BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở THỤY ĐIỂN

THS. NGUYỄN BÍCH NGỌC – Viện Khoa học BHXH

Có lẽ trên thế giới từ "thất nghiệp" không còn là xa lạ với phần lớn các quốc gia – kể cả những nước giàu có như Thụy Điển. Việc đảm bảo chi tiêu mỗi khi lâm vào cảnh thất nghiệp luôn là những thách thức đối với người lao động, tuy nhiên trên một bình diện nào đó thì các công dân Thụy điển "dễ thở" hơn rất nhiều công dân của các nước châu Âu khác vì có hệ thống phúc lợi khá "hào phóng" của chính phủ. Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của đất nước này đảm bảo những người có thu nhập trung bình vẫn có khả năng chi trả cho cuôc sống bình thường của mình trong suốt thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp và tìm kiếm công việc mới.

Phần lớn những người làm việc ở Thụy điển đều tham gia Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trong 200 ngày đầu tiên sau khi thất nghiệp, mức quyền lợi được hưởng tối đa là 80% theo mức lương trước khi thất nghiệp, nhưng không quá 680 cu-ron/ngày; 100 ngày tiếp theo (có thể được kéo dài tới 1 năm sau đó) mức hưởng trợ cấp còn 70%. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng đều được hưởng mức tối đa mà chỉ có những người có mức thu nhập thấp thì mới được nhận 80% tiền trợ cấp.

Tại Thụy điển, phần lớn tiền đảm bảo cho trợ cấp thất nghiệp lấy từ tiền thuế, nhưng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở quốc gia này được quản lý bởi những tổ chức tư nhân – chủ yếu là các nghiệp đoàn. Người lao động không nhất thiết phải là công dân Thụy điển – người lao động chỉ cần có giấy phép nhập cư và có thẻ cư trú là đủ điều kiện để tham gia Bảo hiểm thất nghiệp.

Hệ thống nghiệp đoàn ở Thuy điển hết sức linh hoạt đối với những người liên quan đến các ngành nghề khác nhau. (Ví dụ: Tổ chức nghiệp đoàn cơ khí thì dành cho những người làm việc trong ngành công nghiệp nặng, tổ chức nghiệp đoàn giáo viên – có tên là Läraförbundets Arbetstöshetskassa – dành cho những người làm công tác giảng dạy. Người lao động không nhất thiết phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo nghiệp đoàn nghề nghiệp mà có thể tham gia các quỹ bảo hiểm thất nghiệp khác, tuy nhiên có một số nghiệp đoàn giảm mức đóng cho người trong nghiệp đoàn.

Continue reading

KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ MẤT SỨC LAO ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS. MẠC VĂN TIẾN

Kinh nghiệm quốc tế

Trong Công ước 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được thông qua ngày 28/6/1952 có quy định các tiêu chuẩn tối thiểu các trợ cấp BHXH. Theo Công ước này có 9 nhánh chế độ BHXH là: chế độ chăm sóc y tế (BHYT); chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ bảo hiểm thất nghiệp; chế độ hưu (bảo hiểm tuổi già); chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ & BNN); trợ cấp gia đình; chế độ tàn tật (MSLĐ) và chế độ tử tuất.

Theo quy định, mọi nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này phải áp dụng ít nhất 3 trong 9 nhánh chế độ nêu trên và một trong 3 nhánh ít nhất phải có các chế độ hoặc bảo hiểm thất nghiệp, hoặc là bảo hiểm tuổi già, hoặc là chế độ TNLĐ & BNN, hoặc chế độ mất sức lao động (MSLĐ) (tàn tật), hoặc chế độ tuất. Nói cách khác một nước được coi là có hệ thống BHXH phải hội đủ tối thiểu 3 trong 9 nhánh chế độ nêu trên. Theo quy định này, chế độ MSLĐ được coi là một trong những nhánh chế độ thuộc diện “ưu tiên”.

Theo quy định của ILO, mất sức lao động vĩnh viễn thường là đối với những người mất từ 2/3 trở lên khả năng kiếm thu nhập.

Để được hưởng trợ cấp MSLĐ thì người bị MSLĐ phải được hội đồng giám định y khoa xác định tỷ lệ mất khả năng lao động.

Phải có thời gian đóng BHXH nhất định. Thời gian định lượng có thể chỉ là 5 năm bảo hiểm hoặc có thể là 5 năm trong đó 3 năm bảo hiểm của 5 năm cuối cùng.

