HIỆP ĐỊNH VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ

Các  Thành viên,

Ghi nhận rằng, ngày 20 tháng 9 năm 1986 các Bộ trưởng đã thoả thuận rằng mục tiêu của Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Uruguay là nhằm "tự do hóa và mở rộng hơn nữa thương mại thế giới", " tăng cường vai trò của GATT" và " nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống GATT đối với việc phát triển môi trường kinh tế quốc tế";

Mong muốn tiếp tục thực hiện các mục tiêu của GATT 1994;

Thừa nhận rằng những quy tắc xuất xứ rõ ràng và dự đoán được trước và việc áp dụng chúng sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại quốc tế;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ tự chúng không tạo ra trở ngại không cần thiết với thương mại;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ không vô hiệu hóa hay ảnh hưởng đến các quyền của các Thành viên được quy định trong GATT 1994;

Thừa nhận mong muốn các luật, qui định và thực tiễn áp dụng qui tắc xuất xứ được minh bạch;

Mong muốn đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ phải được chuẩn bị và áp dụng một cách vô tư, công khai, có thể dự đoán trước được, nhất quán và trung lập;

Công nhận tính sẵn có của cơ chế tham vấn và thủ tục để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và công bằng các tranh chấp phát sinh  trong phạm vi Hiệp định này;

Mong muốn làm hài hoà và làm rõ các qui tắc xuất xứ;

Bằng Hiệp định này, thoả thuận  như sau:

Phần I

Các định nghĩa và phạm vi áp dụng

Điều 1

Qui tắc xuất xứ

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ ĐỂ THỐNG NHẤT MỘT SỐ QUY TẮC VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN

(Nghị định thư VISBY 1968)

Các bên ký kết.

Xét thấy cần phải sửa đổi bổ sung cho Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn, ký tại Brussels ngày 25-08-1924.

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1.

Trong Điều 3. Mục 4, thêm:

“Tuy nhiên, khi vận đơn đã được chuyển sang bên thứ ba hành động với thiện ý thì chứng minh ngược lại sẽ không được thừa nhận”.

2. Trong Điều 3, mục 6, Tiểu mục 4 xóa bỏ và được thay bằng:

“Trừ quy định tại mục 6 bis, người chuyên chở và tàu, trong bất cứ trường hợp nào cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm đối với hàng hóa, trừ khi việc kiện cáo được đưa ra trong vòng một năm kể từ ngày giao hàng hoặc từ ngày đáng lẽ hàng được giao. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn này sau khi nguyên nhân kiện cáo phát sinh”.

3. Trong Điều 3, sau mục 6, thêm mục 6 bis như sau: “Việc kiện tụng đòi một người thứ ba bồi thường có thể đưa ra ngay cả khi hết thời hạn một năm quy định trong mục trên nếu việc đó được đưa ra trong thời gian được luật của Tòa án thụ lý vụ việc cho phép. Tuy nhiên, thời gian cho phép không ít hơn 3 tháng kể từ ngày người đứng ra kiện tụng đòi bồi thường đã thanh toán khiếu nại hoặc đã nhận được đơn kiện mình”. Continue reading →

CẦN XÂY DỰNG LẠI KHÁI NIỆM “QUYỀN TÀI SẢN” TRONG LUẬT DÂN SỰ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Quyền tài sản là động sản hay bất động sản? Quyền tài sản có phải chỉ là quyền định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự? Câu hỏi dường như đơn giản, nhưng khi đề cập đến quyền sử dụng đất có phải là bất động sản hay không thì vấn đề lại khó có câu trả lời thoả đáng. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các nội dung liên quan đến khái niệm “quyền tài sản” trong pháp luật nước ngoài và nêu lên những hạn chế trong nội dung khái niệm “quyền tài sản” trong luật dân sự nước ta, nhằm hoàn thiện nội dung khái niệm này trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự (Tác giả viết bài này theo tinh thần của BLDS năm 1995 – Civillawinfor).

