GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC CÓ SỐNG ĐƯỢC BẰNG LƯƠNG?

DIỆU THÙY

I. Dạy quanh năm, thu nhập “lai rai”

Không đủ tiền trang trải cuộc sống, nên có không ít giảng viên phải “bán” đi chữ tâm của nghề giáo khi tham gia vào mua bán điểm, đề thi, “ăn” phong bì khi học sinh bảo vệ đồ án tốt nghiệp… làm cho hình ảnh người thầy càng ngày càng méo mó trong con mắt của sinh viên và xã hội.

image Giảng viên cũng “chạy sô”, làm thêm

Là giảng viên đại học với học vị tiến sĩ, thâm niên 14 năm, nhưng mức lương chính của TS Trần Nam (đang dạy ở trường đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia TP.HCM)… chỉ 2,2 triệu đồng, cộng thêm các khoản thu nhập khác được khoảng 6 – 7 triệu/tháng. “Hiện một tuần tôi phải giảng khoảng ba, bốn lớp, hướng dẫn ba, năm học viên cao học và nghiên cứu sinh, thỉnh thoảng ngồi hội đồng (chấm luận văn tốt nghiệp – PV), thu nhập khoảng 90 triệu đồng/năm, tức khoảng 7 triệu đồng/tháng. Nếu vợ tôi cũng làm được chừng ấy tiền nữa thì đủ để chi tiêu hàng tháng. May mà tôi còn có nguồn thu nhập khác để mua nhà, tích luỹ…”, ông Nam tâm sự.

ThS Lê Thạc Hoa, người từng có thâm niên hơn mười năm giảng dạy môn tiếng Anh tại nhiều trường đại học, hiện đã chuyển ra làm công ty, cho biết thời… “cao điểm” đi dạy có lúc thu nhập của ông đạt mức trên 20 triệu đồng/tháng. “Hai mươi triệu. Có nghĩa là 16 tiết mỗi ngày, từ 6 – 21h. Tuần bảy ngày, không thấy mặt vợ con, nghỉ trưa một tiếng rưỡi đủ gặm bánh mì”, ông Hoa nói không chút hài hước. Ai cũng nghĩ tiếng Anh là thời thượng nhưng đó là môn học không bắt buộc sinh viên phải có mặt trên lớp, sĩ số lớp lại bị khống chế, do đó thù lao giảng dạy không quá 60.000đ/tiết. Vì ông Hoa tiết lộ từng ấy năm đi dạy đại học, ông chưa bao giờ dám nhận môn viết luận vì “nếu nhận thì còn đâu thời giờ để sửa bài cho sinh viên”. Với môn chủ nghĩa Mác – Lênin, tình hình cũng “căng thẳng” không kém. Hiệu trưởng một trường đại học tư thục ở TP.HCM đề nghị không nêu tên tiết lộ, thời bây giờ thắp đuốc kiếm giảng viên môn Mác – Lênin quá khó. Trả 150.000đ, thậm chí 200.000đ/tiết cũng không có đủ giảng viên để đứng lớp.

Continue reading

MUA BÁN, SÁP NHẬP CÔNG TY – NHIỀU KIỂU MUA BÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Mua hay bán công ty là nói về một giao dịch nhưng ở vị trí khác nhau của người mua hay người bán; còn về phía công ty – anh “pháp nhân” tội nghiệp – thì bị mua hay được bán tức là nó sáp nhập với một pháp nhân khác.

Các cách mua bán

Một công ty có thể mua một công ty khác bằng một trong ba cách là: sáp nhập, mua tài sản, hay mua cổ phần/cổ phiếu của công ty kia. Sự khác biệt chính giữa ba cách này nằm ở các vấn đề sau: (i) công ty đi mua có ôm nợ của công ty bị bán không; (ii) cổ đông của cả hai bên, hoặc một bên, có phải biểu quyết để chấp thuận việc mua bán không; (iii) cổ đông của công ty bị mua có được hưởng lợi nhờ một sự định giá cổ phiếu do tòa án ra không (vì họ cãi nhau về giá bán) và (iv) mức thuế phải đóng cho giao dịch này.

Luật lệ của các nước phát triển ngày nay có khuynh hướng buộc công ty đi mua phải gánh nợ cho công ty bị bán; dù có là bán tài sản đi nữa, nếu bên mua lấy gần hết số tài sản và tiếp tục kinh doanh sau đó. Do việc này, hai bên mua bán phải bàn bạc kỹ lưỡng về việc người mua gánh nợ của người bán và người trước phải kiểm tra làm sao để biết chắc không có các món nợ trời ơi bỗng ở đâu rơi xuống đầu mình trong tương lai vì công việc kinh doanh trước kia hay hiện nay của bên bán.