Continue reading

NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TS. LÊ VĂN HƯNG -  Khoa Luật, ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

1.  Căn cứ pháp lý của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam:

Cho đến nay chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh một cách đầy đủ và tập trung về mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Có thể tìm thấy một số quy định về khái niệm tập đoàn và các quy định liên quan đến cách thức tổ chức quản lý tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ – công ty con tại một số văn bản pháp luật sau:

Luật Doanh nghiệp 2005 đề cập đến mô hình tập đoàn như là một hình  thức của nhóm công ty. Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty bao gồm: công ty mẹ – công ty con, tập đoàn kinh tế và các hình thức khác. Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc có quyền trực tiếp hay gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên HĐQT, GĐ, TGĐ hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty đó. Tuỳ thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con và bản chất mối quan hệ mà công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với công ty con với tư cách thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông. Các hợp đồng, giao dịch giữa công ty mẹ và công ty con phải thực hiện bình đẳng như giao dịch giữa những chủ thể pháp lý độc lập, ngoại trừ những chi phối mang tính chất thực hiện các quyền của công ty mẹ đối với công ty con theo quy định. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 chưa quy định cụ thể về loại hình tập đoàn.

Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp(sau đây gọi tắt là NĐ 139) quy định(đ.26):Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ – công ty con. Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định. Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty con cũng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc của pháp luật liên quan. Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty. Cụm từ "tập đoàn" có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành tên riêng của công ty mẹ khi đặt tên doanh nghiệp.

Continue reading

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH CẠNH TRANH TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM

THANH HƯƠNG (Tổng hợp)

Bài viết này sử dụng mô hình của Michael Porter (Năm lực lượng của Porter – Porter’s 5 forces) để nhìn vào thị trường ngân hàng Việt Nam và phân tích những lực lượng cạnh tranh, các xu hướng phát triển cũng như cơ hội khai thác để tạo nên lợi thế cạnh tranh phù hợp với nguồn lực của các ngân hàng.

Nguy cơ từ các ngân hàng mới

Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập. Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm. Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng ViệtNam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ.

Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2008.

Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam. Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai.

Continue reading

NHẬN THẾ CHẤP NHÀ CHUNG CƯ CHƯA ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU – MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CẦN QUAN TÂM

HỒ QUANG HUY

Xin bắt đầu bằng một vụ việc cụ thể liên quan đến việc nhận thế chấp bằng nhà chung cư hình thành trong tương lai (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở) của Ngân hàng Indovina, đó là: Ngân hàng nhận thế chấp căn hộ số 403 Lô F Chung cư KCN Tân Bình, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú. TP.Hồ Chí Minh do Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ & đầu tư Tân Bình làm chủ đầu tư. Đặc điểm của loại tài sản này là người mua chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và phải mất một khoảng thời gian rất dài để người mua nhà có được Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, song trên thực tế họ “được xem” như là đã có các quyền của chủ sở hữu nhà ở vì hợp đồng được ký kết hợp pháp.

Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp trên thực tế, vì nhận bảo đảm bằng nhà chung cư hình thành trong tương lai hiện được xem là một các thức để “bảo đảm an toàn tín dụng” cho các ngân hàng thương mại. Vậy những vấn đề pháp lý nào cần quan tâm khi thực hiện giao dịch nêu trên?

1. Pháp luật hiện hành có khái niệm “tài sản bảo đảm là nhà chung cư hình thành trong tương lai” không?

Theo chúng tôi, luật thực định không có khái niệm “tài sản bảo đảm là nhà chung cư hình thành trong tương lai”, vì theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 91 Luật Nhà ở năm 2005 thì một trong những điều kiện để xác lập các giao dịch về nhà ở, trong đó có thế chấp là cá nhân, tổ chức phải “có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật”. Quy định nêu trên cho thấy, mặc dù, quyền sở hữu nhà ở được xác lập đối với bên mua từ thời điểm chủ đầu tư bàn giao căn hộ chung cư cho bên mua[1], nhưng để được thế chấp chung cư đó thì bên mua phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở[2]. Từ giác độ thực tế (vật chất) và giác độ pháp lý thì khi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu thì căn hộ chung cư được xác định là “tài sản đã hình thành” .

