XU HƯỚNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

VÕ DUY THÁI

Trong hệ thống nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc quyền quản lý của Nhà nước, việc định giá cũng như phân công cung ứng sản phẩm, dịch vụ đều theo sự chỉ đạo của Nhà nước sự thoả thuận. Có thể nói rằng, sự độc lập của các doanh nghiệp chỉ mang tính tương đối. Hiện tượng thoả thuận không những có tồn tại mà thậm chí tồn tại ở mức cao hơn: thoả thuận dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Nhà nước.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, quá trình chuyển đổi khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã diễn ra rất chậmchạp. Bản chất của việc giảm đáng kể số lượng các DNNN chỉ là sắp xếp lại, sáp nhập, hình thành những Tổng công ty. Dù rằng trong Tổng công ty có những doanh nghiệp thành viên được mang tính độc lập, song đương nhiên những công ty này phải chịu sự chỉ đạo của Tổng công ty và được thoả thuận với nhau một cách hợp pháp. Nguy hiểm hơn, sau một thời gian dài, quá trình tách chức năng chủ quản ở các bộ quản lý ngành vẫn chưa được thực hiện. Sự thoả thuận, phối hợp giữa các đơn vị doanh nghiệp trong bộ vẫn được tiến hành công khai hoặc bán công khai dưới sự chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ quản lý ngành. Hiện tượng các đơn vị trong bộ phải có trách nhiệm cung ứng cho nhau, hoặc bộ chỉ đạo cho các công ty chỉ được phép mua sản phẩm của các công ty trong bộ, hiện tượng “khép kín kinh doanh” trong một bộ là những hiện tượng vẫn thường xuyên diễn ra công khai hoặc không công khai trong thực tiễn (mặc dù hiện nay đã giảm bớt). Tuy những hiện tượng liên kết tự nguyện hoặc không tự nguyện này đã có những ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, song về mặt pháp lý, những hành vi này hoàn toàn không trái với pháp luật cho đến khi Luật Cạnh tranh ban hành.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

VĂN THÀNH

Lời dẫn:

Để phù hợp với số lượng người tiêu dùng (NTD) ngày càng tăng cũng như tạo thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp chung là đưa ra các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng (sau đây gọi tắt là “điều kiện thương mại chung”) áp dụng cho tất cả khách hàng của mình.

Sẽ chẳng có gì để nói nếu các điều kiện thương mại này là hợp lý và đảm bảo được các quyền cơ bản của NTD theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng vậy và NTD Việt Nam vẫn có thể bị vi phạm quyền lợi thông qua các điều kiện thương mại chung này. Vậy vấn đề này thể hiện trên thực tế như thế nào? Các quy định của pháp luật hiện hành đã đủ để điều chỉnh các hành vi nói trên hay chưa? Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đưa ra một số phân tích cũng như kiến nghị đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam.

1. Sự hình thành và thực tiễn thực hiện các điều kiện thương mại chung

Trước đây khi nền kinh tế của nước ta chưa phát triển, tình trạng làm ăn manh mún, nhỏ lẻ và mỗi doanh nghiệp chỉ có một lượng khách hàng không đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa kinh tế cùng với xu thế hội nhập và phát triển đã buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải “tư duy lại” và họ đã đạt được những thành công nhất định. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, đời sống của nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, người dân từ nhu cầu “ăn no mặc ấm” dần dần chuyển sang nhu cầu “ăn ngon mặc đẹp”, các hàng hoá, dịch vụ xa xỉ cũng được NTD Việt Nam đón nhận một cách sôi động. Đã có những doanh nghiệp có số lượng NTD lên đến hàng nghìn thậm chí là hàng triệu người nhất là những doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với NTD và các doanh nghiệp lớn khác. Sự thuận tiện của các điều kiện thương mại chung là không phải bàn cãi, tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng còn nhiều việc đáng quan tâm.

Continue reading

QUYỀN CỦA NGƯỜI NHẬN THẾ CHẤP ĐỐI VỚI TÀI SẢN THẾ CHẤP

NGUYỄN HỒNG ANH

Trước khi giao kết hợp đồng thế chấp, chủ sở hữu được hưởng quyền sở hữu đối với tài sản một cách trọn vẹn theo đúng nghĩa của điều 164 Bộ Luật dân sự số 32/2005/QH11. Thế nhưng, một khi được đem thế chấp để bảo đảm thực hiện cho một hoặc nhiều nghĩa vụ của chủ sở hữu, thì quyền sở hữu tài sản, khi đó, có còn trọn vẹn? Hay hỏi một cách khác đi, đứng trước tài sản thế chấp, người nhận tài sản thế chấp có những quyền gì đối với tài sản đó? Trong khuôn khổ bài viết này, ta thử lần lượt tìm hiểu các quyền của người nhận tài sản thế chấp đối với tài sản thế chấp như sau: (1) Quyền hạn chế quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu; (2) quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

