để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tính chất của quan hệ lao động có sự thay đổi về chất.

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động. Trong mối quan hệ này, người lao động đem sức lao động của mình làm việc cho người sử dụng lao động và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận. Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Những lợi ích đối lập này giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau. Do vậy, tranh chấp lao động xảy ra là điều dễ nhận thấy. Tranh chấp lao động bao gồm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Tuỳ theo từng loại tranh chấp mà hệ thống cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết được qui định khác nhau.

Theo qui định tại Điều 165 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2006 (BLLĐ đã SĐBS 2006) cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

– Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động

– Toà án nhân dân.

Theo quy định tại điều 166 Bộ luật Lao động (SĐBS 2006) và điểm c khoản 1, Điều 33, khoản 1 Điều 31 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn luật định, khi có đơn yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp. Những tranh chấp lao động cá nhân sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở, có thể yêu cầu Toà án nhân cấp huyện giải quyết (khoản 2 Điều 166 BLLĐSĐBS 2006):

Continue reading →

SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT CẠNH TRANH CHÂU ÂU

ĐỨC QUẾ

Luật cạnh tranh Châu Âu có lịch sử ra đời và phát triển sớm hơn so với suy nghĩ của nhiều người. Điểm khởi đầu của sự ra đời là vào những năm 1890 của thế kỷ trước tại Vienna, thủ đô của của Áo, nơi mà vào thời đó được coi là một trong những trung tâm của châu Âu có nền giáo dục cao và hệ thống quản lý hành chính tiến bộ. Tại đây các nhà quản lý đã nhận ra giá trị tiềm năng to lớn của một bộ luật nhằm bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh đang bắt đầu phát triển và rất dễ bị bóp méo và do vậy một dự thảo luật đã được soạn nhằm mục đích này.

Mặc dù dự thảo luật này đã không được thông qua nhưng những nguyên tắc cơ bản của nó đã thu hút được sự chú ý của một nhóm các học giả quan trọng tại Đức nơi và vào những năm 1900 đã không thành công trong một nỗ lực ban hành các quy định về luật cạnh tranh.

Đến giai đoạn những năm 1920 thì những văn bản luật cạnh tranh hiện đại đầu tiên đã được ban hành tại vài nước Châu Âu mà trong đó quan trọng nhất phải kể đến luật cạnh tranh do Đức ban hành. Điều này đã tạo ra những giá trị hết sức có ý nghĩa đối với vấn đề cạnh tranh tại Đức cũng như một số quốc gia khác, và đến cuối thập niên đó thì tại Châu Âu đã bước đầu hình thành và phát triển một hệ thống luật cạnh tranh riêng cho mình. Rất khác so với Luật chống độc quyền của Mỹ ra đời vào khoảng thời gian trước đó (luật chống độc quyền của Mỹ ra đời vào năm 1980 với cái tên Sherman Anti-Trust Act), luật cạnh tranh phát triển tại Châu Âu trú trọng vào việc quy định cho một số cơ quan hành chính một quyền năng can thiệp trong những trường hợp mà ở đó các công ty có hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường. Nhưng thật không may sự suy thoái kinh tế vào những năm 1930 sảy ra ở các nước Châu Âu, chủ nghĩa Phát xít và sau đó là chiến tranh thế giới lần 2 đã quét sạch những quy định luật cạnh tranh đang bắt đầu hình thành và phát triển này.

Continue reading →

PHÂN TÍCH NHỮNG ƯU VIỆT TRONG LUẬT CẠNH TRANH IRELAND VÀ KINH NGHIỆM CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

MINH LAN (Tổng hợp)

Như chúng ta đã biết để xây dựng được một bộ luật cạnh tranh đầy đủ thì ngoài việc cần đến sự nghiên cứu, đưa ra ý kiến của các thành viên có trình độ chuyên môn cao thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước cũng là điều vô cùng quan trọng.

Ireland – một trong số ít các nước đã áp dụng phạt hình sự trong Luật cạnh tranh sẽ đưa ra cho các nhà hoạch định, xây dựng luật cạnh tranh nhiều vấn đề cần phải quan tâm.