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG HOẠT ĐỘNG M&A Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

QUYẾT THẮNG

Sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ trong thời gian gần đây khiến cho các quỹ đầu tư, công ty và tập đoàn lớn trên thế giới nghĩ đến việc chuyển hướng kinh doanh sang các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh, trong đó có Việt Nam. Nhiều người cho rằng làn sóng M&A sẽ diễn ra mạnh mẽ chưa từng thấy ở Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, viễn thông…

Khi nguồn lực sản xuất – kinh doanh quan trọng là đất đai thuộc về các doanh nghiệp trong nước thì M&A sẽ là con đường ngắn nhất để hút vốn nươc ngoài cũng như nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài và quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường M&A có mối quan hệ biện chứng. Việc thu hút được lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A. Ngược lại, thị trường M&A là cơ sở cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường. Do vậy, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không thể tách rời việc xây dựng, phát triển thị trường M&A.

Thị trường M&A Việt Nam chỉ sôi động và chuyên nghiệp khi các quy định liên quan đến hoạt động M&A được xây dựng rõ ràng và đầy đủ, đặc biệt là quy định về tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong từng lĩnh vực cụ thể. Việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển hoạt động M&A đặc biệt là các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước sẽ góp phần tạo một kênh thu hút đầu tư nước ngoài mới và quan trọng để thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngòai vào Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trong bối cảnh nhiều nhà đầu tư rút khỏi thị trường chứng khoán, việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) có thể gặp khó khăn, nhưng hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) đang có điều kiện tốt để phát triển.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

THS.  NGUYỄN TIẾN DŨNG

Việt Nam là nước đang phát triển, có dân số hơn 86 triệu người, đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 7 tại châu Á, hàng năm với mức tăng dân số trung bình hơn 1 triệu, là nước có nhiều lợi thế về sức lao động. Sau hơn 20 năm đổi mới, mở cửa, hội nhập và phát triển theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, do tình trạng gia tăng nhanh về dân số và lao động, dẫn đến nhu cầu việc làm luôn là vấn đề gay gắt, bức xúc đối với Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Chương trình giải quyết việc làm quốc gia hàng năm vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu việc làm của người lao động.Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, VN đang có nhiều cơ hội phát huy lợi thế về nguồn nhân lực, trao đổi hàng hoá “sức lao động”. Mặt khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay, gần 75% lao động sống ở nông thôn, trình độ chuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi năm có gần 1,7 triệu người cần việc làm mới. Chính vì vậy, xuất khẩu lao động (XKLĐ) không những là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, mà còn là một chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao động, tăng trưởng kinh tế, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện tăng trưởng và phát triển bền vững gắn liền với công bằng xã hội.

1. Tình hình quản lý người lao động VN làm việc ở nước ngoài

Hoạt động XKLĐ của nước ta đã bắt đầu từ những năm 1980 thông qua việc đưa lao động sang các nước XHCN làm việc theo các hiệp định hợp tác quốc tế về lao động. Từ năm 1991 đến nay, hoạt động này đã được chuyển dần sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.  Gần 30 năm đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, XKLĐ đã đạt được một số thành tựu nhất định. Trong giai đoạn 1991-2008, tổng số lao động đưa đi là 673.304 người, bình quân hàng năm đưa đi 37.406 người, giai đoạn 2001 – 2008 là 546.196 người, bình quân hàng năm đạt 68.275 người, đặc biệt giai đoạn 2006-2008 là 250.865 người, bình quân hàng năm là 83.622 người chiếm hơn 5% số lao động có việc làm mới.[1]

Continue reading

TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: Nhìn từ ví dụ Luật Công ty của Nhật và Luật Doanh nghiệp của Việt Nam

NGUYỄN ĐỨC LAM

Ngược với quan điểm phủ nhận hoàn toàn, bài viết nghiêng về những ý kiến cho rằng, có thể tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Để chứng minh, bài viết sẽ phân tích quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật công ty của Việt Nam và so sánh với việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật công ty của Nhật Bản.

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài là một vấn đề còn gây tranh luận thậm chí gay gắt trên thế giới[1]. Chẳng hạn, Alan Watson cho rằng, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài diễn ra từ thời cổ đại xa xưa cho đến tận ngày nay trên khắp thế giới[2]. Thế nhưng, Pierre Legrand, một trong những tác giả phủ nhận khả năng tiếp nhận pháp luật nước ngoài, đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn”[3]. Quan sát cuộc tranh luận này, một mặt, có cảm giác những tác giả như Legrand có phần đúng, nếu nhìn vào thực tế nhiều nước. Ví dụ, vào thập niên 1960, Mỹ đã thất bại trong việc “xuất khẩu” các tư tưởng pháp lý vào các nước Nam Mỹ, châu Phi; hoặc các nước XHCN cũ vay mượn các khái niệm, chế định của Liên Xô; hay cũng chính những nước này khi “nhập khẩu” pháp luật phương Tây gần đây. Còn ở Việt Nam, việc sao chép pháp luật Liên Xô thời mệnh lệnh hành chính và pháp luật phương Tây những năm vừa qua, như Luật phá sản cũ, là những ví dụ. Trong những trường hợp này, người ta bê nguyên xi từ ngữ pháp lý xa lạ áp vào bối cảnh nội địa. Kết quả là đạo luật hoặc định chế pháp lý mới được du nhập chết yểu, không điều chỉnh được những quan hệ pháp lý ngoài đời. Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu hay nhắc đến Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản, đặc biệt là Nhật Bản như những ví dụ điển hình cho việc tiếp nhận thành công pháp luật nước ngoài.