1. Quyền hạn chế quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu

a. Quyền giám sát việc quản lý và sử dụng tài sản thế chấp

Hình thức thế chấp được đặc trưng bởi việc tài sản thế chấp vẫn nằm trong tay người thế chấp, và người này có quyền quản lý, sử dụng, khai thác tài sản và hưởng lợi từ việc khai thác đó như thể là tài sản chưa bị ràng buộc bởi bất cứ nghĩa vụ nào. Tuy nhiên, luật cũng quy định, một cách dứt khoát, về thái độ cần phải có của chủ sở hữu khi quản lý, sử dụng tài sản thế chấp, rằng, không được để cho tài sản bị xuống cấp, giảm sút giá trị. Người nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp hoặc trực tiếp xem, kiểm tra tài sản thế chấp (điều 351 Bộ luật dân sự).
Trường hợp việc khai thác công dụng của tài sản thế chấp mà dẫn tới nguy cơ làm cho tài sản đó bị giảm sút giá trị, thì, người thế chấp phải ngừng việc khai thác (điều 348 Bộ luật dân sự). Trong trường hợp tài sản thế chấp đang cho thuê, cho mượn theo Khoản 5 Điều 349 Bộ luật dân sự, người nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp phải chấm dứt việc sử dụng mà không cần thông qua người thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp (điều 351 Bộ luật dân sự).

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH KHÁC LUẬT!

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Sau nửa năm được miễn giảm, từ tháng 7-2009 việc nộp thuế thu nhập của cá nhân bắt đầu được thực hiện theo Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007. Thế nhưng so với luật, văn bản dưới luật lại hướng dẫn khác.

Luật Thuế thu nhập cá nhân cho phép miễn trừ gia cảnh trước khi tính thuế thu nhập đối với cả bản thân người nộp thuế và những người phụ thuộc. Mặc dù còn nhiều ý kiến cho rằng mức khấu trừ là thấp, nhưng mức miễn trừ đã được ghi nhận trong luật và có hiệu lực. Bản thân người nộp thuế được giảm trừ 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm).

Việc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc đối với người nộp thuế là điểm mới của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Điều 19 của luật quy định rõ: Mỗi người phụ thuộc được giảm trừ 1,6 triệu đồng/tháng (19,2 triệu đồng/năm). Tuy nhiên điểm tiến bộ nhất của luật đã bị “giảm trừ” đáng kể trong Nghị định quy định chi tiết thi hành luật số 100/2008/NĐ-CP.

Theo điều 12 của nghị định này, nếu người phụ thuộc có mức thu nhập từ tất cả các nguồn như lương hưu, trợ cấp, buôn bán lặt vặt, làm ruộng… mà mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/tháng (6 triệu đồng/năm) trở lên, thì sẽ không được tính là người phụ thuộc nữa. Điều đó có nghĩa là, nếu một người thuộc diện nộp thuế kèm theo một người phụ thuộc, thì thu nhập của hai người trên 5,6 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế theo Quốc hội.

Nhưng cũng hai người ấy, chỉ có thu nhập trên 4,5 triệu đồng đã phải nộp thuế thu nhập theo hướng dẫn của Nghị định Chính phủ. Như vậy, rõ ràng là đối tượng phụ thuộc, nhưng pháp luật lại “buộc” phải là độc lập. Tính công bằng mà luật hướng tới sẽ bị giảm đi đáng kể khi những người có thu nhập thấp hơn cả mức lương tối thiểu mà lại không được tính là người phụ thuộc.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHIẾU: “ÔM” CỔ PHIẾU RỒI “XÙ”

VI TRẦN

Vì giá cổ phiếu không như kỳ vọng, bên mua từ chối “ôm” dù đã ký hợp đồng, nhận tiền cổ tức… và tòa cũng hủy luôn việc mua bán này.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa tuyên hủy việc mua bán cổ phiếu giữa ông T. với bà Th. vì cho rằng giao dịch giữa hai bên không hợp pháp. Điều đáng nói là trước đó bà Th. đã đồng ý ký hợp đồng mua cổ phiếu, đã nhận tiền lãi hằng năm từ số cổ phiếu này…

Chỉ tại cổ phiếu không tăng

Đầu năm 2007, Công ty Xuất nhập khẩu B. chia cổ phần cho nhân viên để huy động vốn mở rộng kinh doanh. Theo chủ trương chung, công ty sẽ chia cổ phần cho nhân viên của công ty theo thâm niên công tác, mức lương…, sau đó sẽ phát hành ra ngoài. Công ty dự kiến mệnh giá mỗi cổ phiếu là 100 ngàn đồng.