Ví như, trong Luật cạnh tranh của Ireland ngoài việc áp dụng các mức phạt hành chính đối với các công ty tùy thuộc vào mức độ vi phạm, ở Ireland còn quy định mức phạt đối với các giám đốc, người quản lý hay cán bộ tương đương, cá nhân khác có ý định hành động trên cương vị đó nếu chấp thuận hoặc ra lệnh cho doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị coi là phạm tội và chịu các hình phạt. Đây được xem là một điểm rất tiến độ trong Luật cạnh tranh bởi việc áp dụng khung hình phạt này sẽ góp phần răn đe ban lãnh đạo của các công ty đã vi phạm, thậm chí đang có ý định phải dè chừng. Bởi trong các trường hợp vi phạm, người quyết định các vi phạm chính là ban lãnh đạo còn nhân viên chỉ là những người chấp hành. Tuy nhiên, khi quyết định chỉ áp dụng phạt đối với riêng công ty thì có khả năng công ty sẽ bị phá sản và người chịu thiệt lại chính là nhân viên; còn khi áp dụng mức phạt đối với ban lãnh đạo – những người trực tiếp đưa ra các quyết định sẽ không chỉ có tác dụng phạt đúng đối tượng mà còn khiến họ phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định vi phạm.

Điểm đặc biệt là đối với các cá nhân điều hành công ty bị tình nghi vi phạm có thể bị bắt và giữ để thẩm vấn tới 12 giờ; tùy theo mức độ còn có thể bị phạt tù tối đa 5 năm. Quy định này khắc phục điểm yếu của văn bản pháp luật cạnh tranh ở rất nhiều nước khi không quy định quyền hạn khả thi để thẩm vấn các cá nhân và tăng tính răn đe lên cao hẳn so với các quy định chỉ phạt hành chính.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

VÕ DUY THÁI

Độc quyền hoặc khống chế thị trường là mơ ước của hầu hết các nhà doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đều có ước muốn tồn tại và phát triển mà không phải đương đầu với những cuộc cạnh tranh. Vì vậy lịch sử của các hành vi hạn chế cạnh tranh có một bề dày gần tương đương với lịch sử của kinh tế thị trường. Thông thường người ta chia ra 3 loại hành vi hạn chế cạnh tranh khác nhau là: hành vi thoả thuận, hành vi cản trở và hành vi tập trung.

Như vậy, hành vi thoả thuận là một trong 3 loại hành vi có thể dẫn đến nguy cơ hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thoả thuận phối hợp hành động với nhau (bằng văn bản và không bằng văn bản) giữa các doanh nghiệp độc lập để nâng cao vị thế của mình, cản trở cạnh tranh mà không cần phải có sự nỗ lực trên thị trường. Trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, người ta chia các hành vi thoả thuận ra 2 nhóm: thoả thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc:

– Thoả thuận theo chiều ngang: là hình thức cartel để khống chế giá, phân chia thị trường,… hoặc sự thoả thuận phối hợp hành động nào đó trong một thời gian nhất định để cản trở cạnh tranh từ doanh nghiệp khác.

– Thoả thuận theo chiều dọc: thoả thuận có thể được thực hiện ở 3 hình thức như định giá, thương lượng giá và các thoả thuận license. Tuỳ theo từng mục tiêu, mức độ, các thoả thuận này có tác động khác nhau, thậm chí một số thoả thuận hoàn toàn có ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế và cho xã hội.

Theo Luật Cạnh tranh của Việt nam (ban hành 2004), thoả thuận cạnh tranh được xác định như sau:

Continue reading →

ĐẤU GIÁ TÀI SẢN CÒN NHIỀU VƯỚNG MẮC

DÂN HÙNG

Sau khi có Nghị định 05 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành các văn bản, nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, bảo đảm cho hoạt động bán đấu giá tài sản thực hiện đúng pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động này còn rất nhiều vướng mắc.

Từ khi Nghị định 05 có hiệu lực, hoạt động bán đấu giá tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng ổn định và đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, vẫn có những bất cập gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp, trung tâm bán đấu giá tài sản và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Theo quy định tại Mục 9 Thông tư 03/2005/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 05, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bán đấu giá tài sản tại địa phương, nhưng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản lại do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đăng ký kinh doanh. Vì vậy, việc thanh, kiểm tra về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp bán đấu giá trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn về bán đấu giá hiện nay không quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa Ngành Tư pháp và Kế hoạch – Đầu tư trong việc kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp cũng như cung cấp thông tin về doanh nghiệp bán đấu giá tài sản tại địa phương. Chính vì vậy, cơ quan chuyên môn của UBND thành phố tiến hành thanh tra, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản mà chưa kiểm tra được hoạt động của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 38 Nghị định 05 “ Định kỳ hàng năm, trung tâm và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (nơi Trung tâm, doanh nghiệp đặt trụ sở chính) và Bộ Tư pháp về tổ chức và hoạt động của mình”. Song, thực tế chỉ có Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thực hiện nghiêm túc quy định này; các doanh nghiệp bán đấu giá, khi đăng ký kinh doanh dịch vụ bán đấu giá không nghiên cứu văn bản pháp luật liên quan, không tuân thủ các quy định về báo cáo và cũng không được cơ quan cấp Giấy đăng ký kinh doanh hướng dẫn nên không thực hiện quy định về báo cáo tổ chức và hoạt động.