Continue reading

TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: NHÌN TỪ VÍ DỤ LUẬT CÔNG TY CỦA NHẬT VÀ LUẬT DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN ĐỨC LAM

Ngược với quan điểm phủ nhận hoàn toàn, bài viết nghiêng về những ý kiến cho rằng, có thể tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Để chứng minh, bài viết sẽ phân tích quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật công ty của Việt Nam và so sánh với việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật công ty của Nhật Bản.

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài là một vấn đề còn gây tranh luận thậm chí gay gắt trên thế giới[1]. Chẳng hạn, Alan Watson cho rằng, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài diễn ra từ thời cổ đại xa xưa cho đến tận ngày nay trên khắp thế giới[2]. Thế nhưng, Pierre Legrand, một trong những tác giả phủ nhận khả năng tiếp nhận pháp luật nước ngoài, đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn”[3]. Quan sát cuộc tranh luận này, một mặt, có cảm giác những tác giả như Legrand có phần đúng, nếu nhìn vào thực tế nhiều nước. Ví dụ, vào thập niên 1960, Mỹ đã thất bại trong việc “xuất khẩu” các tư tưởng pháp lý vào các nước Nam Mỹ, châu Phi; hoặc các nước XHCN cũ vay mượn các khái niệm, chế định của Liên Xô; hay cũng chính những nước này khi “nhập khẩu” pháp luật phương Tây gần đây. Còn ở Việt Nam, việc sao chép pháp luật Liên Xô thời mệnh lệnh hành chính và pháp luật phương Tây những năm vừa qua, như Luật phá sản cũ, là những ví dụ. Trong những trường hợp này, người ta bê nguyên xi từ ngữ pháp lý xa lạ áp vào bối cảnh nội địa. Kết quả là đạo luật hoặc định chế pháp lý mới được du nhập chết yểu, không điều chỉnh được những quan hệ pháp lý ngoài đời. Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu hay nhắc đến Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản, đặc biệt là Nhật Bản như những ví dụ điển hình cho việc tiếp nhận thành công pháp luật nước ngoài.

Continue reading

PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN – TIẾP CẬN TỪ GÓP ĐỘ PHÁP LUẬT TÀI SẢN

NGUYỄN HỒNG ANH

Trong xã hội hiện đại, phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là “Phần Vốn Góp”) là tài sản có giá trị lớn trong sản nghiệp của chủ sở hữu. Không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình[i], cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tuệ, Phần Vốn Góp là kết qủa của sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty. Phần Vốn Góp và tài sản góp vốn vào công ty là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau.

Phần Vốn Góp là tài sản thuộc sản nghiệp của nguời góp vốn. Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp của công ty nhận tài sản góp vốn. Thế nhưng, không phải lúc nào người ta cũng phân biệt được sự khác nhau này. Bài viết này chỉ nhằm cung cấp một cách hiểu đúng về Phần Vốn Góp.

1. Sự hình thành Phần Vốn Góp

Góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân. Là việc một người, thông qua hợp đồng góp vốn, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công ty có tư cách pháp nhân và đổi lại, họ trở thành chủ sở hữu đối với Phần Vốn Góp của công ty đó.

1.1. Tài sản góp vốn. Tiền hoặc hiện vật. Hiện vật theo nghĩa rộng nhất, là tài sản hữu hình hoặc vô hình mà không phải là tiền, có thể kể ra đây: vàng, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại (biển hiệu, tên thương mại, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá..).

1.2. Định giá tài sản góp vốn. Luật quyết định rằng những tài sản mà không phải là tiền (Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi) và vàng[ii] thì phải được định giá (Điều 23 Luật Doanh Nghiệp số 13 ngày 12 tháng 6 năm 1999 (sau đây gọi là “Luật Doanh Nghiệp“).

