GIÁO DỤC ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG VIỆT NAM: KHỦNG HOẢNG VÀ ĐỐI PHÓ

THOMAS.J. VALLELY VÀ BEN WILKINSON (Đại An dịch)

Chúng tôi bắt đầu bằng việc phân tích tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và những nguyên nhân căn bản của nó.

Sau đó, chúng tôi xem xét các nhân tố chủ yếu – Chính phủ Việt Nam, người dân Việt Nam và cộng động quốc tế – đang phản ứng như thế nào trước tình hình này. 

Chúng tôi đi đến kết luận bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới về mặt thể chế như một thành tố cần thiết của một quá trình cải cách hiệu quả.

Các tác giả báo cáo

I. KHỦNG HOẢNG

Quy mô của cuộc khủng hoảng 

Rất khó để phóng đại tính chất nghiêm trọng của những thách thức đang đặt ra với Việt Nam trong giáo dục đại học – cao đẳng (ĐH – CĐ). Chúng tôi tin rằng nếu không có một sự cải cách khẩn cấp và căn bản đối với hệ thống giáo dục ĐH – CĐ, Việt Nam sẽ không đạt được đúng mức tiềm năng to lớn của mình [1].

Sự phát triển kinh tế ở Đông Á và Đông Nam Á đã cho thấy quan hệ mật thiết giữa phát triển và giáo dục ĐH – CĐ. Cho dù trong các nước và vùng lãnh thổ thịnh vượng nhất ở khu vực – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và gần đây là Trung Quốc – mỗi nơi đều đi theo những con đường phát triển độc đáo, nhưng điểm chung trong thành công của họ là sự theo đuổi nhất quán một nền khoa học và giáo dục ĐH – CĐ chất lượng cao. 

Một số nước tương đối kém thành công hơn ở Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines và Indonesia – lại là một câu chuyện mang tính cảnh báo. Những nước này nói chung đã không đạt được chất lượng cao trong khoa học và giáo dục ĐH – CĐ và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế tiến bộ. Đó không phải là một điềm tốt cho tương lai nếu các trường đại học Việt Nam tụt hậu xa so với chính những láng giềng Đông Nam Á không mấy nổi bật của họ.

Continue reading

ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN: TRÍ THỨC TRUNG QUỐC ĐANG NGHĨ GÌ?

TRẦN HỮU DŨNG*

Như Việt Nam, Trung Quốc hiện phải đương đầu với nhiều thử thách kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. Kinh nghiệm của họ đặc biệt là hữu ích vì, cũng như Việt Nam, họ là một nước “xã hội chủ nghĩa” (trên danh nghĩa) và chỉ thực sự bắt đầu cải cách khoảng ba mươi năm nay (trước Việt Nam độ 10 năm).  Đó là chưa nói đến một lý do quan tâm thiết thực nhất cho chúng ta: Trung Quốc là một quốc gia cận kề, ảnh hưởng lớn lao đến Việt Nam về văn hóa, về chính sách (và nhiều phương diện khác nữa!).  Hiển nhiên, đã có vô số văn kiện, báo cáo của nhà nước Trung Quốc về các kinh nghiệm này, và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả Tây phương về Trung Quốc, song, đối với những người muốn nhìn vấn đề từ nhiều phía thì vẫn còn một điều muốn biết: còn những trí thức Trung Quốc ngoài chính quyền, tương đối độc lập, thì họ nghĩ sao? 

Bài này giới thiệu một số nhận định và phân tích của các học giả Trung Quốc về những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường… của nước họ.  (Những ý kiến về chính trị, ngoại giao và quốc phòng sẽ được dành cho một bài khác.)  Đây là những công trình được thấy trên các ấn phẩm được phép xuất bản ở Trung Quốc, nhưng không phải là trong các văn kiện chính thức của Đảng và chính phủ nước này. Theo nhiều nhà bình luận thì tác giả của những ý kiến này có thể được xếp (một cách đại thể) thành hai “phe”: một phe là nhóm trí thức thường được gọi là Tân Tả, và phe kia là nhóm thường được mệnh danh “phóng khoáng” (đôi khi cũng được gọi là Tân Hữu).  Song, phải thêm: giữa hai phe này có những người… không thuộc phe nào.  Đó cũng là cấu trúc của bài này.[1]

IPhái Tân Tả

Nhớ lại, ngay từ những năm 1990, sau hơn một thập kỷ theo đuổi và có nhiều thành tựu đáng kể, chính sách cải cách theo hướng thị trường của Trung Quốc đã bị nhiều trí thức nước này chỉ trích. Tuy chuyên về nhiều ngành khác nhau (sử học, kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. ) và theo nhiều tiếp cận khác nhau, những trí thức này có chung một số quan tâm về đất nước họ.