Phán đoán giá cổ phiếu Công ty B. sẽ tăng, ông T. đã thỏa thuận mua hơn 130 cổ phiếu của hai nhân viên công ty với giá 150 ngàn đồng/cổ phiếu. Hai bên chỉ làm thỏa thuận mua bán bằng giấy tay vì Công ty B. chưa cấp sổ cổ đông cho nhân viên.

Có giấy thỏa thuận, ông T. bèn tìm người bán để kiếm lời và bà Th. đã đồng ý mua. Thay vì ông T. trực tiếp mua bán hơn 130 cổ phiếu với bà Th. thì ông lại nhờ một người bạn đứng ra giao dịch. Thế là vào tháng 10-2007, bà Th. đã ký vào tờ hợp đồng do ông T. soạn sẵn rồi giao hơn 400 triệu đồng cho bạn của ông T. mang về.

Sáu tháng sau thời điểm ông T. bán cổ phiếu cho bà Th., Công ty B. cấp sổ cổ đông cho nhân viên. Nhận được sổ, hai nhân viên Công ty B. liền chuyển số cổ phiếu cho ông T. như thỏa thuận ban đầu. Ông T. liền yêu cầu bà Th. đưa giấy tờ để ông chuyển tên sở hữu số cổ phiếu của mình cho bà. Song song đó, ông T. cũng đã chuyển đến bà Th. hơn ba triệu đồng tiền cổ tức mà Công ty B. chia cho số cổ phiếu trên.

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: TRỔ CỬA SỔ SANG NHÀ HÀNG XÓM, BIẾT SAI NHƯNG KHÔNG DỄ BỊT!

LINH GIANG

Quy chuẩn xây dựng hiện hành không quy định việc trổ cửa.

Sáu hộ dân ngụ hẻm 47 Trần Hưng Đạo, quận 5, TP.HCM phản ánh: Hơn 50 năm nay, họ có sử dụng chung một nhánh rẽ của hẻm 47 để làm lối đi. Do nhánh rẽ là đường cùn nên các hộ đã nâng cấp, xây nhiều bồn cây, chậu kiểng làm thành một sân chung trồng nhiều cây xanh.

Tự ý trổ nhiều cửa

Lấn cấn phát sinh khi hộ 47/19 (không thuộc sáu hộ trên) xây dựng nhà ở vào tháng 5-2009. Do hông nhà này giáp ranh với nhánh rẽ, mặt tiền nhà quay ra đoạn đầu con hẻm nên trong quá trình thi công, chủ hộ là ông T. đã di dời, phá bỏ cây xanh nhằm mở cửa đi bên hông nhà. Khi bị sáu hộ phản đối, ông T. đã bít cửa hông này. Chừng khi xây lầu thì ông lại tiếp tục mở cửa bên hông trên lầu và cửa sổ nhìn trực diện vào nhà của sáu hộ. Ngoài ra, cửa thông gió phòng vệ sinh của nhà ông T. còn hướng thẳng vào nhà 47/28.

Theo một hộ dân, khi khởi công xây dựng thì ông T. có trao đổi với các hộ về việc trổ cửa sổ và cửa hông, đồng thời yêu cầu các hộ dọn dẹp cây xanh. Nhưng sáu hộ không chấp thuận cho trổ cửa. Bởi làm vậy thì hẻm sẽ bị thu hẹp và các cây xanh cũng bị phá hỏng. Nhưng viện lẽ đã được cấp phép xây dựng, ông T. vẫn cứ theo kế hoạch mà làm.

Không còn cách nào khác, sáu hộ đã khiếu nại đến UBND phường 6 và UBND quận 5. Ngày 25-5, đại diện Phòng Quản lý đô thị quận 5 đã mời hai bên đến làm việc và yêu cầu sáu hộ dân đồng ý cho ông T. trổ cửa sổ với điều kiện “cách mặt đất 2,5 m trở lên, chỉ được trổ ít cửa sổ và không mở trực diện nhìn thẳng sang nhà các hộ”. Sau đó, đại diện của Thanh tra xây dựng quận 5 có biên bản lưu ý: Theo bản vẽ kèm theo giấy phép xây dựng thì nhà 47/19 không có cửa hông lẫn cửa sổ. Nhưng để dễ đón nắng, ông T. được trổ ba cửa sổ.