Continue reading

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

PHÙNG KHẮC LỘC – Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm VN

Tóm tắt. Việt Nam gia nhập WTO, trong đó có việc thực hiện cam kết trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Điều đáng lo ngại là việc mở cửa hội nhập thị trưởng bảo hiểm và tự do hóa thương mại dịch vụ bảo hiểm theo chuẩn mực quốc tế có gây biến động cho thị trường bảo hiểm VN, có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm hay không, nhất là bảo hiểm là một trong những dịch vụ tài chính nhạy cảm cao. Bài viết này sẽ góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên.

I . Những nội dung chủ yếu cam kết WTO trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

1. Các cam kết chung đối với các DNBH đang hoạt động ở nước ngoài: được phép thành lập văn phòng đại diện tại VN; nếu đáp ứng đủ các điều kiện được phép thành lập DNBH 100% vốn nước ngoài tại VN; được phép thành lập công ty liên doanh kinh doanh bảo hiểm; được phép mua cổ phần trong các DN VN không vượt quá tỉ lệ vốn điều lệ của DN đó theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; và các DN có vốn đầu tư nước ngoài được phép thuê đất theo dự án đầu tư của mình.

2. Các cam kết riêng trong lĩnh vực hoạt động KDBH

DNBH hoạt động ở nước ngoài được cung cấp dịch vụ BH vào VN đối với: dịch vụ BH cung cấp cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại VN; dịch vụ tái bảo hiểm; dịch vụ vận tải quốc tế, bao gồm vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không thương mại quốc tế (cả phương tiện, hàng hóa vận chuyển và bất kì trách nhiệm nào phát sinh từ đó) và hàng hóa vận chuyển quá cảnh quốc tế; dịch vụ môi giới BH và môi giới tái bảo hiểm; dịch vụ tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường.

DNBH có vốn nước ngoài đang hoạt động tại VN: kể từ ngày 1/1/2008 các DNBH 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép kinh doanh các dịch vụ BH bắt buộc.

Continue reading

NHỮNG HỆ LỤY TỪ VIỆC CHI TIẾT HÓA

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Chính sự chi tiết hóa cao độ trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, được đánh giá là tiến bộ khi sử dụng vào mục đích nghiên cứu, lại đang gây những khó khăn cho cả cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (ĐKKD) lẫn các chủ doanh nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23-1-2007 (QĐ10) về hệ thống ngành kinh tế quốc dân (KTQD). Hệ thống ngành KTQD được sử dụng vào rất nhiều mục đích như nghiên cứu, tổng hợp, xác định các chỉ tiêu kinh tế – xã hội một cách chi tiết phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ…

Do đó, mức độ chi tiết khá cao của hệ thống ngành KTQD, được ban hành theo QĐ10, được một số ý kiến đánh giá là khá tiến bộ. 21 ngành cấp 1 đã được chi tiết hóa thành 642 ngành cấp 5. Song, khi hệ thống này được sử dụng để xác định ngành nghề kinh doanh khi cấp giấy chứng nhận ĐKKD, bao gồm cả đăng ký lần đầu và đăng ký thay đổi, thì chính sự chi tiết hóa cao độ, được coi là tiến bộ lại phát sinh những hệ lụy, gây những khó khăn không đáng có cho cả người cấp giấy lẫn các chủ doanh nghiệp.

Thứ nhất, trong giai đoạn hiện nay, kinh doanh đa ngành là xu hướng phổ biến của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc đăng ký ngành nghề kinh doanh theo mã ngành cấp 5 đã dẫn đến danh mục ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận ĐKKD thường rất dài.

Nếu đăng ký theo mã ngành cấp 1, một doanh nghiệp kinh doanh ba ngành, nghề chỉ cần 3-5 dòng, nhưng đăng ký theo mã ngành cấp 5 thì danh mục này ít nhất phải dài tới 30 dòng. Trong thực tế, những doanh nghiệp có danh mục ngành nghề kinh doanh dài tới 50 dòng là không hiếm. Điều đó, chắc chắn làm phát sinh thêm khá nhiều công sức, giấy, mực và góp phần gia tăng sự quá tải của các phòng ĐKKD tại các thành phố lớn.

Continue reading

TRANH CHẤP DÂN SỰ VỀ GIA SÚC BỊ THẤT LẠC: RỐI RẮM CHUYỆN CON BÒ ĐI LẠC

HỒ SỸ

Chủ bò muốn bắt đền người đã xẻ thịt con bò nhưng xã chỉ huyện, huyện lại đổ xã.