Theo BLDS (Điều 188), quyền tài sản là quyền định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Trước đó, Điều 172 quy định rằng quyền tài sản là một loại tài sản, được đặt bên cạnh tiền và phân biệt với vật có thực (được hiểu là vật hữu hình). Trong quá trình sửa đổi BLDS, các điều luật này hầu như được giữ nguyên; riêng định nghĩa quyền tài sản có lẽ sẽ được sửa lại đôi chút: sau này, chỉ cần quyền tài sản định giá được bằng tiền chứ không nhất thiết phải chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Dẫu sao, sự sửa đổi ấy không ảnh hưởng đến việc sử dụng khái niệm quyền tài sản như một công cụ phân loại tài sản. Và với chức năng của một công cụ phân loại tài sản, khái niệm quyền tài sản trong luật dân sự Việt Nam có thể sẽ tiếp tục là cái gì đó rất lạ trong mắt các nhà luật học nước ngoài.

Điều chắn chắn: quyền tài sản trong luật thực định không phải là sự kế thừa và phát huy các giá trị của cổ luật Việt Nam. Đó là một khái niệm có nguồn gốc từ luật học nước ngoài và được vận dụng vào luật Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật dân sự, nhưng lại bị gán cho nội hàm khác.

Quyền tài sản trong pháp luật nước ngoài

Là một loại quyền chủ thể

Khái niệm quyền tài sản được xây dựng trong khuôn khổ chế định quyền chủ thể, chế định được coi là xương sống của hệ thống luật tư ở các nước theo văn hoá pháp lý Rô măng – Giéc manh. Quyền chủ thể được hiểu là việc hạn chế quyền tự do của những người khác theo quy định của pháp luật, vì lợi ích của chủ thể quan hệ pháp luật trong việc thực hiện các quyền được thừa nhận trong một lĩnh vực nào đó. Chẳng hạn, quyền sở hữu đối với một tài sản sinh lợi là quyền của chủ sở hữu được độc quyền sử dụng tài sản, thu hoa lợi từ tài sản và định đoạt tài sản; tất cả mọi người phải tôn trọng quyền đó và mọi hành vi xâm phạm quyền đó đều có thể bị chế tài theo quy định của pháp luật. Quyền đối với họ, tên là quyền của một chủ thể quan hệ pháp luật được mang họ và tên, được hưởng sự bảo vệ của pháp luật đối với sự toàn vẹn của họ và tên, chống lại sự xúc phạm họ, tên, sự chiếm đoạt họ, tên.

Continue reading →

HAI MƯƠI NĂM SAU ĐỔI MỚI: MỘT CUỘC CẢI CÁCH SỞ HỮU CÒN DANG DỞ

PGS TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Hai mươi năm sau đổi mới, cô gái thị trường đã đến tuổi khó bảo, làm cho quan viên quản lí nhà nước nhiều phen phải phiền lòng. Khi sốt, khi đóng băng; chỉ riêng cái thị trường nhà đất đã rối bời, nói chi đến những thị trường vốn với nợ đọng khó đòi hay thị trường lao động với hàng ngàn vụ đình công bất hợp pháp và quy mô ngày càng lan rộng. Dường như có điều gì chưa thật ổn trong mối tơ duyên giữa công quyền và quyền lực thị trường. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý cùng nhìn nhận lại vai trò của phi tập trung hóa quyền tài sản trong các chính sách kinh tế ở nước ta.

Dân phú, quốc cường là lời của người xưa, mà việc thực hiện nó có lẽ cũng chẳng đến mức quá khó. Dân chỉ ham muốn làm giàu, nếu nền công lực thật lòng bảo vệ quyền tài sản tư của họ. Của tư phải khác của công ở chỗ việc sử dụng và định đoạt nó có tính loại trừ; bảo vệ sở hữu tư nhân hóa ra về căn bản là bảo vệ quyền định đoạt mang tính loại trừ của người chủ.

Hai thập kỉ đổi mới ở nước ta, theo một cách nhìn hạn hẹp, có lẽ cũng là từng bước chấp nhận và tăng dần sự bảo hộ đối với các quyền tài sản tư nhân của người dân. Mảnh đất nhận khoán ngày nào nay đã được giao lâu dài cho các hộ nông dân, quyền canh tác, chuyển đổi và nhượng bán của họ đã được ghi nhận. Sau cuộc bình thường hóa quan hệ với người Mỹ, đất đai chợt có giá, thổ cư mau chóng biến thành vàng; quyền tư hữu đối với đất ở mau chóng được tái xác lập, được mua, được bán, thế chấp cho tặng như ngàn xưa. Trên cái xác khô cứng của sở hữu toàn dân, quyền tài sản tư về đất đai đã được tái xác lập lan rộng và khó có thể đảo ngược được.