Continue reading

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

THS. BÙI THANH LAM

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về Tập đoàn kinh tế được sử dụng đối với một loại hình, quy mô, lĩnh vực, địa bàn hoạt động khác nhau nhằm chỉ sự liên kết…

1. Khái quát chung về tập đoàn kinh tế

1.1. Quan điểm về tập đoàn kinh tế trên thế giới

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về Tập đoàn kinh tế được sử dụng đối với một loại hình, quy mô, lĩnh vực, địa bàn hoạt động khác nhau nhằm chỉ sự liên kết như Cartel (liên hiệp các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ để kiểm soát giá – nôm na gọi là Hội buôn)(1); Group (Nhóm doanh nghiệp); Consortium (Tổ hợp)(2); hoặc theo cấu trúc vốn, hình thức của nhóm công ty như Stock corporations (Công ty – Công ty cổ phần); General corporations (Tập đoàn công ty cổ phần); hoặc tập đoàn kinh doanh chuyên sâu như tập đoàn dầu khí, tập đoàn tài chính – ngân hàng, tập đoàn truyền thông; hoặc theo phạm vi hoạt động có thể được gọi là tập đoàn đa quốc gia nếu tập đoàn đó có cơ sở kinh doanh ở các quốc gia khác; hoặc các doanh nghiệp có thể dựa trên cơ sở liên kết kiểu gia đình như dạng Family Business (như của Ford, Cargill, Wall-mart, Motorola,… ở châu Á, các tập đoàn được gọi là Zaibatsu, Keirestu (Nhật), Chaeblols (Tập đoàn kinh tế gia đình của Hàn Quốc)… Tuy có sự khác nhau về thuật ngữ và nội dung chuyển tải, nhưng đa phần các khái niệm được chỉ đến “tập đoàn kinh tế” trên thế giới thì đều được hiểu là một cơ cấu hoặc một tổ hợp các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về vốn, quản trị, công nghệ, quản trị, thương hiệu, thị trường, phân phối lợi ích… nhưng trên cơ sở là mỗi một thực thể trong “Tập đoàn” là một thực thể pháp lý độc lập và hoàn toàn có tư cách pháp nhân riêng biệt. Mối quan hệ này chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố khác nhau nhưng trên ba nền tảng của quan hệ là:

Continue reading

CẦN CẢNH GIÁC RỦI RO PHÁP LÝ VỀ GIAO DỊCH CHO VAY TIỀN MẶT BẰNG NGOẠI TỆ

LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

Do tâm lý thực tế sợ đổi ra tiền đồng Việt Nam bị mất giá, nên trong giao dịch vay mượn lẫn nhau, một số cá nhân thường dùng ngoại tệ mặt để giao dịch. Những giao dịch như vậy nếu “trót lọt”, hai bên vay mượn giữ chữ tín với nhau thì êm, nhưng nếu xảy ra tranh chấp thì rủi ro sẽ phát sinh hậu quả “mất tiền” (đôi khi khá lớn) đối với bên cho vay.

Điển hình rủi ro pháp lý về sử dụng ngoại tệ mặt cho vay qua vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” mà bản thân người viết đã tham gia với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là thân chủ của mình. Diễn tiến của vụ tranh chấp dân sự này như sau:

Nguyên từ giữa tháng 8 năm 1997, bà S.Diễm, Việt kiều Mỹ, vì muốn giúp đỡ hỗ trợ đứa em của người bạn nối khố tên H.N qua năn nỉ thuyết phục của người bạn này, nên đã cho vay 12.000USD với lãi suất 200USD/tháng và 25 lượng vàng SJC 9999 với lãi suất qui ra tiền đồng là 2%/tháng bằng cam kết vay nợ giấy tay do bên vay viết. Do bên vay, chị H.N quá lình xình, trục trặc trong việc trả lãi và trong suốt thời gian vay chỉ trả được một phần lãi cho phần vốn vay ngoại tệ 12.000USD. Còn phần vốn vay vàng thì hầu như không được trả đồng lãi nào. Và đến ngày 10/6/2008, thì bên vay, chị H.N “tịt ngòi” luôn và bị bà S.Diễm sai cháu ruột mình đi đòi nhiều lần không được gì vì bên vay tránh mặt và khi hiếm hoi gặp được, bên vay còn ra mặt “tráo trở” nói ngang là sắp tới khi có tiền sẽ chi trả vốn từ từ, chứ không trả lãi nữa vì “sạch túi rồi”, mặc dù chị ta mới bán được căn nhà đến 600 lượng vàng SJC 9999.