Con bò “bất hạnh” trên thuộc sở hữu của ông Phan Văn Hạnh, ngụ xã Tân Thuận (Hàm Thuận Nam, Bình Thuận). Sau khi vay tiền ngân hàng, ông Hạnh đã dùng 18 triệu đồng mua một con bò đực để cày đất và chở nông sản. Tối 5-2-2008 (nhằm ngày 29 Tết Mậu Tý), con bò thường ngày được cột trong vườn nhà ông Hạnh bị tuột dây, đi lạc.

Còn sống hay đã chết?

Ngày 20-6-2008, sau bốn tháng trời ròng rã truy tìm, ông Hạnh mới hay tin con bò của mình đã được ông C. (thôn Lập Phước, xã Tân Lập) bắt được và nuôi giữ. Ông C. cũng thừa nhận việc này nhưng lại cho rằng “đó là chuyện của quá khứ” vì vào đầu tháng 6 thì con bò đã chết và ông đã đem ra xẻ thịt.

Không dễ dàng cho qua việc này, ông Hạnh đã nộp đơn yêu cầu UBND xã Tân Lập xử lý. Gần ba tháng sau đó, xã mời ông Hạnh đến làm việc nhưng không phải về vụ đòi bò mà là vụ con bò của ông đã gây thiệt hại cho ông C. và một người khác cùng thôn vào đêm bị lạc. Theo biên bản do thôn lập ngày 6-2-2008 thì con bò của ông Hạnh đã ăn gần 1.500 trái và bông thanh long, đạp rách 12 tấm bạt để phủ đất và đạp bể 200 viên gạch. Theo đó, xã yêu cầu ông Hạnh phải bồi thường 6,4 triệu đồng.

Tuy nhiên, theo ông Lê Trọng Tâm, nguyên thôn phó thôn Lập Phước, biên bản trên được lập không có căn cứ. “Chỉ trong một đêm thì con bò không thể nào quậy phá tanh bành như thế! Nhưng thôn trưởng chỉ đạo tôi cứ lập biên bản để bắt chủ bò bồi thường nhằm lấy tiền làm quỹ thôn” – ông Tâm nói. Ông Tâm còn khẳng định: “Trong thời gian ở nhà ông C. thì con bò không chết và không hề bị xẻ thịt. Chính xác là ông C. đã bán bò cho một người ở thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân. Tôi đã thu âm được lời của hai người bàn việc mua, bán bò và tôi sẵn sàng đứng ra làm chứng việc này”.

Continue reading

HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP

NGUYỄN HỒNG ANH

Phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (“Phần Vốn Góp”) là các tài sản vô hình có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng làm phát sinh không những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau mà còn liên quan tới công ty phát hành Phần Vốn Góp (“Công Ty”). Ta thử lần lượt tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp đối với các bên giao kết và đối với Công Ty cũng như đối với người thứ ba.

1. Đối với các bên giao kết hợp đồng

Phần Vốn Góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể, xác định nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản. Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 442 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu Tư…

Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản (Phần Vốn Góp) được đặc trưng bởi việc bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp cho bên nhận chuyển nhượng. Đổi lại, bên nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 442 khoản 1 Bộ luật dân sự).

Ta thừa nhận rằng, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng. Thế nhưng chỉ có chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng? Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành đối với vật mua bán cho người mua.

Continue reading

VỆ SINH AN TOÀN THỰC THẨM: KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI

TỐ LOAN

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) không chỉ là vấn nạn của Việt Nam, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng phải đối phó với thực trạng này. Tại Mỹ, theo thống kê, mỗi năm có gần 76 triệu người bị ngộ độc thực phẩm, khoảng 325.000 người phải nhập viện và 5.000 người tử vong có liên quan đến thực phẩm; tại Nhật Bản và Australia cũng không phải là ít; còn cộng đồng châu âu từng choáng váng vì bệnh bò điên, dioxin trong sữa… Tuy nhiên, cách họ quản lý và ngăn chặn vi phạm thì khác chúng ta rất nhiều.