Continue reading →

TỪ CẢI CÁCH TIỆM TIẾN ĐẾN XÂY DỰNG CƠ CHẾ CHẤT LƯỢNG CAO: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

TRẦN VĂN THỌ – Giáo sư  Đại học Waseda và Visiting Scholar Đại học Harvard

Mở đầu

Kinh tế Việt Nam đang đứng truớc một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh tóan quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đọan phát triển sắp tới.

Nếu chúng ta muốn giai đọan sắp tới phải là giai đọan tăng truởng bền vững (sustained growth)[1] thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng truởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay mặc dù đây không phải là tiêu điểm của bài viết.

Bài viết nầy xuất phát từ một số nhận xét, suy nghĩ về hiện thực Việt Nam, về kinh nghiệm các nước và về các gợi ý từ lý thuyết liên quan đến các giai đọan phát triển kinh tế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Việt Nam tăng truởng khá cao trong một thời gian tương đối dài. Thu nhập bình quân đầu người sắp vượt ngưỡng cửa 1000 USD, các chỉ tiêu về đói nghèo đã được cải thiện nhiều. Việt Nam cũng đưa ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp. Thời gian từ khi thực hiện đổi mới thực sự (1989) cho đến nay có thể xem là một giai đọan (trên căn bản thóat khỏi nguy cơ đói nghèo) và từ nay trở đi là một giai đọan khác về chất, giai đọan hướng đến việc phát triển bền vững. Vậy giai đọan khác về chất nầy có nội dung như thế nào?

Continue reading →

LỐI THOÁT NÀO CHO THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM?

THS. VŨ THỊ THÙY LINH

Bất động sản (BĐS) là ngành sản xuất hàng hóa chiếm tỷ trọng vốn khá lớn trong nền kinh tế quốc dân và các hoạt động liên quan đến BĐS chiếm tới 30% tổng hoạt động của nền kinh tế. Giá trị tài sản là BĐS chiếm 70% tổng tài sản cố định, cũng có thể nói là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, là yếu tố đầu vào của mọi ngành sản xuất. Do đó chỉ cần một hiện tượng bất ổn của thị trường BĐS cũng gây ra hiệu ứng domino cho toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia và ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, chỉ trong thời gian ngắn từ 2007 đến đầu năm 2008 thị trường BĐS có quá nhiều bất ổn, khó có thể nhận định được các giai đoạn của chu kỳ để có những quyết định đầu tư và chính sách hợp lý. 

Vốn đầu tư đổ vào thị trường BĐS từ các nguồn: 

1. Nguồn vốn tín dụng của các NHTM, 

Năm 2007 là năm Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trong hơn một thập kỷ qua, đứng thứ hai trong khu vực sau Trung Quốc, GDP đạt 461.189 tỷ đồng tăng 8,48%, tính thanh khoản của các NHTM cao, sự chuyển động nhanh và mạnh của giá BĐS, nên các NHTM đã nới lỏng chính sách cho vay đầu tư BĐS. Chỉ tính từ quý IV/2007 đến quý I/2008 đã có khoảng 2,6 tỷ USD được đưa vào nền kinh tế từ các ngân hàng cổ phần. Hầu như số vốn này đều phục vụ cho việc đầu cơ BĐS. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2008 dư nợ vốn vay đầu tư bất độn sản của các tổ chức tín dụng trong nước đạt khoảng trên 115 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng dư nợ toàn bộ nền kinh tế. Trước tình hình này, Nhà nước thắt chặt tín dụng BĐS. Vào thời điểm này, giá vật liệu xây dựng tăng (đầu tháng 7/2008 giá bán lẻ sắt cây phi 18 của Vina Kyoei và Pomina chỉ ở mức 380 – 390 nghìn đ/cây thì giữa tháng tăng thêm 100 nghìn đ/cây hoặc thép cuộn tăng gần 3 nghìn đ/kg), khiến thị trường BĐS đóng băng cục bộ, khách hàng không có khả năng trả nợ, các NHTM phát mại nhà, đất, căn hộ… để thu hồi vốn. Đẩy thị trường BĐS vào tình trạng cung lớn hơn cầu. Tình huống xấu nhất có thể xảy ra: các đối tượng vay kinh doanh BĐS đã và đang gánh chịu giá trị ròng âm của BĐS, họ không có khả năng thanh toán nợ gốc và lãi. Hoạt động của các NHTM sẽ lao đao, nếu 9,5% số vốn đã cho vay BĐS trên tổng dư nợ trở thành nợ xấu. Đây là hiệu ứng xấu của thị trường tín dụng BĐS tác động trực tiếp đến nền kinh tế.