Cũng như thế, thương nhân giành lấy quyền tài sản tư đối với sản nghiệp, văn sĩ giành lấy tác quyền và thợ thuyền hiểu nỗi cay nghiệt của hàng hóa sức lao động. Trong cuộc cổ phần hóa, các nhóm cổ đông đa số cấu kết với người quản lí mà trở thành ông chủ mới đích thực của công ty. Hiển hiện ở khắp nơi, quyền tài sản tư đã trở thành một thực tế ngày càng mạnh mẽ trong một xứ sở chưa thật yêu mến sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và chấp nhận sức kéo của mãnh lực thị trường.

Continue reading →

CỔ PHẦN HÓA KHỐI TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC: AI ĐƯỢC KHI NHÀ NƯỚC MẤT?

MẠNH QUÂN

Dù thị trường chứng khoán bắt đầu nóng lại khoảng hai tháng qua nhưng tiến trình cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp, đặc biệt là khối tập đoàn, tổng công ty (TCTY) nhà nước vẫn ì ạch. Đến nay, theo ông Phạm Viết Muôn, phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển doanh nghiệp trung ương, chưa có tập đoàn nào hoàn thành CPH công ty mẹ – tập đoàn, còn các TCTY CPH chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng ở đó đang nổi lên những tiêu cực chỗ này, chỗ khác.

Đứng đầu bảng trong tiêu cực gây thất thoát vốn nhà nước trong quá trình CPH có lẽ phải kể đến Vinaconex (TCTY cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng). Mới đây, văn phòng Chính phủ thông báo thu hồi 900 tỉ đồng từ Vinaconex gồm những khoản như 810 tỉ đồng tiền thặng dư do bán cổ phần lần đầu chưa nộp ngân sách nhà nước, 73 tỉ đồng tiền vốn nhà nước tăng thêm từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp đến khi CPH, giá trị quyền sử dụng đất ở một số địa điểm… Tuy nhiên, Thanh tra Chính phủ, cơ quan thanh tra Vinaconex đề nghị thu hồi trên 1.415 tỉ đồng, do còn nhiều khoản khác phải thu liên quan đến giá trị tài sản, quyền sử dụng đất khi Vinaconex CPH.

Trước Vinaconex, từ kết quả giám sát “thực hiện chính sách, pháp luật về xử lý đất đai, mua bán cổ phiếu trong quá trình CPH doanh nghiệp nhà nước” do uỷ ban Tài chính – ngân sách của Quốc hội thực hiện cuối năm ngoái, nhiều trường hợp đất đai, vốn và nhiều loại tài sản của Nhà nước đã được chuyển hoá thành tài sản của các tổ chức, cá nhân qua cánh cửa CPH.

Những ví dụ đã được dẫn ra trong thời gian này như công ty cổ phần du lịch Ngọc Lan (Lâm Đồng) kinh doanh khách sạn ở vị trí đất rất đẹp với diện tích đất thuế là 2.292m2 nhưng khi định giá để CPH chỉ có 3,5 tỉ đồng, so với giá đất thị trường có thể gấp nhiều lần. Sau CPH, cổ phần nhà nước tại công ty này chiếm 30% tiếp tục được bán hết. Trường hợp tương tự diễn ra ở khách sạn Phú Gia, một số nhà hàng, khách sạn có vị trí “đắc địa” khác tại Hà Nội, TP.HCM… Một ví dụ điển hình khác là công ty TNHH một thành viên bến xe Miền Đông (TP.HCM) khi xác định giá trị doanh nghiệp ban đầu có 60 tỉ đồng và lợi thế kinh doanh là 9 tỉ đồng. Sau này, xác định lại theo nghị định 109/NĐ-CP, giá trị doanh nghiệp lên tới 1.121 tỉ đồng và lợi thế kinh doanh 1.052 tỉ đồng, tức là gấp 31,4 lần so với giá trị ban đầu.

Continue reading →

CÔNG ƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ GIỮA CÁC QUỐC GIA VÀ CÁC CÔNG DÂN QUỐC GIA KHÁC

Ðiều 1: Ðịnh nghĩa

(1) "Công ước" có nghĩa là Công ước về Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia khác được chuyển đến các chính phủ bởi Ban Giám đốc điều hành của Ngân hàng quốc tế về xây dựng lại phát triển ngày 18-3-1965 và có hiệu lực từ ngày 14-10-1965.

(2) "Trung tâm" có nghĩa là Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư được thành lập theo Ðiều 1 của Công ước.