Cách mua bán đầu tiên là sáp nhập được quy định trong luật doanh nghiệp. Diễn giải ra là A một công ty lớn mua B một công ty nhỏ; B sẽ sáp nhập vào A và bị giải thể để chỉ còn A. Cổ đông của B có thể được trả tiền mặt hay được cấp cổ phiếu của A; hoăc nhận cả hai thứ kia; hoặc có cổ đông này nhận tiền, người kia nhận cổ phiếu. Cách sáp nhập này uyển chuyển trong việc trả tiền.

Continue reading

MÔ HÌNH BỘ MÁY QUỐC GIA VỀ NHÂN QUYỀN Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ SUY NGHĨ VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

TS. TƯỜNG DUY KIÊN – Học viện Chính trị – hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

1. Tiêu chuẩn quốc tế và mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ở một số nước trên thế giới

1.1. Khái niệm và các tiêu chuẩn quốc tế về cơ quan quốc gia về nhân quyền

Mặc dù, đã tồn tại các tiêu chuẩn quốc tế về vị trí của cơ quan quốc gia về nhân quyền, nhưng rất khó để đi đến một định nghĩa hay có được một cách hiểu thống nhất “cơ quan quốc gia về nhân quyền là gì?”. Trong khuôn khổ khái niệm liên quan tới các hoạt động đầu tiên của Liên hợp quốc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, hiểu cơ quan quốc gia về nhân quyền là bất kỳ một cơ quan nào, ở cấp độ quốc gia có mức độ ảnh hưởng /tác động trực tiếp hay gián tiếp đến việc thúc đẩy, và bảo vệ quyền con người. Theo đó, cơ quan lập pháp, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan trợ giúp pháp lý và các cơ quan phúc lợi xã hội, đều được xem xét, lưu ý bình đẳng so với các uỷ ban quốc gia, văn phòng cơ quan thanh tra hay các thể chế tương tự khác, vì đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ, thúc đẩy quyền con người.

Do tính chất và công thức áp dụng, cũng như cách hiểu về cơ quan nhân quyền như trên là rất rộng, nên cần thiết phải thu hẹp phạm vi, dựa trên chức năng hay mô hình phổ biến, trong đó đặc biệt nhấn mạnh cơ quan thực hiện chức năng liên quan trực tiếp tới các hoạt động giáo dục và thúc đẩy nhân quyền; tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề nhân quyền, điều tra và xem xét các khiếu nại liên quan tới vi phạm nhân quyền, do các thực thể cả công và tư gây ra. Tuy vậy, với cách hiểu theo hướng tiếp cận dựa trên chức năng để loại trừ các thể chế như cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp hay các tổ chức phúc lợi xã hội vẫn chưa thể đi đến một định nghĩa hay xác định theo cách hiểu tốt nhất cơ quan quốc gia về thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền. Chính vì thế, một Hội thảo quốc tế đầu tiên về thể chế quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền đã được triệu tập tại thủ đô Pari từ ngày 7- 9/10/1991 và đã thông qua các Nguyên tắc Pari. Các nguyên tắc này sau đó được Uỷ ban Nhân quyền thông qua theo Nghị quyết 1992/54 và được Đại hội đồng LHQ chính thức thông qua theo Nghị quyết 48/134 năm 1993.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3231 /BTP-BTTP NGÀY 10 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP TRẢ LỜI MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

Kính gửi: Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên

Trả lời Công văn số: 513 /STP-TPK ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên về việc đề nghị giải đáp một số vướng mắc trong lĩnh vực công chứng, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Việc UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 2043/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 về việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện:

Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng. Tiếp đó, Ngày 18/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, trong đó đã phân biệt, tách bạch rõ về công tác công chứng và công tác chứng thực. Theo đó, các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch, còn UBND cấp xã, cấp huyện thực hiện việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Ngày 25/8/2008, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2008/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, tại Điểm 8 của Thông tư số 03/2008/TT-BTP đã quy định rõ về việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.