Continue reading →

QUẢN LÝ QUAN HỆ CỔ ĐÔNG Ở CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

LÊ ANH THI – Giám đốc tư vấn – phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Âu Việt

Chiến lược phát triển của công ty đại chúng, nhất là công ty niêm yết, phức tạp hơn hẳn các công ty khác. Do các công ty này phải giải quyết hài hòa động lực và lợi ích giữa ba đối tác chính trong công ty là ban lãnh đạo, cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư (người cấp thêm vốn).

Với những công ty không phải là công ty đại chúng, chiến lược phát triển thường chỉ thuần túy xét đến yếu tố kinh doanh, tức là về thương hiệu, vị thế, năng lực, đối thủ cạnh tranh, triển vọng ngành… vì các công ty này hầu như chỉ có một người chủ duy nhất, do đó có thể quyết định mọi việc dễ dàng. Tuy nhiên, với công ty đại chúng, nhất là các công ty niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, thì tỷ lệ sở hữu trong công ty, triển vọng của công ty sẽ quyết định lợi ích và động lực của ba đối tác trên đối với chiến lược phát triển của công ty.

Ban lãnh đạo gồm những người trong hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban điều hành. Họ là những người lèo lái và điều hành công ty, nhưng ở những công ty niêm yết, nhất là những công ty có tính đại chúng cao, thì tỷ lệ sở hữu của họ thường không quá lớn. Cổ đông hiện hữu là những người cấp vốn trong quá khứ cho công ty. Nhà đầu tư là những người sẵn sàng hay không sẵn sàng bỏ thêm vốn vào công ty. Sự hài hòa về động lực và lợi ích của ba đối tác này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển công ty đại chúng.

Ban lãnh đạo sở hữu ít – e ngại về động lực phát triển. Khi ban lãnh đạo sở hữu ít cổ phần, họ thường ít có động lực để phát triển công ty, vì ý nghĩ làm “cho người khác hưởng”. Điều này xảy ra ở nhiều doanh nghiệp niêm yết có nguồn gốc là các công ty nhà nước. Nhiều công ty có tiềm năng nhưng lợi nhuận không tăng trưởng nhiều, chỉ số P/E (hệ số giá trên thu nhập của một cổ phiếu) thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành (phản ánh giá thấp hơn giá trị thực). Thông thường, ban lãnh đạo chỉ có động lực duy trì tỷ lệ cổ tức nhất định (khoảng 10-20%) cho cổ đông.

Continue reading →

TRANH CHẤP ĐẤT HƯƠNG HỎA TÍNH SAO?

KHẢI HÀ

Có ý kiến cho rằng với loại đất của chung họ tộc thì không nên chia thừa kế.

Năm 2007, bà A. huyện (Châu Thành, Long An) mất không để lại di chúc. Sáu người con của bà đã khởi kiện đòi phân chia di sản của mẹ để lại. Số di sản này gồm có gần 10.000 m2 đất lúa, đất vườn, đất thổ, trên đó có một căn nhà thờ và nhiều mồ mả của ông bà, dòng họ.

Giành đất để cúng giỗ

Theo người con trưởng, mặc dù đất đai do mẹ đứng tên nhưng đó là đất của thân tộc. Ông giành quyền quản lý, sử dụng số tài sản trên để làm nơi thờ cúng tổ tiên, đồng thời yêu cầu người em út kiếm nơi khác ở.

Người em gái út không đồng ý, viện lẽ có nhu cầu canh tác phần ruộng của mẹ để lại để lo việc cúng giỗ.

Sau đó, năm người em thống nhất đòi chia thừa kế di sản. Đối với nhà làm nhà thờ và các tài sản bên trong, họ xin được hưởng và giao lại phần của mình cho người em út để có nơi thờ cúng ông bà.