(3) "Ban Thư ký" có nghĩa là Ban Thư ký của Trung tâm.

(4) "Quốc gia thành viên" là Quốc gia mà Công ước có hiệu lực áp dụng.

(5) "Tổng Thư ký" có nghĩa là Tổng Thư ký hoặc Phó Tổng Thư ký của Trung tâm.

(6) "Công dân của quốc gia khác" nghĩa là người không phải là công dân của quốc gia là một bên tranh chấp hoặc là người mà các bên tranh chấp thỏa thuận không coi là công dân của quốc gia là một bên tranh chấp.

Ðiều 2: Cơ chế bổ trợ

Ban thư ký của Trung tâm được ủy quyền quản lý theo các quy định của các quy tắc này các tiến trình tố tụng (xét xử) giữa một quốc gia (hoặc cơ quan, tổ chức địa diện của quốc gia) và công dân của quốc gia khác, thuộc các trường hợp sau đây:

(a) Các tiến trình tố tụng hòa giải và trọng tài giải quyết các tranh chấp mang tính pháp lý phát sinh trực tiếp từ việc đầu tư mà nó không thuộc thẩm quyền của Trung tâm bởi lý do một trong các bên tranh chấp không phải là quốc gia thành viên của Công ước;

Continue reading →

VĂN KIỆN CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ NGƯỜI BIỂU DIỄN, NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, TỔ CHỨC PHÁT SÓNG

Làm tại Rome ngày 26/10/1961

Điều 1. Bảo đảm sở hữu cá nhân quyền tác giả

Sự bảo hộ theo Công ước này là thống nhất và không ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến sự bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật. Do vậy, không một quy định nào của Công ước này có thể được giải thích làm phương hại tới sự bảo hộ đó.

Điều 2. Sự bảo hộ theo Công ước. Định nghĩa đối xử quốc gia

1. Trong Công ước này, đối xử quốc gia được hiểu là sự đối xử theo luật quốc gia của Nước thành viên nơi có yêu cầu bảo hộ dành cho:

a) Những người biểu diễn là công dân của Nước đó, đối với các buổi biểu diễn được thực hiện, phát sóng hoặc định hình lần đầu tại lãnh thổ Nước đó;

b) Các nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của Nước đó, đối với các bản ghi âm được định hình lần đầu hay công bố lần đầu trên lãnh thổ Nước đó;

c) Tổ chức phát sóng có trụ sở tại lãnh thổ Nước đó, đối với các buổi phát sóng được truyền từ các đài phát đặt tại lãnh thổ Nước đó.

2. Đối xử quốc gia phải tuỳ thuộc vào sự bảo hộ được cấp cụ thể và các hạn chế quy định cụ thể trong Công ước này.

Điều 3. Định nghĩa: (a) Những người biểu diễn; (b) bản ghi âm; (c) nhà sản xuất bản ghi âm; (d) công bố; (e) sao chép; (f) phát sóng; (g) tái phát sóng

Trong Công ước này:

Continue reading →

CÔNG ƯỚC BỔ SUNG CÔNG ƯỚC VÁCXAVA ĐỂ THỐNG NHẤT MỘT SỐ QUY TẮC LIÊN QUAN TỚI CHUYÊN CHỞ QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI MỘT NGƯỜI KHÁC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI CHUYÊN CHỞ THEO HỢP ĐỒNG.

Ký tại Guadalajara ngày 18-9-1961 (Công ước Guadalajara 1961)

Các quốc gia ký Công ước hiện tại nhận thấy rằng, Công ước Vácxava không bao gồm những quy tắc riêng liên quan tới vận chuyển quốc tế bằng đường hàng không được thực hiện bởi một người không phải là một bên thỏa thuận chuyên chở.

Cho rằng, cần đưa vào những quy tắc để áp dụng trong những trường hợp như vậy.