Mới đây, ngày 18/6/2009 Bộ Tư pháp đã ban hành Văn bản số 1939/BTP-BTTP về một số nội dung liên quan đến công chứng gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có hướng dẫn việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Căn cứ vào quy định của các văn bản pháp luật nêu trên thì việc UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Quyết định số 2043/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 về việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện là hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật Công chứng, Thông tư số 03/2008/TT-BTP và sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp.

Continue reading

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CẦM GIỮ VÀ CẦM CỐ HÀNG HẢI 1993

Tổ chức tại Palais des Nations, Geneva, từ 19 tháng 4 đến 6 tháng 5 năm 1993

Các quốc gia tham gia hội nghị này:

– Nhận thức được sự cần thiết phải cải tiến các điều kiện đối với tài trợ tầu biển và phát triển đội tàu thương mại quốc gia,

– Mong muốn một sự thống nhất quốc tế trong lĩnh vực lưu giữ và cầm cố hàng hải, và do vậy

– Nhất trí về sự cần thiết phải có một công cụ pháp lý quốc tế điều chỉnh quyền lưu giữ và cầm cố quốc tế, đã quyết định ký kết một Công ước với mục đích trên và thống nhất như sau:

Ðiều 1 – Công nhận và thi hành việc cầm cố, thế chấp và lệ phí :

Tài sản cầm cố, thế chấp và các khoản ký quỹ đăng ký (lệ phí đăng ký) có bản chất tương tự như việc thế chấp, – lệ phí đăng ký có bản chất tương tự thế chấp dưới đây gọi là "lệ phí" – áp dụng đối với tàu biển sẽ được các quốc gia thành viên công nhận và thi hành với điều kiện rằng:

a) Tài sản cầm cố, thế chấp và "lệ phí" đã được thực hiện và đăng ký theo luật của quốc gia sở tại nơi mà con tàu được đăng ký;

b)Sổ đăng ký và những văn bản phải để lưu giữ tại cơ quan đăng ký, theo luật của quốc gia sở tại nơi con tàu được đăng ký, được công khai cho phép kiểm tra tự do; và trích lục từ sổ đăng ký, bản sao các văn bản đó có thể được cung cấp tại cơ quan đăng ký.

c) Hoặc là sổ đăng ký hoặc là bất kỳ văn bản nào nêu trong tiểu mục (b) phải cho biết cụ thể ít nhất là tài sản cầm cố, thế chấp hoặc lệ phí được thực hiện để cho ai hưởng – tên và địa chỉ của người được hưởng lợi đó hay được ký phát vô danh, trị giá tối đa được bảo đảm, nếu đó là quy định theo luật của quốc gia đăng ký hoặc nếu đó là trị giá được nêu cụ thể trong văn bản cam kết cầm cố, thế chấp hoặc lệ phí, ngày và các chi tiết khác, theo luật của nước đăng ký, xác định thứ hạng của các loại cầm cố, thế chấp và lệ phí.

Continue reading

CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỐI PHIẾU VÀ KỲ PHIẾU QUỐC TẾ (1988)

(Nghị quyết 43/165 của Ðại Hội Ðồng, phụ lục)

Chương I

PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ HÌNH THỨC CỦA PHƯƠNG TIỆN

Ðiều 1

1. Công ước này áp dụng cho hối phiếu quốc tế khi nó chứa đựng tiêu đề "Hối phiếu quốc tế (Công ước UNCITRAL) và cũng chứa đựng trong nội dung của nó những từ "Hối phiếu quốc tế (Công ước UNCITRAL)".

2. Công ước này áp dụng cho kì phiếu quốc tế khi nó chứa đựng tiêu đề "Kì phiếu quốc tế (Công ước UNCITRAL)" và cũng chứa đựng trong nội dung của nó những từ "Kì phiếu quốc tế (Công ước UNITRAL).

3. Công ước này không áp dụng đối với các loại séc.

Ðiều 2

1. Hối phiếu quốc tế là một hối phiếu qui định ít nhất hai trong số các địa điểm sau và chỉ ra rằng bất kì hai địa điểm nào được qui định như vậy nằm ở các nước khác nhau:

a. Ðịa điểm hối phiếu được kí phát;

b. Ðịa điểm ghi bên cạnh chữ kí của người kí phát;

c. Địa điểm ghi bên cạnh tên của người trả tiền;

d. Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người hưởng lợi;

e. Ðịa điểm trả tiền.

Với điều kiện là hoặc địa điểm nơi hối phiếu được kí phát hoặc địa điểm trả tiền được ghi trên hối phiếu thuộc một Quốc gia thành viên.

Continue reading