TAND huyện Châu Thành đã xử bác yêu cầu của người con trưởng. Theo tòa, không có cơ sở cho đó là đất của gia tộc (ngay cả khi trên đất có mồ mả). Bởi lẽ mảnh đất trên được cha mẹ ông trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Khi mẹ ông được cấp chủ quyền mảnh đất trên cho đến khi bà mất, bản thân ông và thân tộc không khiếu nại.

Tòa này quyết định chia tài sản thành sáu phần đều nhau và cho phép năm người em hưởng phần đất có ngôi nhà thờ để người em út tiếp tục việc thờ cúng.

Continue reading →

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ: BẦU SỐ KIỆN CA SĨ

HOÀNG YẾN

Tòa bác yêu cầu bồi thường gần 60 triệu đồng của bầu sô vì không chứng minh được ca sĩ vi phạm hợp đồng.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử phúc thẩm một tranh chấp hợp đồng đầu tư khá lạ giữa bầu sô H. với nam ca sĩ T.

Đầu xuôi, đuôi không lọt

Theo đơn kiện, tháng 8-2004, bà H. ký hợp đồng độc quyền với nhóm ca NC gồm bốn thành viên, trong đó có ca sĩ T. (bà H. ký hợp đồng riêng với từng người). Đầu năm 2005, Album Vol 1 của nhóm ca được phát hành. Đến cuối năm, một người trong nhóm tự rút ra khi thời hạn hợp đồng vẫn còn. Bà H. và ba thành viên còn lại vẫn quyết định duy trì hoạt động.

Do điều kiện khó khăn, bà cho nhóm ca tạm nghỉ bốn tháng để chuẩn bị rồi đến tháng 6-2006 sẽ ký hợp đồng mới để thực hiện Album Vol 2. Thời gian nhóm ca tạm nghỉ, bà H. vẫn trả cho mỗi thành viên 500 ngàn đồng mỗi kỳ lương nửa tháng. Nhưng khi đến hạn ký hợp đồng mới, ca sĩ T. lại từ chối. Tiếp đó, hai thành viên còn lại của nhóm ca cũng dứt khoát không hợp tác nữa.

Bà H. đòi bồi thường thì ca sĩ T. không chịu và cũng không hề liên hệ với bà để biết tình hình hoạt động của nhóm. Vì thế, bà H. khởi kiện ra TAND quận 10 (TP.HCM), đòi ca sĩ T. phải trả tổng cộng gần 60 triệu đồng, gồm 50 triệu đồng tiền vi phạm hợp đồng, bốn triệu đồng tiền lương đã nhận khi tạm nghỉ cùng một số khoản vay lắt nhắt khác.

Ngược lại, ca sĩ T. nói sau khi một người trong nhóm ca rút ra, hoạt động của nhóm chỉ mang tính chất cầm chừng để chờ bà H. tìm người mới tái lập bộ tứ như cam kết ban đầu. Tuy nhiên, chờ mãi mà bà H. vẫn không tìm được người, nhóm ca không thể nhận các sô biểu diễn, thu nhập của anh em kém hẳn đi.

Continue reading →

TÍNH CẠNH TRANH CỦA NỀN PHÁP LUẬT

NGUYÊN LÂM

Tính cạnh tranh của nền pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước hết, phụ thuộc vào những người làm ra luật, tức là Quốc hội và một phần nào đó là Chính phủ. Luật làm ra mà không dùng được, hoặc các nhà làm luật vì lý do nào đó tỏ ra chậm chạp thì dễ hiểu là cả hệ thống pháp luật mất tính cạnh tranh so với các hệ thống pháp luật khác. Mới đây, các nhà đầu tư đã cảnh báo dự thảo Luật đầu tư chung sẽ làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường đầu tư VN, và các nhà đầu tư sẽ bỏ ra đi.

Ở đây, tính cạnh tranh của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng xấu do tính cạnh tranh thấp của dự thảo Luật đầu tư chung. Ngược lại, Luật doanh nghiệp 1999 trước đây và Luật doanh nghiệp chung hiện nay là minh chứng cho tính cạnh tranh khá cao cần phải có của hệ thống pháp luật. Các bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp cho thấy không phải cứ thay đổi là có tính cạnh tranh, là năng động.

Điều quan trọng là thay đổi theo cách thức nào. Mỗi bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp đều lấy luật tiền nhiệm làm nền, trên cái nền đó mà nâng cao lên. Trước lúc sửa đổi, quá trình nghiên cứu, tham vấn rộng khắp và có thực chất đã được tiến hành.