Thỏa thuận như sau:

Điều 1. Trong Công ước này:

a) Công ước Vácxava nghĩa là Công ước để thống nhất một số quy tắc liên quan tới chuyên chở quốc tế bằng đường hàng không ký tại Vácxava ngày 12-9-1929 hoặc Công ước Vácxava đã được sửa đổi tại Hague năm 1955, tùy thuộc vào việc vận chuyển theo hợp đồng nói tới ở đoạn b, được điều chỉnh bởi Công ước hay Công ước đã được sửa đổi.

b) Người chuyên chở theo hợp đồng nghĩa là một người về mặt nguyên tắc đã ký kết một hợp đồng chuyên chở được điều chỉnh bằng Công ước Vácxava với một hành khách hay một người gửi hàng hoặc với một người hoạt động thay mặt hành khách hay người gửi hàng.

c) Người chuyên chở thực sự nghĩa là một người không phải là người chuyên chở theo hợp đồng mà là người thực hiện một phần hay toàn bộ việc chuyên chở dự định ở đoạn b theo sự ủy thác của người chuyên chở theo hợp đồng nhưng khi chỉ thực hiện một phần thì không phải là người chuyên chở liên tục theo nghĩa của Công ước Vácxava. Sự ủy thác như vậy được coi là thiếu bằng chứng minh ngược lại.

Continue reading →

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

LỜI MỞ ĐẦU

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Vì vậy,

ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC

Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.

Continue reading →

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TẦU BAY

(Ký tại Geneva ngày 19.6.1948)

Xét rằng Hội nghị hàng không dân dụng quốc tế được tổ chức tại Chicago trong tháng 11 và tháng 12 năm 1944 đã khuyến nghị về việc sớm thông qua một Công ước giải quyết vấn đề chuyển nhượng quyền sở hữu tầu bay;

Xét rằng đây là sự mong muốn cao độ trong việc công nhận quốc tế các quyền đối với tầu bay vì lợi ích của sự phát triển ngành hàng không dân dụng trong tương lai;

Nhân danh Chính phủ của mình và được uỷ quyền hợp lệ, những người ký kết dưới đây đã thống nhất như sau:

Điều 1.

1. Các Quốc gia kết ước cam kết công nhận:

a. Quyền sở hữu đối với tầu bay;

b. Quyền thụ đắc tầu bay thông qua việc mua sắm gắn liền với quyền chiếm hữu tầu bay;

c. Quyền chiếm hữu tầu bay trên cơ sở hợp đồng thuê có thời hạn từ sáu tháng trở lên;

d. Thế chấp, cầm cố và các quyền tương tự đối với tầu bay được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận như là một sự bảo đảm cho việc thanh toán một khoản nợ;

với điều kiện là các quyền nói trên

(i) Được thiết lập phù hợp với luật của quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch tại thời điểm thiết lập các quyền đó, và

(ii) Được đăng ký hợp lệ trong một sổ đăng ký công khai ở Quốc gia kết ước nơi tầu bay đăng ký quốc tịch.

Continue reading →

DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI: CẦN QUI ĐỊNH CỤ THỂ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NUÔI CON NUÔI

PHẠM ĐỨC THÀNH

Việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện được quy định gần như tách bạch trong hai hệ thống văn bản pháp luật khác nhau. Dự thảo Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh thống nhất vấn đề này, nhằm mục đích đem lại mái ấm gia đình và lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự thảo Luật cho thấy, một số nội dung cần được cân nhắc để quy định phù hợp hơn.

Nên coi trọng mục tiêu nuôi con nuôi trong nước

Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đã quy định cả vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế. Điều này là hợp lý. Tuy nhiên, nên coi trọng mục tiêu nuôi con nuôi trong nước. Bởi, tìm mái ấm cho các em tại quê hương gốc sẽ góp phần làm dịu nỗi đau bị bỏ rơi, mồ côi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt. Nuôi con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp cuối cùng, khi không thể thu xếp ở trong nước. Do đó, dự thảo Luật Nuôi con nuôi cần quy định theo hướng kéo dài thời gian tìm mái ấm trong nước cho trẻ. Tuy nhiên, tại điểm b, khoản 1 Điều 15 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi quy định: “UBND cấp xã có trách nhiệm tìm biện pháp hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại địa phương hoặc thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương, trong thời hạn 30 ngày để tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, thì việc thông báo tìm gia đình thay thế được thực hiện kết hợp với thông báo về trẻ em bị bỏ rơi trước khi làm thủ tục khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Việc cho trẻ em làm con nuôi được giải quyết sau khi hết thời hạn thông báo”. Như vậy, quy định về thời hạn tìm mái ấm cho trẻ em trong nước là quá ngắn, nên kéo dài hơn, khoảng từ 4 đến 6 tháng là phù hợp. Đây là thời gian cần thiết để các cơ quan chức năng có thể thực hiện được các biện pháp tìm mái ấm cho trẻ em ở trong nước. Continue reading →

TRANH CHẤP THỪA KẾ: RẮC RỐI XUNG QUANH VỤ CHIA THỪA KẾ Ở TỪ LIÊM (HÀ NỘI), CHỈ TẠI “ÔNG” TOÀ?!