Continue reading

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DÂN SỐ (NĂM 2009) CHƯA CHO BIẾT TỶ LỆ THẤT NGHIỆP

NGUYỄN VĂN SƠN

Tỷ lệ tăng dân số đáng khích lệ

Rất mừng là tỷ lệ tăng dân số bình quân trong mười năm qua (1999 – 2009) đã giảm một cách đáng kể, từ 1,7%/năm của thời kỳ 1989 – 1999 còn 1,2%/năm (dù mỗi năm dân số tăng gần một triệu người). Tỷ lệ này cho thấy sự tăng trưởng kinh tế có hiệu quả hơn vì GDP đầu người sẽ tăng cao hơn, gánh nặng xã hội sẽ nhẹ hơn.

Riêng về sự chênh lệch giới tính càng ngày càng cao thì “sự tranh đấu” của phái nam khi có vợ càng cao, phái nữ càng có “giá” hơn do khan hiếm. Nếu không có biện pháp hợp lý về kế hoạch hoá gia đình thì chắc trong vòng mười năm tới, thanh niên sẽ phải sang các nước khác để tìm vợ như Trung Quốc, Hàn Quốc… hiện nay.

Nông thôn không đô thị hoá kịp

Tiến về thành thị là một xu hướng tự nhiên của bất cứ nhân dân nào trên thế giới và chính quyền nào cũng lo “o bế” thành thị, đầu tư vào thành thị nhiều tiện nghi cho cuộc sống, sản xuất, kinh doanh, quyền lợi chính trị xã hội, từ đó lại dẫn đến tiếp tục thu hút dân từ nông thôn đến để để kiếm sống, hưởng tiện nghi, để có “tiếng nói” hơn…

Thành thị nào có tỷ lệ đô thị hoá càng cao thì tốc độ tăng trưởng dân số cũng càng cao, như Đông Nam bộ có tỷ lệ đô thị hoá đạt 57,1% thì tốc tăng dân số rất cao: TP.HCM 3,5%/năm, Bình Dương 7,3%/năm.

Sự tập trung dân số cao vào đô thị, đầu tiên sẽ dẫn đến sự “ô nhiễm do mật độ” mà chúng ta đã thấy hiện nay tại các đô thị lớn của Việt Nam như TP.HCM, TP Hà Nội, và một số đô thị loại 1, loại 2, thậm chí loại 3, trong mọi lĩnh vực: kiến trúc, giao thông, thoát nước, thải rác, giáo dục, y tế, các tệ nạn xã hội, giá cả tăng vọt, đời sống khó khăn… Nhà nước sẽ phải tiếp tục đầu tư chỉnh trang, nâng tầng cao, mở rộng đô thị, phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật – xã hội. Sự đổ xô về thành thị trong mười năm gần đây đã khiến nông thôn thiếu lao động, mặc dù giá công lao động tại nông thôn hiện nay nhiều nơi còn cao hơn giá lao động tại thành thị.

Continue reading

VĂN KIỆN NĂM 1991 CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG MỚI

(Thông qua ngày 2.12.1961, được sửa đổi tại Giơnevơ ngày 10.11.1972, 23.10.1978 và 19.3.1991)

Chương I. Các kháI niệm

Điều 1. Trong Văn kiện này:

Các khái niệm

(i) “Công ước này” dùng để chỉ Văn kiện hiện hành (năm 1991) của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới;

(ii) “Văn kiện năm 1961/1972” dùng để chỉ Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới ngày 2.12.1961, được sửa đổi theo Văn kiện ngày10.11.1972;

(iii) “Văn kiện năm 1978” dùng để chỉ Văn kiện ngày 23.10.1978 của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới

(iv) “ Nhà tạo giống ” dùng để chỉ:

– người tạo ra, hoặc phát hiện và cải tạo một giống cây,

– người thuê hoặc trả công cho những người nói trên để tạo ra, phát hiện và

cải tạo một giống cây, nếu luật pháp của các Bên ký kết liên quan quy định như vậy, hoặc

– người thừa kế hợp pháp của người nêu trên đây, tuỳ trường hợp.

(v) “Quyền của nhà tạo giống” dùng để chỉ quyền của nhà tạo giống được quy định trong Công ước này;

(vi) “Giống cây” dùng để chỉ một nhóm cây thuộc duy nhất một cấp phân loại thực vật thấp nhất, bất kể có đáp ứng đầy đủ hay không các điều kiện để công nhận quyền của nhà tạo giống, nhóm cây có thể:

Continue reading

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỔI MỚI QUY TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

PHẠM THÚY HẠNH

Ở tất cả các quốc gia theo chế độ nhà nước pháp quyền, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là tiền đề cho việc hình thành và phát triển hệ thống pháp luật.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế thị trường, việc xác lập và hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật không chỉ đưa hoạt động ban hành văn bản pháp luật vào khuôn khổ quy phạm chung mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn ở Việt Nam và phù hợp với xu hướng phát triển lập pháp quốc tế, cũng như thúc đẩy kinh tế – xã hội của Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn. Bài viết này xin đề cập đến một số khuyến nghị đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong bối cảnh Việt Nam cũng đang tiến hành cải cách lập pháp.

Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần bảo đảm thực hiện nhất quán nguyên tắc Nhà nước pháp quyền trong toàn bộ quy trình từ giai đoạn sáng kiến lập pháp, ban hành theo thẩm quyền và uỷ quyền, soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo trước khi ban hành cho đến ký ban hành, công bố, đăng công báo, kiểm tra, giám sát văn bản sau khi ban hành. Nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đã được khẳng định trong Điều 2 và Điều 12 của Hiến pháp hiện hành và nguyên tắc này phải được thể hiện trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đều tuân thủ nguyên tắc thống nhất của Nhà nước pháp quyền: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Một trong những yêu cầu cơ bản nhất của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định, điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước thấy cần phải có để phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính bắt buộc thực hiện của quy định quy phạm pháp luật, bảo đảm tính công bằng, tính nhất quán và tính ổn định của hệ thống pháp luật.

Continue reading

VĂN KIỆN HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Ký ngày 15.4.1994

Các thành viên, Với mong muốn giảm bớt những lệch lạc và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế, lưu ý tới sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí tuệ, và bảo đảm rằng các biện pháp và thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp;

Thừa nhận rằng để đạt được mục tiêu nói trên cần phải có các quy định và nguyên tắc mới liên quan đến:

a) khả năng áp dụng các nguyên tắc cơ bản của GATT 1994 và của các Thoả ước, Công ước quốc tế thích hợp về sở hữu trí tuệ;

b) việc quy định các tiêu chuẩn và nguyên tắc đầy đủ liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi và việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại;

c) việc quy định các biện pháp hữu hiệu và phù hợp nhằm thực thi các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, có tính đến sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật quốc gia;

d) việc quy định các thủ tục hữu hiệu và nhanh chóng nhằm ngăn ngừa và giải quyết đa phương các tranh chấp giữa các chính phủ; và

e) các quy định chuyển tiếp nhằm đạt được sự tham gia đầy đủ nhất vào kết quả của các cuộc đàm phán;

Thừa nhận sự cần thiết phải có một cơ cấu đa phương các nguyên tắc, quy tắc và trật tự nhằm xử  lý hoạt động thương mại quốc tế liên quan đến hàng giả;

Thừa nhận rằng các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền tư hữu;

Continue reading

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ XÂY DỰNG
CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG

Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2009.

I. Sự cần thiết phải ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai

Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật nhà ở (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006). Theo quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc 2 nhóm đối tượng sau thì được sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

– Nhóm đối tượng thứ nhất: được sở hữu nhà ở tại Việt Nam không hạn chế về số lượng, bao gồm 5 loại đối tượng:người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; người có công đóng góp với đất nước; nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước; người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định;

– Nhóm đối tượng thứ hai: được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam là: những người không thuộc đối tượng nêu tại nhóm thứ nhất mà đã về Việt Nam và được phép cư trú với thời hạn từ 06 tháng trở lên.

Như vậy, theo quy định trên thì có 06 loại đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Có thể nói rằng, Luật nhà ở đã có những quy định thông thoáng và cởi mở hơn cả về đối tượng, điều kiện, hình thức tạo lập nhà ở, cũng như số lượng nhà ở được sở hữu tại Việt Nam so với các quy định trước đây. Tuy nhiên, so với thực tế thì quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở vẫn còn nhiều hạn chế, chưa khuyến khích được nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia cống hiến, xây dựng cho đất nước, đặc biệt là đối với những người vẫn còn quốc tịch Việt Nam và cũng chưa thể chế đầy đủ chủ trương của Đảng nêu tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Continue reading

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số 12/2009/L – CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ.

I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ

1. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ:

Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản pháp luật cũng đã được ban hành kịp thời bao gồm 06 Nghị định của Chính phủ, 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 04 Thông tư cùng 04 Quyết định của các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Về cơ bản, đã kế thừa được các giá trị của các văn bản pháp luật được thể nghiệm trong thực tiễn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, gồm người sáng tạo, nhà sử dụng, công chúng hưởng thụ, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia, góp phần quan trọng kết thúc quá trình đàm phán để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Continue reading

QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

NGUYỄN HỒNG ANH

Khi một cá nhân hoặc một pháp nhân bỏ tiền hoặc tài sản để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, họ trở thành nhà đầu tư và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 (“Luật Đầu Tư”). Cũng theo Luật Đầu Tư, nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư thông qua hai hình thức: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Ở hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư thực hiện việc mua cổ phiếu, trái phiếu các giấy tờ có giá khác, đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà không tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Ngược lại, ở hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư tham gia vào việc quản lý hoạt động đầu tư. Ta tạm quy ước gọi nhà đầu tư theo hai loại hình đầu tư nêu trên là nhà đầu tư gián tiếp và nhà đầu tư trực tiếp. Các phân tích về nhà đầu tư gián tiếp và các quyền của họ, sẽ được thực hiện, tốt hơn, tại một đề tài khác và liên quan tới thị trường chứng khoán. Các quyền của nhà đầu tư trực tiếp theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO và BT cũng sẽ được phân tích riêng tại một chuyên đề khác. Trong khuôn khổ bài viết này, ta thử tìm hiểu về các quyền của nhà đầu tư trực tiếp, lần lượt theo các giai đoạn của quá trình đầu tư: chuẩn bị đầu tư (1), triển khai thực hiện dự án đầu tư (2), và kết thúc đầu tư (3).

1. Chuẩn bị đầu tư

Về nguyên tắc, Luật Đầu Tư ghi nhận nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh. Nhà đầu tư có quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này, nhà đầu tư phải tuân theo một số thủ tục nhất định. Liên quan tới việc đăng ký đầu tư hoặc thẩm định đầu tư đối với các dự án, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải thực hiện các thủ tục không giống nhau.
Đối với các dự án không có vốn đầu tư nước ngoài, có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm tỷ đồng Việt Nam đến dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh. Và nếu nhà đầu tư trong nước có dự án gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì việc thực hiện đăng ký kinh doanh trước theo quy định của Luật Doanh Nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu Tư.

Continue reading

HIỆP ƯỚC LUẬT NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

(Thông qua tại Geneva ngày 27.10.1994)

Điều 1. Thuật ngữ viết tắt

Với các mục đích của Hiệp ước này, trừ khi có tuyên bố khác một cách rõ ràng:

(i) "Cơ quan" là cơ quan được một Bên ký kết giao trách nhiệm về việc đăng ký nhãn hiệu;

(ii) "đăng ký" là đăng ký nhãn hiệu do một Cơ quan thực hiện; (iii) "đơn" là đơn đăng ký;

(iv) sự đề cập đến một "người " phải được hiểu là sự đề cập đến cả thể nhân và pháp nhân;

(v) "chủ sở hữu" là người được ghi nhận trong đăng bạ là chủ sở hữu đăng ký;

(vi) "đăng bạ nhãn hiệu" là tập hợp các dữ liệu tại một Cơ quan, bao gồm nội dung và dữ liệu liên quan đến tất cả các nhãn hiệu được đăng ký bất kể dữ liệu đó được lưu trữ trên phương tiện nào;

(vii) "Công ước Paris" là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, được ký tại Paris ngày 20 tháng 3 năm 1883, đã được sửa đổi, bổ sung;

(viii) "Bảng Phân loại Nice" là bảng phân loại theo Thỏa ước Nice về Phân loại quốc tế về Hàng hóa và Dịch vụ nhằm mục đích Đăng ký Nhãn hiệu, được ký tại Nice ngày 15 tháng 6 năm 1957, đã được sửa đổi, bổ sung;

(ix) "Bên ký kết" là bất kỳ Quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ nào là thành viên của Hiệp ước này;

(x) Sự đề cập một "tài liệu phê chuẩn" phải được hiểu là sự đề cập cả tài liệu chấp nhận và chấp thuận;

Continue reading

Ý KIẾN TRAO ĐỔI ĐỂ HOÀN THIỆN QUI ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn; nhưng lại không qui định hình thức hợp đồng vay tài sản như thế nào thì luật không qui định, mà chỉ qui định hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên.

Các vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản chiếm đa số trong các vụ án dân sự; trừ số ít vụ án “đòi nợ” có hợp đồng vay tín dụng với ngân hàng, còn phần lớn các vụ án đòi nợ được xác lập giữa các bên không có hợp đồng vay tài sản. Chứng cứ của bên cho vay chỉ là giấy mượn, giấy vay tiền, giấy xác nhận nợ…, những loại giấy này chỉ được bên vay đơn phương viết và ký xác nhận.

Với những loại chứng cứ trên, việc đòi nợ, thì nội dung vụ án rất là phức tạp, khi các bên không công nhận việc vay nợ lẫn nhau, tỷ lệ lãi suất phải trả, phần lớn các vụ án bị đơn lại không chấp nhận số tiền ghi trên giấy nợ do chính bị đơn viết và viện dẫn rằng đây là tiền chơi hụi, tiền cho vay nặng lãi. Nguyên đơn đã yêu cầu hoặc dồn ép bị đơn phải viết giấy nợ lại, nhưng lại không hủy giấy nợ cũ, nay nguyên đơn lợi dụng giấy nợ cũ để làm chứng đòi nợ bị đơn.