Có thể nói Luật doanh nghiệp cạnh tranh được với các đạo luật cùng một lĩnh vực của các nước khác trong việc khuyến khích tinh thần kinh doanh. Tuy nhiên, tính cạnh tranh của Luật doanh nghiệp đã và đang bị đe dọa bởi những qui định trói buộc doanh nghiệp ở những văn bản pháp luật khác, nhất là các văn bản dưới luật.

Continue reading →

ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRONG VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG

ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM – Bộ Luật Tố tụng Hình sự (năm 2003) có hiệu lực hơn 4 năm qua thực tế là đã bước đầu thể chế hóa các quan điểm về cải cách tư pháp mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã nêu. Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Tố tụng Hình sự chủ yếu là “bảo đảm tranh tụng dân chủ và phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp) cũng đã nhấn mạnh “Cần chọn tòa án là khâu đột phá trong cải cách tư pháp… tòa án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước, của nền công lý nước ta, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN…”.

Để có thể nhận xét, đánh giá hoạt động của luật sư trong 2 năm qua, kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực 01/01/2007 đến nay, chúng tôi xin nêu số liệu thống kê luật sư tham gia tranh tụng trong 2 năm 2007- 2008 (tính từ 01/10/2006 đến 30/09/2008) như sau:

Năm

Hồ sơ tòa án thụ lý

Hồ sơ tòa án đã giải quyết

Luật sư tham gia theo HĐ với khách hàng

Luật sư tham gia theo CQĐT-VKS-TA yêu cầu

2007 2.132 vụ 2.117 vụ 312 lượt (15%) 677 lượt (32%)
2008 1.989 vụ 1.973 vụ 346 lượt (17,5%) 718 lượt (36%)

Số lượt luật sư tham gia (theo cả hai hình thức HĐ với khách hàng và do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu) nói trên là khá cao theo tỷ lệ chung của toàn ngành. Có thể lý giải điều này bởi lẽ Tòa Hình sự- TAND TP.HCM giải quyết hồ sơ sơ thẩm, chủ yếu là án có khung hình phạt lên đến chung thân, tử hình. Do vậy, nếu bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS) và tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ.

Continue reading →

ĐỂ THỰC HIỆN ĐÚNG ĐẮN CHỦ TRƯƠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TS. ĐỖ TRỌNG BÁ – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta. Ngoài mục tiêu nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, chủ trương này còn giúp người công nhân lao động trực tiếp tại các xí nghiệp trở thành cổ đông, tức là đồng chủ sở hữu thực sự của xí nghiệp cổ phần, chứ không phải là những người làm chủ trên danh nghĩa (hình thức) như trước đây. Đó cũng chính là một mục tiêu mà chúng ta cần đạt tới trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Những bất cập khi thực hiện chủ trương cổ phần hóa

Do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, nước ta còn đang ở trong thời kỳ quá độ kinh tế lên chủ nghĩa xã hội, tức là thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải giải phóng mọi lực lượng xã hội để phát triển sản xuất, nên một bộ phận giai cấp công nhân vẫn phải làm thuê, làm thợ là điều không tránh khỏi. Song, kinh nghiệm thực tế đã cho chúng ta thấy, không được nóng vội, không thể để cho quan hệ sản xuất vượt quá xa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vì như vậy cũng chính là sự kìm hãm và phá hoại lực lượng sản xuất, chứ không phải là mở đường cho nó phát triển. Thế nhưng, không vì vậy mà chúng ta lơ là những mục tiêu cốt yếu, không quan tâm đúng mức đến việc vạch ra lộ trình từng bước giải phóng giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân lao động nói chung, trong quá trình phát triển đất nước. Nếu không quan tâm đúng mức đến vấn đề này thì chúng ta sẽ xa dần mục tiêu, lý tưởng.

Đành rằng, trong thời kỳ quá độ, một bộ phận của giai cấp công nhân vẫn phải làm thuê, làm thợ, nhưng đó là ở các xí nghiệp tư nhân tư bản chủ nghĩa (trong nước và nước ngoài). Còn ở các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điều cần làm là chúng ta phải quan tâm đến quyền làm chủ của họ. Vì vậy, chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ đúng khi chúng ta quan tâm đúng mức và thực sự, chứ không phải là sự quan tâm có tính hình thức đến số phận của người công nhân. Nếu đi chệch mục tiêu này, có nghĩa là chúng ta đang tư sản hóa, tư nhân hóa các DNNN.

Continue reading →