ANH DƯƠNG 
Vì án tuyên có nhiều điểm chưa rõ nên cơ quan thi hành án liên tục có văn bản đề nghị giải thích. Nhưng cứ mỗi lần giải thích, Tòa lại đưa ra một quan điểm khác nhau khiến việc thi hành án đã “rối”… lại càng thêm “rối”.

 

Không phải di sản thừa kế: Vẫn chia?Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Liên và Cao Thị Ba ở xóm 10 xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội có 3 người con là bà Nguyễn Thị Cận, Nguyễn Thị Tiến và Nguyễn Thị Vy. Cụ Liên mất năm 1975. Năm 1989, cụ Ba làm đơn đề nghị chia tài sản và tại bản án số 38/DSPT, TAND TP. Hà Nội đã chia cho cụ Ba 02 gian nhà xây lợp ngói cùng toàn bộ tài sản, vườn cây trên thửa đất thẳng theo 2 gian nhà. Sau khi bản án có hiệu lực, cụ Ba viết giấy cho con gái út là bà Nguyễn Thị Vy toàn bộ nhà đất nói trên. Năm 1992, cụ Ba mất và bà Vy cũng mất sau đó 2 năm.

Tháng 2.2002, bà Nguyễn Thị Tiến (con gái thứ 2 của cụ Ba) và chị Nguyễn Thị Hoa (cháu ngoại cụ Ba -con gái của bà Nguyễn Thị Cận -PV) kiện đòi chia di sản thừa kế của cụ Ba.

Khi xét xử, tuy công nhận giấy cho nhà đất của cụ Ba cho bà Vy là có thật nhưng TAND huyện Từ Liêm (cấp sơ thẩm) và TAND TP.Hà Nội (cấp phúc thẩm) vẫn xác định nhà, đất đó là di sản của cụ Ba và chia thừa kế cho bà Tiến và chị Hoa. Cụ thể, bản án số 138/DSPT ngày 14+15.6.2004 của TAND TP.Hà Nội tuyên: “Chia cho bà Tiến phần đất (hiện chị Hoàng Thu Hằng -con gái bà Vy-đang quản lý) có chiều rộng giáp mặt đường 69 là 3m, chiều rộng phía trong giáp ngõ nhà ông Ba Kỳ và ông Mai là 2, 1m. Tính từ điểm tiếp giáp đất nhà ông Liên kéo về phía tay phải (đứng từ đường nhìn vào). Chiều dài từ mặt đường 69 kéo hết đất. Diện tích là 45m2; Chia cho chị Hoa 01 gian nhà cấp 4 (hiện ông Nguyễn Hồng Tuệ -chồng bà Vy đang quản lý) và 10m2 tường rào nằm trên mảnh đất có chiều rộng giáp mặt đường 69 là 2,55m, chiều rộng giáp ngõ đi đằng sau 2, 5m tính từ điểm tiếp giáp đất nhà chị Hoa kéo về phía bên tay trái (đứng từ đường nhìn vào) chiều dài hết đất là 18,4m, diện tích bằng 46,5m”. Continue reading →

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: 3 ĐIỀU KHÔNG RÕ RÀNG

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA  – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp quốc doanh đã bộc lộ những khuyết tật cơ bản của nó. Vừa xây dựng kinh tế thị trường. VN vừa phải chuyển đổi thói quen của một xã hội nhiều năm dựa vào quốc doanh sang một xã hội dựa vào đa dạng hóa sở hữu trong môi trường cạnh tranh.

Quyền tài sản không rõ ràng

Mọi yếu kém của doanh nghiệp nhà nước theo tôi đều bắt nguồn từ quan hệ quyền tài sản không rõ ràng. Thực ra, theo qui định của hiến pháp VN các doanh nghiệp này thuộc sở hữu toàn dân, vì vậy chúng ta phải được gọi là doanh nghiệp thuộc sở hữu toàn dân mới chính xác (1).

Lập luận rằng nhà nước là người đại diện cho sở hữu toàn dân, từ năm 1991 các văn bản pháp luật nước ta đồng loạt chuyển tên gọi các xí nghiệp quốc doanh thành doanh nghiệp nhà nước, hi vọng làm rõ người quản lý sở hữu toàn dân là nhà nước.