Một là, họ bất bình về tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng và sự suy đồi đạo đức (theo họ) của Trung Quốc.  Dù không có ý hô hào Trung Quốc trở lại như trước thời kỳ cải cách, họ nhớ lại thời kỳ này với nhiều luyến tiếc. 

Continue reading

GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HUY PHƯỢNG – Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp là một loại giám sát có tính đặc thù trong tổng thể cơ chế giám sát đối với quyền lực nhà nước nói chung, phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước Việt Nam. Việc tăng cường vai trò của giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp sẽ góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn yêu cầu bảo vệ công lý cũng như xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của đất nước.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp

Để khắc phục sự lạm quyền trong thực thi quyền lực tư pháp cũng như những vi phạm, sai sót trong công tác tư pháp, Nhà nước ta đã thiết lập, xây dựng các cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm sát… khác nhau đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp. Bên cạnh cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm sát do các cơ quan đảng, nhà nước tiến hành, Nhà nước cũng thiết lập cơ chế giám sát xã hội đối với hoạt động của Nhà nước nói chung, trong đó có hoạt động tư pháp.

Giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp là một loại giám sát đặc thù trong tổng thể cơ chế giám sát thực thi quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội, hiệp hội, liên hiệp hội, tổ chức phi chính phủ và công dân. Ngoài những chủ thể nêu trên, phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội cũng được coi là chủ thể của giám sát xã hội trong việc theo dõi, quan sát, xem xét, đánh giá hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, cũng như việc tổ chức và thực thi quyền lực tư pháp của cán bộ, công chức các cơ quan tư pháp.

Tất cả các hoạt động của các chủ thể giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp đều góp phần quan trọng làm cho các cơ quan tư pháp, cán bộ, công chức của các cơ quan tư pháp hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm

Anabolic steroids and generics Viagra increase in muscle recovery, supporting fast and effective recovery so you can keep pushing yourself through every training session. Optimum results in terms of visual winstrol oral stanozolol 50 appearance as well, with customers raving about their ripped physiques after use of Anabolic steroids and generics Viagra. Anabolic steroids and generics Viagra is designed with both men and women in mind – supporting and providing the best results no matter what overall tone and result you are looking for.

vi, giới hạn quyền lực được giao; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và bảo đảm cho các hoạt động tư pháp thực hiện đúng pháp luật một cách khách quan, khoa học, hiệu quả, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý; giữ vững bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Continue reading

LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỐI PHIẾU, SÉC VÀ KỲ PHIẾU 1982

Ủy ban Luật Thương Mại Quốc Tế của Liên Hợp Quốc kỳ họp thứ 15, New York, ngày 26 tháng 7 đến 6 tháng 8, 1982

Chương I

PHẠM VI ỨNG DỤNG VÀ HÌNH THỨC PHƯƠNG TIỆN

Ðiều 1:

1. Quy ước này áp dụng cho hối phiếu quốc tế và kỳ phiếu quốc tế.

2. Hối phiếu quốc tế là một phương tiện:

a. Chứa đựng trong nội dung của nó những từ”Hối Phiếu Quốc Tế”;

b. Chứa đựng một lệnh vô điều kiện trong đó người ký phát chỉ thị cho người trả tiền phải trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này;

c. Phải thanh toán khi yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định;

d. Ðược đề ngày tháng năm;

e. Chỉ cho thấy rằng ít nhất hai của những địa điểm sau đây ở trong những nước khác nhau: 

i.   Ðịa điểm hối phiếu được phát hành;

ii.   Địa điểm ghi bên cạnh chữ ký của người phát;

iii.  Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người trả tiền;

iv.  Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người hưởng lợi; Continue reading