Từ những vụ án đòi nợ phức tạp đã qua, thiết nghĩ cần phải có hướng dẫn cụ thể dựa vào Điều 471 BLDS năm 2005 về hình thức hợp đồng vay tài sản bằng văn bản. Ví dụ như đối với hợp đồng vay tài sản có giá trị từ bao nhiêu trở lên, có thể từ 5 triệu hay 10 triệu đồng trở lên cần phải lập bằng văn bản có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân phường, xã hoặc là luật sư xác nhận làm chứng (vì địa vị của luật sư không thể làm chứng gian dối được) thì lúc đó văn bản hợp đồng vay vốn  mới có giá trị pháp lý, lúc đó người đi vay không có lý do gì  để phủ nhận việc vay của mình, người cho vay cũng không có lý do gì ép người vay hoặc lợi dụng giấy tờ vay không rõ ràng để khởi kiện đòi nợ. Có như vậy mới giúp cho tòa án xét xử về hợp đồng vay được đúng đắn và khách quan, bảo đảm sự công bằng của pháp luật đến mọi người dân.

Continue reading

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

THS. VIÊN THẾ GIANG

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững và tạo lập niềm tin đối với người tiêu dùng thì thương hiệu được coi là yếu tố đóng vai trò trung tâm trong việc giành, giữ và vươn lên trên thị trường ngày càng cạnh tranh sôi động. Các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam cũng đang có những chuyển mình nhằm nâng cao vị trí của mình trước những đối thủ cạnh tranh ngày càng mạnh. Hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu của các NHTM Việt Nam cũng đã được quan tâm thích đáng, song cũng còn nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết thấu đáo, trong đó có việc nhìn nhận những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển thương hiệu của các NHTM Việt Nam.

1. Các yếu tố kinh tế – xã hội

1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển thị trường ngân hàng

Vấn đề xây dựng, vận hành thị trường ngân hàng phát triển an toàn lành mạnh luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm nhằm tạo lập cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM hoạt động kinh doanh để tạo lập vị thế của mình trên thị trường. Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) xác định định hướng chính sách tiền tệ và tín dụng là: “…phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, áp dụng đầy đủ các thiết chế và chuẩn mức quốc tế về quản trị ngân hàng. Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước. Nâng cao chất lượng tín dụng, khả năng sinh lời, xử lý nhanh nợ đọng, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức an toàn; tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại đạt chuẩn mực quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư và doanh nghiệp tiếp cận với các sản phẩm và tiện ích ngân hàng” và “… Thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta.

Continue reading

NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÒI CHIA LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG TIỀN: BÀI HỌC TỪ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

HẢI YẾN

Thời gian gần đây, Cty cổ phần Tràng Tiền được khá nhiều báo chí nhắc đến không phải vì sản phẩm kem nổi tiếng mà vì những mâu thuẫn xung quanh sự việc người lao động đòi được trả “lương hiệu quả kinh doanh bằng 50% lợi nhuận sau thuế”. Theo các chuyên gia pháp lý, đây là sự đòi hỏi hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Trước hết, cần phân biệt giữa tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương và chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu được tính vào cuối năm bằng cách lấy tổng doanh thu cộng các khoản thu nhập khác trừ tổng chi phí sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hợp lệ và thuế TNDN phải nộp.

Vô lý

Vì vậy, nếu xác định “lương hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệ % lợi nhuận sau thuế” là xác định một khoản phải chi ngay trên cơ sở một chỉ tiêu chưa biết hoặc mới chỉ là ước tính. Bên cạnh đó, sau khi đã bù đắp các khoản chi phí, trong đó có chi phí tiền lương và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước, trong các DN, lợi nhuận sau thuế là của chủ sở hữu. Với các DNNN, đó là của Nhà nước, với các Cty cổ phần, đó là của các cổ đông – những người là chủ sở hữu của Cty. Quy định đó là hợp lý vì khi DN có lãi thì chủ sở hữu được hưởng phần lợi nhuận sau thuế, ngược lại, nếu DN kinh doanh thua lỗ, thì chủ sở hữu sẽ bị mất vốn góp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định tại Điều lệ Cty. Khoản 12, Điều 22 Luật DN năm 2005 quy định một trong những Nội dung của Điều lệ Cty là: “12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh”. Điều lệ Cty do các cổ đông thông qua, không có quy định nào bắt buộc phải lấy ý kiến của người lao động vào văn bản này.

Continue reading