Thực hiện nghiêm túc “từ đồng ruộng tới bàn ăn”

Giống như Việt Nam, các nước luôn đặt vấn đề tuyên truyền, giáo dục về VSATTP lên hàng đầu, tuy nhiên, họ thực hiện thường xuyên, liên tục. ở nhiều nước châu âu, để đảm bảo VSATTP, biện pháp giáo dục được áp dụng ngay từ khi còn học trong trường phổ thông, khi lên đại học và ra ngoài cuộc sống. Còn ở ta? Năm nào ngành chức năng cũng có Tháng hành động về VSATTP với những chủ đề "rất kêu", ví dụ như "Người sản xuất kinh doanh thực phẩm có lương tâm" hay "Hãy là người tiêu dùng thông thái"…, nhưng những vụ vi phạm vẫn diễn ra thường xuyên. Ngay tại chợ Bến Thành (TP. Hồ Chí Minh), cơ quan chức năng cho phép mở chợ ẩm thực ngoài đường trong khi không có nguồn nước dẫn tới để rửa chén, không có nhà vệ sinh… Vì thế, bên cạnh việc giáo dục người tiêu dùng, nhà sản xuất, cần phải nâng cao nhận thức của cả lực lượng chức năng. Tại Singapore, khi mở quán ăn hay một xe bán thực phẩm lưu động, bạn phải học qua lớp tìm hiểu các quy định về VSATTP. Lớp này được tổ chức thường xuyên tại nhiều nơi, đến tận cấp phường. Khi đã biết mà vẫn vi phạm thì sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hàng quán của bạn cũng sẽ được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận. Cách làm này, Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng.

Continue reading

Giao dịch dân sự trong luật dân sự các nước: TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO GIAO DỊCH

CẨM VÂN

Trong chương trình xây dựng luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam sẽ được sửa đổi phần quy định về hợp đồng và quyền sở hữu. Trong phần hợp đồng, quy định liên quan đến giao dịch dân sự tại BLDS Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế lập pháp quốc tế. Việc tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật quốc tế sẽ là kinh nghiệm tốt đối với quá trình hoàn thiện pháp luật hợp đồng của Việt Nam

“Việc dân sự cốt ở hai bên”

Mặc dù có nước đòi hỏi một số các giao dịch khi giao kết phải được thể hiện bằng một hình thức nhất định, nếu vi phạm hình thức theo luật định sẽ bị vô hiệu mà đại diện tiêu biểu là CHLB Đức. Pháp luật của Đức bắt buộc khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện về hình thức, nếu không tuân thủ thì hợp đồng đó bị vô hiệu tuyệt đối. Việc quy định như vậy nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ. Tuy nhiên, rất nhiều nước không coi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của giao dịch như Pháp, Trung Quốc… Pháp luật của Pháp tuyệt đối tôn trọng quyền tự do của các bên khi tham gia vào giao dịch. Ngay cả một số loại giao dịch pháp luật yêu cầu phải tuân thủ hình thức nhất định, nhưng khi các bên tham gia giao dịch không tuân thủ các quy định về hình thức cũng không bị coi là vô hiệu. Tương tự, Trung Quốc không coi hình thức của hợp đồng là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Cụ thể, Điều 37 Luật Hợp đồng của Trung Quốc quy định: “Lập hợp đồng bằng hình thức giấy hợp đồng, nếu trước khi ký tên hoặc đóng dấu mà một bên đương sự đã thực hiện các nghĩa vụ chủ yếu, đối phương chấp thuận, thì hợp đồng đó được thành lập”.

Trong khi đó, theo Điều 134 BLDS Việt Nam, hình thức giao dịch dân sự (GDDS) là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, trường hợp các bên không tuân theo, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Đây là quy định không hợp lý bởi lẽ hình thức giao dịch thực chất chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia GDDS bằng mực đen trên giấy trắng “văn bản”. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới GDDS vô hiệu sẽ tạo nên một khoảng cách giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của giao dịch.

Continue reading

GIAO DỊCH DÂN SỰ TRONG LUẬT DÂN SỰ CÁC NƯỚC: TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO GIAO DỊCH

CẨM VÂN

Trong chương trình xây dựng luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam sẽ được sửa đổi phần quy định về hợp đồng và quyền sở hữu. Trong phần hợp đồng, quy định liên quan đến giao dịch dân sự tại BLDS Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế lập pháp quốc tế. Việc tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật quốc tế sẽ là kinh nghiệm tốt đối với quá trình hoàn thiện pháp luật hợp đồng của Việt Nam

“Việc dân sự cốt ở hai bên”