Tuy nhiên, nhà nước cũng là một phạm trù rất trừu tượng, người dân chỉ cảm nhận được nhà nước thông qua các cơ quan của nó, được đại diện bởi những công chức cụ thể và các hành vi của họ. Bởi vậy, nếu giao kết hợp đồng với doanh nghiệp nhà nước, người ta cần biết ai có thẩm quyền kiểm soát những tài sản này.

Ví dụ: một đối tác nước ngoài muốn liên doanh với doanh nghiệp nhà nước cần biết rõ những cơ quan nào có quyền quyết định liên quan đến việc góp quyền sử dụng đất làm vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh. Từ trung ương đến địa phương, có rất nhiều cơ quan có thể can thiệp vào quá trình sử dụng nguồn vốn này.

Continue reading →

THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH – MỘT NHÂN TỐ QUAN TRỌNG GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

VŨ BÁ PHÚ – Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Công thương

I. TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, thị trường Hàng không Việt Nam phát triển mạnh với tốc độ tăng trưởng bình quân lên đến trên 30% năm. Kể từ năm 2000 (trừ năm 2001 và 2003) đến nay, thị trường hàng không Việt Nam luôn đạt được mức tăng trưởng từ 10-15%. Theo Quy hoạch phát triển Giao thông Vận tải Hàng không đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 08/01/2009, chỉ tiêu tổng lượng khách luân chuyển trên thị trường Hàng không Việt Nam của các Hãng Hàng không Việt Nam được đặt ra cho năm 2010 là 15,2 triệu khách, năm 2015 là 32,5 triệu khách và đến năm 2020 sẽ là 63 triệu hành khách. Việt Nam hứa hẹn là một thị trường đầy tiềm năng. Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng nêu trên, hàng không Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức trong trung hạn và dài hạn như:

– Xu thế toàn cầu hoá các hoạt động HKDD đã hình thành và tiến triển mạnh mẽ. Xu thế này chịu sự chi phối của xu thế liên kết kinh tế – chính trị theo khu vực và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Hiện nay xu thế này đang diễn ra mạnh mẽ nhất giữa các quốc gia thuộc liên minh châu Âu (EU) và khu vực Bắc Mỹ.

– Tự do hoá và thương mại hoá các hoạt động HKDD là xu thế chủ yếu, cơ bản, xuyên suốt và không thể tránh khỏi của HKDD thế giới. Xu thế này ảnh hưởng không những trên bình diện tổng thể mà còn tác động mạnh mẽ từ chính sách vĩ mô đến chiến lược, sách lược phát triển trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực cụ thể.

– Xu thế giảm thiểu sự bảo hộ, kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ HK thông qua việc tư nhân hoá, cổ phần hoá các hãng HK, các CHK và thậm chí là toàn bộ một lĩnh vực (chẳng hạn một số nước đã thực hiện cổ phần hoá lĩnh vực quản lý, điều hành bay như: Ca-na-đa, Niu-di-lân, Thái Lan…).

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 3598/TCT-TNCN NGÀY 4 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN, NHẬN THỪA KẾ, QUÀ TẶNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Quảng Bình

Trả lời công văn số 1264/CT-TNCN ngày 27/07/2009 của Cục Thuế tỉnh Quảng Bình về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (BĐS) và thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Về áp dụng chính sách thuế đối với cá nhân chuyển quyền sử dụng đất đã nộp hồ sơ hợp lệ trước ngày 01/01/2009:

Tại điểm 1.1, Điều 4 Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản quy định: “Trường hợp cá nhân đã có hợp đồng chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật và đã nộp hồ sơ hợp lệ cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01/01/2009, nếu số thuế phải nộp tính theo Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất thấp hơn số thuế phải nộp tính theo Luật Thuế thu nhập cá nhân thì cá nhân chuyển nhượng được nộp thuế theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất. Trường hợp, số thuế phải nộp tính theo Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất cao hơn tính theo Luật Thuế thu nhập cá nhân thì được nộp thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp người nộp thuế đã nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước trước khi Thông tư này có hiệu lực, mà số thuế đã nộp cao hơn so với số thuế phải nộp, thì được cơ quan thuế xử lý thoái trả tiền thuế theo quy định”.