Mặc dù có nước đòi hỏi một số các giao dịch khi giao kết phải được thể hiện bằng một hình thức nhất định, nếu vi phạm hình thức theo luật định sẽ bị vô hiệu mà đại diện tiêu biểu là CHLB Đức. Pháp luật của Đức bắt buộc khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện về hình thức, nếu không tuân thủ thì hợp đồng đó bị vô hiệu tuyệt đối. Việc quy định như vậy nhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ. Tuy nhiên, rất nhiều nước không coi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của giao dịch như Pháp, Trung Quốc… Pháp luật của Pháp tuyệt đối tôn trọng quyền tự do của các bên khi tham gia vào giao dịch. Ngay cả một số loại giao dịch pháp luật yêu cầu phải tuân thủ hình thức nhất định, nhưng khi các bên tham gia giao dịch không tuân thủ các quy định về hình thức cũng không bị coi là vô hiệu. Tương tự, Trung Quốc không coi hình thức của hợp đồng là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Cụ thể, Điều 37 Luật Hợp đồng của Trung Quốc quy định: “Lập hợp đồng bằng hình thức giấy hợp đồng, nếu trước khi ký tên hoặc đóng dấu mà một bên đương sự đã thực hiện các nghĩa vụ chủ yếu, đối phương chấp thuận, thì hợp đồng đó được thành lập”.

Trong khi đó, theo Điều 134 BLDS Việt Nam, hình thức giao dịch dân sự (GDDS) là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, trường hợp các bên không tuân theo, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Đây là quy định không hợp lý bởi lẽ hình thức giao dịch thực chất chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia GDDS bằng mực đen trên giấy trắng “văn bản”. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới GDDS vô hiệu sẽ tạo nên một khoảng cách giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của giao dịch.

Continue reading

CÔNG TY MẸ CON

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Công ty mẹ con là từ ngữ của chúng ta để chỉ mối quan hệ giữa những công ty nắm vốn của nhau, thí dụ công ty A nắm một số phần trăm vốn của công ty B. Tìm lai lịch của sự xuất hiện công ty mẹ con ở các nước phát triển ta sẽ thấy nguyên do kinh tế là nền tảng. Còn ở Việt Nam thì sao?

Công ty mẹ con ở ta

Định chế công ty tư nhân của ta mới tồn tại gần 20 năm. Thoạt đầu, các công ty do các chủ gia đình nắm giữ trong bối cảnh cầu cao hơn cung của nền kinh tế. Các ông chủ mở công ty theo kiểu cần đến đâu mở đến đó. Không mẹ con lằng nhằng. Cũng có thể công ty khi ăn nên làm ra thì chỉ mở những ngành khác nhau trong nội bộ với chế độ hạch toán báo sổ. Chẳng cần mẹ con. Các công ty phát triển theo hai cách này đều gặp hai trở ngại chung và lớn là quản trị và nhân sự.

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã tồn tại trên 50 năm. Vốn của chúng do một ông chủ duy nhất nắm. Nhà nước nắm vốn thì mở công ty tùy ý. Khác với tư nhân, DNNN phải đối phó với vấn đề hiệu quả kinh doanh – một hậu quả trầm trọng hơn của quản trị và nhân sự. Để giải quyết, Nhà nước với quyền lực của mình đã thiết lập các tổng công ty 90 và 91. Bất kể đến lai lịch hình thành của mình và của thế giới ra sao, Nhà nước nói là “xây dựng các tập đoàn” để có “quả đấm mạnh”. Vì các căn bệnh bẩm sinh của nó là quản trị và nhân sự không hề được chữa nên các tổng công ty không thành công về mặt kinh doanh. Để vượt qua thất bại đó và trước áp lực hội nhập, Nhà nước bèn chuyển các tổng công ty thành công ty mẹ con.

Trước biến chuyển của DNNN, các công ty tư nhân cũng làm theo. Công ty nào có mặt ở nhiều địa phương thì sắp xếp lại thành mẹ với con; ai có nhiều ngành trong nội bộ sẽ tách ra thành con với mẹ. Ở đây có sự chuyển vốn để có thể đăng ký.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH NGƯỜI NUÔI DƯỠNG TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN

PHẠM ĐỨC THÀNH

Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề phân chia tài sản, việc giao con cho ai nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng nhất Tòa án phải quyết định. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, người bị tổn thương nhiều nhất vẫn là những đứa con, nhất là khi đang ở lứa tuổi chưa thành niên – lứa tuổi rất cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ để có thể phát triển toàn diện.

Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng.

Cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HN và GĐ) năm 2000 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong Công văn số 62/2002/KHXX, Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn: “Trước khi ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không hỏi ý kiến của con chưa thành niên là điều tra chưa đầy đủ”. Như vậy, theo quy định, trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con từ 9 tuổi trở lên có ý nghĩa bắt buộc, làm cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định giao con cho ai nuôi. Quy định này nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.

Continue reading