Căn cứ hướng dẫn nêu trên thì:

Continue reading →

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG: VẤN ĐỀ ĐIỀU TIẾT CỦA XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC QUAN HỆ LAO ĐỘNG

TSKH. PHẠM ĐỨC CHÍNH – Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Ngày nay, cả về phương diện lý thuyết, cả về phương diện thực tế đều thừa nhận rằng, phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại chỉ có thể đạt được kết quả trong điều kiện kết hợp khả năng tự điều tiết của nó với điều tiết của Nhà nước và xã hội. Dựa trên những công ước và hướng dẫn của Tổ chức lao động thế giới (International Labour Organization-ILO) vấn đề điều tiết của xã hội trên thị trường lao động đã được vận dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và kết quả đạt được cũng rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này mới được tiếp cận vào những năm gần đây và kết quả đạt được cũng chỉ là rất khiêm tốn, thậm chí đối với nhiều cơ quan quản lý lao động và việc làm thì lĩnh vực này vẫn được cho là hoàn toàn mới mẻ. Vì vậy, tiếp theo bài viết “Thị trường lao động: vấn đề điều tiết và tự điều tiết ở Việt Nam”1, bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu hơn nữa vào vấn đề điều tiết của xã hội trong lĩnh vực quan hệ lao động- xã hội trong giai đoạn hình thành thị trường lao động ở nền kinh tế đang chuyển đổi của Việt Nam.

I. Khái niệm về điều tiết của xã hội trong thị trường lao động

Điều tiết xã hội-đó là sự tham gia cùng nhau của các bên khác nhau vào soạn thảo và thực hiện những thoả ước lao động xã hội (các chương trình, thoả thuận) trong một thời hạn nhất định. Điều kiện cơ sở để tạo lập nền kinh tế thị trường là quan hệ giữa nhà doanh nghiệp và người lao động để đạt được giữa họ với nhau bầu không khí hòa bình xã hội, còn những mâu thuẫn xuất hiện thì được giải quyết bằng những biện pháp văn minh. Điều tiết xã hội không loại trừ khả năng đòi hỏi của người lao động về tăng lương, thay đổi chế độ làm việc và điều kiện lao động, giảm thuế v.v. Continue reading →

NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN CHÍ THIỆN – Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

1. Suy giảm kinh tế là gì?

Suy thoái kinh tế là một giai đoạn của Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh. Đó là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Vì pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh cũng có thể chỉ chia thành gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng) (1)

clip_image001

 

Nguồn: Wikipedia, 2009. Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 3188/BTP-BTTP NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CHUYỂN GIAO CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH TỪ UBND XÃ SANG TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

Kính gửi: Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An

Bộ Tư pháp nhận được Công văn số 969/STP-VB Ngày 10/8/2009 của Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi của tỉnh, nêu những kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện việc chuyển giao, về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Trước hết, Bộ Tư pháp hoan nghênh Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 55/2009/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, qua đó tăng cường tính chuyên nghiệp trong việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch, bảo đảm an toàn pháp lý, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

2. Về một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Quyết định số 55/2009/QĐ-UBND mà Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An nêu tại Công văn số 969/STP-VB

a. Về việc có ý kiến cho rằng việc chuyển giao thẩm quyền nói trên không phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, không tạo thuận lợi cho dân, dân phải đi xa hơn khi chứng nhận các hợp đồng, giao dịch.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 1602/TTg-KTN NGÀY 9 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Kính gửi:

– Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (Công văn số 4128/UBND – ĐTMT ngày 13 tháng 8 năm 2009), Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Công văn số 5378/UBND – VP ngày 25 tháng 8 năm 2009), Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (Công văn số 2344/UBND – KTN ngày 14 tháng 8 năm 2009); ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Công văn số 3067/BTNMT -TCQLĐĐ ngày 24 tháng 8 năm 2009), của Bộ Tư pháp (Công văn số 3082/BTP – XDPL ngày 31 tháng 8 năm 2009) về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến như sau:

Để đáp ứng nhu cầu thực tế, bảo đảm các giao dịch dân sự – kinh tế được thực hiện thông suốt, trong khi chờ ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (theo quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội), đồng ý Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo và thực hiện việc tiếp tục cấp giấy chứng nhận: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ: số 181/2004/NĐ -CP ngày 29 tháng 10 năm 2004, số 95/2005/NĐ -CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 và số 90/2006/NĐ -CP ngày 06 tháng 9 năm 2006./.

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Hoàng Trung Hải